chương 1 nhằm mục đích trình bày kết quả lược khảo các tai liệu có liên quan, làm cơ sở dé rút ra cơ sở lý thuyết và phương pháp, mô hình dé ứng dụng vào dé án nghiên cứu này trong chương 2. Nội dung lược khảo bao gồm những nghiên cứu có liên quan với những điểm cơ bản về các nguồn lực sinh kế, sinh kế bền vững, sinh kế và cuộc sống sau tái định cư và sinh kế, và những mô hình nghiên cứu thu nhập. Lược khảo các nghiên cứu tại nước ngoài Nghiên cứu khung sinh kế bền vững của các quốc gia khác nhau cho thấy những thiệt hại từ tái định cư thường phát sinh nhiều nhất do đất đai bị chiếm dụng thông qua việc trưng dụng, hoặc sử dụng đặc quyền của chính phủ hay những biện pháp điều tiết khác dé thu hồi đất. Tái định cư không tự nguyện có thể gây ra những khó khăn, nghèo nàn kéo dài và ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường nếu như không lên kế hoạch và thực hiện các giải pháp phù hợp một cách cần trọng.
Người bị ảnh hưởng của dự án cần được hỗ trợ trong né lực của họ để cải thiện sinh kế và mức sống hoặc là khôi phục lại được ít nhất tương đương với mức sống trước khi đi dời hoặc với mức sống trước khi bắt đầu thực hiện dự án. Tại Nigeria, Ellis (1998) nghiên cứu mô hình sinh kế đánh giá nguồn lực con người, tài sản, tài chính, nguồn lực xã hội của người dân nông thôn và đánh giá khả năng dé đối phó với sự gia tăng tôn thất kết hợp với sản xuất nông nghiệp - đa dạng hóa, thâm canh và chuyền đổi hoặc đi chuyển ra khỏi nông nghiệp. Kết qua cho thay da dạng hóa là một chiến lược liên quan đến các nỗ lực của các cá nhân và hộ gia đình đề tìm cách thức mới để nâng cao thu nhập và giảm thiểu rủi ro về môi trường. Rõ ràng là các hộ gia đình nông thôn ở Nigeria tham gia vào nhiều hoạt động sinh kế như kinh doanh (tiếp thị hoặc tăng giá trị cho hàng hoá), các doanh nghiệp kinh doanh quy mô nhỏ (làm nghề mộc, sửa chữa radio, xe dap), chế biến hàng nông nghiệp, nghệ thuật va thủ công (dét, thảm va dan giỏ) dé bổ sung thu nhập từ nông nghiệp.
Maruyama (2003), mô tả những sự thay đổi sinh kế theo khung lý thuyết sinh kế của Frankenberger và McCaston (1998) ở Kalahari San trong quá trình chuyển đổi theo chương trình tái định cư, được thực hiện 20 năm sau khi định canh định cư của họ. Các thành viên trong và ngoài khu tái định cư di chuyển thường xuyên; hang hoá, dịch vụ trao đôi đã kích hoạt sử dụng cả những lợi ích từ tải nguyên thiên nhiên. Các mối quan hệ bổ sung giữa các gia đình tại địa điểm ở đã được thay đổi, gắn bó khang khít với nhau hơn tạo nên cộng đồng tái định cư bền vững. Cũng tai Nigeria, sử dụng khung sinh kế bền vững của DFID dé nghiên cứu sinh kế tại khu vực nông thôn, Akpabio (2005) giải thích rằng sinh kế bền vững khi nó có khả năng dé đáp ứng các nhu cầu trước mắt của người dan, và khả năng đáp ứng nhu cầu trong tương lai không bị sao lãng.
Sinh kế có thé nói một cách chính xác là bao gồm các khả năng, tài sản, các hoạt động cần thiết cho mọi phương tiện sinh hoạt, và bền vững khi nó có thé ứng phó và phục hồi từ những sức ép, những cú sốc, duy trì hoặc tăng cường năng lực, tài sản của hộ trong hiện tại và tương lai, đồng thời không làm suy thoái tài nguyên thiên nhiên. Qunying Xiao và cộng sự (2018) đã mở rộng và ứng dụng mô hình IRR (rủi ro nghèo nàn và tái thiết) để đánh giá việc tái thiết sinh kế sau tái định cư thuộc chương trình ngăn ngừa thiên tai tại quận Baihe, Trung Quốc. Các tác giả đã thiết kế và thử nghiệm mô hình định lượng mở rộng từ mô hình gốc IRR dé đánh giá chất lượng của những tiến trình tái thiết sinh kế theo 3 thành phần: Tái thiết cuộc sống, khôi phục phát triển, và tái thiết mức độ an toàn. Kết quả kiểm định cho thấy mô hình đề xuất có độ tin cậy cao, có giá trị và thích hợp để đánh giá tái thiết sinh kế trong những khu vực tái định cư phòng tránh ảnh hưởng và tác hại của thiên tai.
Kết quả ứng dụng mô hình trợ giúp những người có trách nhiệm trong chương trình tái định cư hướng vào những can thiệp chính nhằm cải thiện các dịch vụ công tại các khu tái định cư thông qua những trường hợp, yếu tố nào làm cản trở việc phát triển sinh kế bền vững. Ulrichet và cộng sự (2012), dựa trên khung nghiên cứu sinh kế DFID (2001) nghiên cứu chiến lược, mối quan hệ nhân quả của sinh kế khu vực nông thôn ở Kenya, và vốn sinh kế danh mục đầu tư, bằng cách sử dụng các chỉ số phúc lợi là phương tiện để phân tích định lượng. Nghiên cứu kết luận rằng các danh mục đầu tư sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi, các hoạt động phi nông nghiệp ôn định, linh hoạt và đa dạng sinh kế đầu người, có thể trở thành tầm quan trọng đáng kể trong chiến lược sinh kế. Testha (2020) thực hiện nghiên cứu các chiến lược sinh kế khác nhau của các hộ gia đình tại khu định cư không chính thức ở đô thị Mlalakuwa ở Dar-es-Salaam, Tanzania.
Tác giả đã sử dụng phối hợp nhiều công cụ dé thu thập dữ liệu. Trong đó các cuộc phỏng vấn bán cấu trúc với những người cung cấp thông tin chính, quan sát thực địa, phác thảo, lập bản đồ được sử dụng để thu thập dữ liệu sơ cấp thông qua khảo sát hộ gia đình. Đồng thời, các thông tin thứ cấp cũng được thu thập qua lược khảo những tài liệu hiện có. Thống kê mô tả và phân tích nội dung đã được sử dụng làm công cụ chính dé phân tích dữ liệu.
Kết quả nghiên cứu cho thấy các hộ gia đình tham gia vào nhiều hoạt động sinh kế như: nông nghiệp đô thị và chăn nuôi (như lợn, gà và bò), cũng như buôn bán những hàng hóa này ở chợ, bán tạp hóa, thức uống, điều hành các tiệm lam tóc, sửa chữa xe ô tô và xe máy, lái xe taxi và xe may, chế biến và bán thực pham, bán hàng rong trên đường phố, làm nghề mộc, han và gia công kim loại, làm gach và vật liệu via hé,. Những kế mưu sinh này là sự kết hợp cả nguồn lực tài sản hữu hình và vô hình (vốn xã hội) dé thích ứng với những cú sốc và căng thắng trong cuộc sống. Tác giả lập luận rằng nền kinh tế phi chính thức đóng một vai trò quan trọng không chỉ đối với những người có thu nhập thấp mà cá những người có thu nhập trung bình và cao hơn, khi mọi người phụ thuộc lẫn nhau trong các hoạt động sinh kế khác nhau. Tại khu vực nghiên cứu, tác g1ả cho thấy có 3 loại hình sinh kế chính đã tạo ra thu nhập: các hoạt động nông nghiệp, phi nông nghiệp, kinh tế chính thức hoặc phi chính thức.
Bài báo kết luận rằng các hộ gia đình ở khu định cư không chính thức đã tồn tại bằng cách kết hợp nhiều nguồn lực tài sản khác nhau và kiến thức bản dia của họ dé đưa ra các chiến lược, nhằm phục hồi sau những cú sốc và căng thang trong cudc song. Ai Yokoyama và cộng sự (2023) thực hiện nghiên cứu đánh giá dự án tái định cư do khí hậu gây ra ở khu vực dễ bị lũ lụt tại tỉnh đặc biệt Jakarta, Indonesia. Nghiên cứu xác định những thay đổi trong sinh kế tính dễ bị ton thương của các hộ gia đình tai định cư bằng cách sử dụng Chỉ số dé bị tồn thương về sinh kế, bao gồm bảy thành phan chính: đặc điểm nhân chủng học, chiến lược sinh kế, mạng lưới xã hội, sức khỏe, nguồn nước, tài chính và rủi ro. Số liệu thu thập từ ở năm khu căn hộ tái định cư, với 312 hộ gia đình đã tái định cư từ chín cộng đồng ban đầu.
Kết quả cho thấy mức độ phơi nhiễm, chiến lược sinh kế và các thành phần sức khỏe dé bị tôn thương đã giảm đáng ké sau khi những người được phỏng vấn chuyên đến một địa điểm ít rủi ro lũ lụt hơn, và do trợ cấp của chính quyền địa phương đến dự án tái định cư. Ngược lại, các thành phần chính khác như mạng lưới xã hội, tiếp cận nguồn nước va tai chính lại trở nên dé bị tồn thương hon do mat mát về mối quan hệ họ hàng và hoạt động kinh tế có nguồn gốc từ những cộng đồng ban đầu trước khi tái định cư. Lược khảo các nghiên cứu trong nước Đỗ Văn Xê (2008) thực hiện nghiên cứu phân tích hiệu quả kinh tế xã hội của các khu dân cư vượt lũ tại tỉnh An Giang và Thành phố Cần Thơ bằng phương pháp so sánh trước và sau khi đi dời các hộ dân bằng phương pháp DID. Kết quả cho thấy sau khi đi doi đến nơi cư ngụ mới, số lượng hộ bị mat đất canh tác, cơ hội làm việc phi nông nghiệp và tỷ lệ thất nghiệp gia tăng tại các khu định cư vượt lũ.
Bên cạnh đó, qui mô đất sở hữu của hộ, lao động nông nghiệp và thu nhập bình quân hộ giảm đáng kể. Thu nhập của hộ trong khu định cư thấp hon và suy giảm so với thu nhập của cộng đồng hiện hữu quanh khu vực định cư mới. Tuy nhiên, kết quả khảo sát cho thấy đa số các hộ nhận định là các tiện ích trong cuộc sông như hạ tầng giao thông, giáo dục, hoạt động xã hội, y tế thì tốt hơn các điều kiện tại nơi mà hộ đã sinh sống trước đây. Phạm Minh Trí (2011) nghiên cứu mô hình sinh kế dựa trên khung phân tích sinh kế bền vững DFID (2001).
Kết qua cho thấy đối với các hộ bị thu hồi đất, việc chuyền đổi tìm kiếm việc làm, chuyên đổi nghề nghiệp gặp nhiều khó khăn do các nguyên nhân khác như những giới hạn về trình độ học van, trình độ chuyên môn, về khả năng nắm bắt và chuyền đổi việc làm hay những giới hạn về định hướng cũng như sự phát triển của nơi ở mới, khiến người dân không thê thay đổi việc làm đến những nơi gần nhà mới hơn mà vẫn phải giữ công việc cũ tại nơi ở cũ. Nguyễn Quốc Nghị (2012) nghiên cứu tác động của khu công nghiệp đến sự thay đối thu nhập của cộng đồng bị thu hồi đất, dựa trên khung sinh kế DFID (2001) vào trường hợp khu công nghiệp Hòa Phú, tỉnh Vĩnh Long.