Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Giới thiệu chung về chi Bạch đàn, Bạch đàn urô và Bạch đàn Pellita Chi Bạch đàn Eucallyptus thuộc họ Sim Myrtaceae. Có hơn 700 và đang được trồng ở hơn 30 nước trên Thế giới từ vĩ độ 58 độ Bắc đến 46 độ Nam. Bạch đàn mọc tự nhiên và có nguồn gốc từ Châu Úc, chúng có thể sinh trưởng ở một phổ sinh thái rộng, như ở vùng thấp ven biển hoặc có thể ở độ cao hơn 2000m so với mực nước biển hay vùng khô cạn sa mạc hoặc bán sa mạc.
Cây bạch đàn thuộc loại cây gỗ lớn, trung bình cao 25-50m, có cây lên tới 100m, đường kính 120-180cm, vỏ ngoài màu xám trắng hoặc nâu đỏ, nâu hay xám xanh… bong mảng hoặc nứt dọc, vỏ thân, lá chứa tinh dầu Eucalyptone thơm mùi dầu tràm, lá đơn mọc đối lúc còn non, sau thành lá đơn mọc cách, không có lá kèm, lá có dáng thon dài và cong hình lưỡi liềm.Màu lá thường xanh hơi đốm trắng hoặc xanh đậm. Hoa lưỡng tính nụ hình thoi, hoa nở có màu trắng ngà vàng có rất nhiều hạt nhỏ màu nâu bên trong, quả khô, khi chín nứt ở đỉnh, hạt nhiều, rất nhỏ và có góc cạnh. Theo khoa học thì trong các phiến lá cây bạch đàn có chứa tinh dầu thành phần Eucalyptol – đây là một loại dầu gió được dùng rất phổ biến (Lê Mộng Chân và Lê Thị Huyền, 2000) [1]. Cây bạch đàn và cành mang lá, hoa 4 Cây bạch đàn là loại cây dễ trồng, phát triển nhanh trong thời gian ngắn, sau 5-10 năm là có thể khai thác.
Bạch đàn có thể sống tốt trên những nơi đất nghèo dinh dưỡng, cằn cỗi. Loài này thường được trồng tập trung thành rừng hoặc mọc hoang dại trong những khu dân cư, trồng nhiều khắp các vùng đồng bằng cho đến vùng bình nguyên và cao nguyên. Công dụng của cây bạch đàn: Bạch đàn là loài cây có thể sử dụng từ thân đến lá cây nên có rất nhiều công dụng. Đem về nhiều lợi ích kinh tế cho người dân và nền kinh tế.
Công dụng phổ biến của bạch đàn như sau: Trong xây dựng Thân gỗ thẳng đều và cứng cáp, dẻo dai nên những lứa cây bạch đàn được trồng từ 3 – 5 năm, đạt chiều dài 4 – 7m sẽ được dùng trong ngành xây dựng. Phần lớn các cây bạch đàn có chiều dài lớn được dùng làm cừ gia cố móng. Loại có chiều dài ngắn được làm cây chống, giàn giáo, gác giàn tạm,… Tại một số công trình có nền đất yếu, khô, sâu thì cây bạch đàn còn được dùng gia cố nền đất. Loại công trình phổ biến là cống hộp.
Công dụng cây bạch đàn trong đời sống Những cây bạch đàn có thân gỗ to và trồng trên 10 năm sẽ được khai thác dùng làm nguyên liệu cho các ngành sản xuất giấy, bột giấy,… Các đồ dùng nội thất như bàn, ghế, được làm từ cây bạch đàn rất phổ biến bởi giá thành loại gỗ này khá rẻ. Những thân cây lớn được xẻ ra làm ván lát sàn, vách ngăn rất tiện lợi trong thiết kế kiến trúc. Đây là loại gỗ thay thế các loại gỗ quý hiếm khác, giúp ngăn tình trạng phá rừng. Trong y học Tinh dầu trong lá của cây bạch đàn có dược tính cao giúp điều trị các bệnh: Ho, chữa ghẻ, phòng chống bệnh tiểu đường, viêm tai… Lượng tinh dầu này còn được dùng trong các mỹ phẩm dành cho phái đẹp.
Hiện nay, bạch đàn là một trong những loài cây gỗ lâm nghiệp rất quan trọng, đây không chỉ là loài cây có khả năng sinh trưởng nhanh mà còn cho 5 năng suất cao, là nguồn nguyên liệu cho nhiều ngành công nghiệp chế biến gỗ. Vì vậy, bạch đàn được trồng phổ biến ở nhiều quốc gia trên Thế giới như Trung Quốc, Ấn Độ, Braxin… và Việt Nam với diện tích trồng tương đối lớn. Phân bố tự nhiên của Bạch đàn urô (Eldridge et al, 1993) [29] Bạch đàn urô (Eucalyptus urophylla ST. Blake) có phân bố tự nhiên tại các quần đảo thuộc Indonesia và Đông Timor, phân bố từ 7030’ đến 100 vĩ độ Nam và 122 – 1270 kinh độ Đông (hình 1.2), tập trung ở các dốc núi và trong các thung lũng trên các loại đất bazan, diệp thạch (schits) và phiến thạch, đôi khi mọc ở núi đá vôi.
Bạch đàn urô có phân bố ở độ cao 300 – 2.960 m so với mực nước biển (chủ yếu ở độ cao 1.000 m), lượng mưa trung bình hàng năm 600 – 2.200 mm với 2 – 8 tháng khô, nhiệt độ trung bình tối cao 290C, nhiệt độ trung bình tối thấp 8 –120C. Các đảo chính có Bạch đàn urô phân bố tự nhiên là Flores (Egon và Lewotobi), Adona, Pantar, Wetar và Timor. Nơi nguyên sản Bạch đàn urô có thể cao 25 – 45 m, cá biệt có thể cao 55 m, đường kính có thể đạt 1 – 2 m (Turnbull & Brooker, 1978; Eldridge et al, 1993; Davidson, 1998) [43], [29], [27]. Ở những nơi thấp Bạch đàn urô có thể mọc lẫn với Bạch đàn Eucalyptus alba (Lê Đình Khả và cộng sự, 2005) [9].
Phân bố tự nhiên của Bạch đàn pellita (Harwood, 1998) [41] Bạch đàn pellita (Eucalyptus pellita F. Muell) có phân bố là vùng Irian Jaya ở Indonesia, Keru ở Papua New Guinea và Đông bắc Queensland của Australia. Bạch đàn pellita phân bố từ 7 đến 190 vĩ độ Bắc, song tập trung chủ yếu ở 14 – 150 vĩ độ Bắc (hình 1.3), tại các vùng ven biển có lượng mưa 1. Bạch đàn pellita là cây gỗ lớn, ở nơi nguyên sản có thể cao 25 – 40 m, đường kính có thể đạt trên 1 m.
Trên đất nghèo dinh dưỡng bạch đàn pellita chỉ ở dạng cây bụi không quá 10 m, còn trên các lập địa tốt có thể cao 30 m. Lá đơn mọc cách, không có lá kèm, lá thuôn đầu nhọn dài 15 – 20 cm, rộng 2,5 – 4 cm, gân nổi rõ ở mặt sau. Thân hình trụ tròn không có bạnh vè, vỏ dày sù sì nứt dọc sâu không bong mảng, hoa tự chùm, ra hoa vào tháng 3- 4, hình thành quả từ tháng 4 - 5, mùa quả chín vào tháng 2 – 3 năm sau (Harwood, 1998) [41]. 7 Bạch đàn pellita có sinh trưởng nhanh đồng thời có chất lượng gỗ rất tốt đáp ứng được nhu cầu đa dạng cho các loại gỗ chất lượng cao như đồ gỗ trong nhà, đồ gỗ ngoài trời, gỗ xây dựng và ván sàn (Bootle, 1983) [24].
Bạch đàn pellita đã được gây trồng thành công ở nhiều nước nhiệt đới như Indonesia, Malaysia và Brazil (Harwood, 1998) [41]. Các nghiên cứu về bạch đàn lai giữa bạch đàn pellita và bạch đàn urô 1. Trên Thế giới Bạch đàn pellita (Eucalyptus pellita F. Muell) có khả năng lai giống với các loài bạch đàn khác như bạch đàn brassiana (Eucalyptus brassiana), bạch đàn urô (Eucalyptus urophylla ST.
Blake) và bạch đàn trắng (Eucalyptus camaldulensis) tạo ra các giống lai có ưu thế lai rất tốt về sinh trưởng, đồng thời có tính chất gỗ tốt và có khả năng chống chịu sâu bệnh và các điều kiện hạn hán tốt (Harwood,1998) [41]. Lai giống giữa các loài bạch đàn Eucalyptus pellita, Eucalyptus degluptus và Eucalyptus urophylla đã thấy rằng sau 4 năm các tổ hợp lai E. urophylla có thể cao 18,0 – 19,9 m với đường kính 16,0 – 16,5cm, trong lúc các chỉ tiêu tương ứng của E. degluptus là 10,6m và 9,0cm; của E.
pellita 11,0 – 12,3m và 9,0 – 10,2cm; của E. urophylla là 10,0m và 8,1cm, (Glory, 1993) [33]. Tại Congo và Philippines đã triển khai chương trình lai giống đối với xuất xứ Queensland của Eucalyptus pellita. Cụ thể, Công ty PICOP của Philippines khảo nghiệm một số tổ hợp lai giữa E.
Bạch đàn lai giữa E. urophylla cũng được quan tâm tại Congo. Kết quả khảo nghiệm sau 4 năm thu được chiều cao trung bình tổ hợp lai E.urophylla đạt 20 m, gia đình tốt nhất của E.urophylla đạt 17 m, trong khi đó xuất xứ Queensland của E. pellita tốt nhất là 15m (Bouvet và Vigneron, 1995) [22].
Kết quả khảo nghiệm sau 4 năm thu được chiều cao trung bình tổ hợp lai E. urophylla đạt 20m, gia đình tốt nhất của E. urophylla đạt 8 17m, trong khi đó xuất xứ tốt nhất từ Queensland của bạch đàn pellita là 15m. Chương trình cải thiện giống cho bạch đàn pellita dựa trên phép lai thuận nghịch cũng được thực hiện và cho thấy sinh trưởng của các cá thể tốt nhất của các tổ hợp lai xa khác loài đã vượt trội các xuất xứ tốt của các loài bố mẹ (Bouvet & Vigneron, 2003; Harwood, 1998)[23], [41].
Tại Indonesia cho thấy giống lai giữa bạch đàn urô và bạch đàn grandis với bạch đàn pellita có sinh trưởng nhanh, vượt từ 20 – 25% so với các loài bố mẹ. Giống lai giữa bạch đàn urô và bạch đàn grandis với bạch đàn pellita còn được kỳ vọng có thể tăng tỷ trọng gỗ vượt hơn so với rừng trồng bạch đàn urô hay bạch đàn grandis từ 10 – 15% qua đó nâng cao sản lượng bột giấy (Mulawarman và cộng sự, 2006) [42]. Tại Việt Nam Ở Việt Nam giống lai tự nhiên được phát hiện đầu tiên là giống lai tự nhiên giữa bạch đàn trắng (Eucalyptus camaldulensis) và bạch đàn đỏ (Eucalyptusrobusta). Giống lai này được phát hiện vào cuối những năm 1960 tại các tỉnh miền Bắc có thể tích thân cây gấp 3 – 4 lần các loài cây bố mẹ (Lê Đình Khả, 2006) [10].
Nghiên cứu lai giống bạch đàn được bắt đầu ở nước ta từ những năm 1990. Nghiên cứu về lai xa khác loài cho ba loài bạch đàn urô (Eucalyptus urophylla), bạch đàn trắng (Eucalyptus camaldulensis) và bạch đàn liễu (Eucalyptus exserta) với việc tạo ra tổ hợp lai có năng suất cao 1,5 – 3 lần các giống bố mẹ tùy theo điều kiện lập địa cụ thể (Lê Đình Khả và cộng sự, 2001) [8]. Những nghiên cứu gần đây cho thấy các giống lai khác loài giữa bạch đàn urô (Eucalyptus urophylla) với bạch đàn pellita (Eucalyptus pellita) đã có ưu thế lai rất cao so với bố mẹ của chúng (Nguyễn Việt Cường và cộng sự, 2006) [2]. Do đặc tính sinh trưởng nhanh, hình dạng thân đẹp và có khả năng chống chịu sâu bệnh hại tốt nên bạch đàn pellita cũng bắt đầu được quan tâm 9 trong nghiên cứu lai giống từ năm 2000.
Trong khuôn khổ đề tài “Nghiên cứu lai tạo giống một số loài Bạch đàn, Tràm, Thông và Keo” giai đoạn 2001 – 2005, Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng (nay là Viện Nghiên cứu giống và Công nghệ sinh học Lâm nghiệp) đã tạo ra được hơn 40 tổ hợp lai giữa các loài bạch đàn urô (U), bạch đàn camal (C), bạch đàn tere (T)… với bạch đàn pellita (P), trong đó bạch đàn pellita chủ yếu dùng làm cây bố (Nguyễn Việt Cường và cộng sự, 2006) [2].