Chương 1: Cơ sở lí luận Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu thực trạng ngôn ngữ thể hiện xúc cảm – tình cảm của trẻ mẫu giáo nhỡ trong trò chơi đóng vai theo chủ đề. Chương 3: Kết quả tìm hiểu thực trạng ngôn ngữ thể hiện xúc cảm – tình cảm của trẻ mẫu giáo nhỡ trong trò chơi đóng vai theo chủ đề. 3 NỘI DUNG CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 1. Lịch sử nghiên cứu vấ đề Ở Việt Nam, vấn đề ngôn ngữ trẻ em từ 1 – 6 tuổi cũng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm: Lưu Thị Lan: “Những đặc trưng ngữ pháp trong câu nói của trẻ 1 – 3 tuổi”.
Hồ Minh Tâm: “Bước đầu tìm hiểu vốn từ trẻ em ở lứa tuổi 1 – 3 tuổi”, 1989. Nguyễn Thị Mai: “Nghiên cứu thực trạng hiểu từ của trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi, 1989. Đỗ Thị Thanh Mai: “Tìm hiểu thực trạng mức độ hiểu từ của trẻ em mẫu giáo 5 tuổi Hà Nội qua trắc nghiệm”. Nguyễn Thị Oanh: “Các biện pháp phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ mẫu giáo lớn”.
Võ Phan Thu Hương: “Biện pháp dạy trẻ 5 – 6 tuổi nói đúng ngữ pháp”. Nhìn chung, vấn đề ngôn ngữ của trẻ em được các nhà nghiên cứu quan tâm ở nhiều mặt. Song các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ ở Việt Nam chủ yếu nghiên cứu trẻ em ở lứa tuổi nhà trẻ (24 – 36 tháng), trẻ em lứa tuổi mẫu giáo bé (3 – tuổi) và trẻ em lứa tuổi mẫu giáo lớn (5 – 6 tuổi) mà ít công trình nghiên cứu ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo nhỡ (4 – 5 tuổi). Vì vậy chúng tôi lựa chọn đề tài “Thực trạng ngôn ngữ thể hiện xúc cảm – tình cảm của trẻ mẫu giáo nhỡ thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề”.
Đề tài này nhằm tìm hiểu thực trạng ngôn ngữ thể hiện xúc cảm – tình cảm của trẻ mẫu giáo nhỡ trong trò chơi đóng vai theo chủ đề tại trường Mầm non Sao Mai – Đông Anh 4 – Hà Nội, giúp các giáo viên có những biện pháp giúp trẻ biết sử dụng ngôn ngữ để thể hiện xúc cảm – tình cảm của bản thân. Một số vấ đề lí luận về ngôn ngữ và sự hình thành, phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo 1. Khái niệm ngôn ngữ Ngôn ngữ có vai trò rất quan trọng. Trước hết, nó giúp chúng ta hiểu ý nhau, từ đó mà phối hợp với nhau trong lao động sản xuất, trong sinh hoạt xã hội.
Ngôn ngữ là hình thức thể hiện tư tưởng của con người, nó gắn bó chặt chẽ với tư duy. Vậy bản chất ngôn ngữ là gì? Căn cứ vào chức năng của ngôn ngữ trong xã hội thì ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người, phương tiện thông báo và trao đổi tư tưởng, là phương tiện hình thành tư duy. Ta có thể hiểu: Ngôn ngữ là một hệ thống các kí hiệu có ý nghĩa chung đối với cả một tập hợp người và có những quy tắc (phát âm, ngữ nghĩa, ngữ pháp) thống nhất với nhau trong toàn bộ tập hợp người ấy. Là quá trình trong đó con người sử dụng một thứ tiếng (ngôn ngữ) hay một hệ thống kí hiệu nào đó để truyền đạt và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử xã hội, hoặc để thiết lập nên mối quan hệ giao lưu hoặc để kế hoạch hóa hoạt động của mình.
Khái niệm ngôn ngữ thể hiện xúc cảm – tình cảm Từ khái niệm về ngôn ngữ ta có thể hiểu khái niệm ngôn ngữ thể hiện xúc cảm – tình cảm như sau: Ngôn ngữ thể hiện xúc cảm – tình cảm là ngôn ngữ con người sử dụng để truyền đạt những rung động biểu hiện thái độ của các cá nhân đối với thế giới khách quan và đối với bản thân có liên quan đến nhu cầu và động cơ của họ. Ngôn ngữ thể hiện xúc cảm – tình cảm được thể hiện thông qua: ngữ điệu, vốn từ và tính mạch lạc của ngôn ngữ. Tìm hiểu ngôn ngữ thể hiện xúc 5 cảm – tình cảm chính là tìm hiểu tính biểu cảm của lời nói. Đối với trẻ mẫu giáo thì tính biểu cảm của lời nói thể hiện chủ yếu qua ngữ điệu của lời nói.
Chức năng của ngôn ngữ Ngôn ngữ có nhiều chức năng nhưng quan trong đó quan trọng nhất là hai chức năng: công cụ giao tiếp và công cụ tư duy. * Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp chủ yếu của con người: Giao tiếp là sự truyền đạt thông tin từ người này sang người khác với một mục đích nhất định nào đó. Khi giao tiếp người ta trao đổi tư tưởng, tình cảm, trí tuệ, hiểu biết…với nhau và tác động đến nhau về mặt nhận thức, tình cảm và hành động. Giao tiếp được thực hiện nhờ công cụ tốt nhất là ngôn ngữ.
Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp thể hiện ở chỗ giúp con người có thể lưu giữ những kinh nghiệm sản xuất để truyền từ đời này sang đời khác. Ngôn ngữ giúp trao đổi tư tưởng, tình cảm, xác lập các mối quan hệ giữa các thành viên trong cộng đồng xã hội. Thông qua sự kết nối tập thể này ngôn ngữ là một công cụ để tổ chức xã hội, duy trì mối quan hệ giữa người với người trong xã hội. * Ngôn ngữ là phương tiện tư duy của con người: Tư duy là mức độ nhận thức lí tính, nhận thức gián tiếp, khái quát.
Khả năng phản ánh thực tế dưới dạng khái niệm, phán đoán và kết luận là kết quả của quá trình suy nghĩ, tư duy. Ở mức độ nhận thức này, trí tuệ con người hình thành các khái niệm, các phán đoán về sự vật, hiện tượng và tiến hành các suy luận về chúng. Chức năng giao tiếp của ngôn ngữ gắn liền với chức năng thể hiện tư duy của ngôn ngữ. Khi giao tiếp con người phải nói với nhau một cái gì đấy (tư tưởng, tình cảm…), ngôn ngữ không phải là tổ hợp âm thanh đơn thuần mà là nơi lưu giữ kinh nghiệm của loài người.
Chức năng tư duy của ngôn 6 ngữ độc lập với chức năng giao tiếp bởi vì ngôn ngữ không phải chỉ cần đến khi chúng ta nói năng giao tiếp mà cần đến ngay cả khi chúng ta suy nghĩ thầm lặng, khi độc thoại nội tâm. Ngôn ngữ là công cụ của tư duy, là chỗ dựa để suy nghĩ và ghi lại kết quả suy nghĩ của con người. Ngôn ngữ và tư duy thống nhất với nhau. Không có ngôn ngữ thì không có tư duy và ngược lại, không có tư duy thì ngôn ngữ chỉ là vỏ âm thanh trống rỗng.
Đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi Trẻ mẫu giáo nhỡ 4 – 5 tuổi đã biết chủ động trong giao tiếp, biết đàm thoại với mọi người xung quanh. Ở độ tuổi này, ngôn ngữ đối với trẻ không chỉ là phương tiện giao tiếp mà còn là phương tiện tư duy và nhận thức. Vốn từ của trẻ mẫu giáo nhỡ phong phú và tăng nhanh, hầu hết các loại từ đã xuất hiện trong ngôn ngữ của trẻ, trẻ hiểu được nghĩa và dùng từ chính xác hơn trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo bé. Trẻ 4 tuổi có thể sử dụng được xấp xỉ 700 từ.
Giai đoạn này trẻ đã sử dụng được nhiều mẫu câu đơn giản, đúng ngữ pháp; có thể kể một số truyện ngắn một cách tuần tự, có thể kể chuyện theo tranh; đóng vai mô phỏng công việc của người lớn… Mặt âm thanh của lời nói cũng nhanh chóng phát triển. Trẻ lĩnh hội được và phát âm đúng nhiều âm vị, phát âm từ và câu rõ nét hơn; trẻ bắt đầu biết điều chỉnh tốc độ và cường độ giọng nói. Sự phát triển lời nói mạch lạc của trẻ chịu ảnh hưởng lớn của việc tích cực hóa vốn từ. Lời nói của trẻ đã được mở rộng hơn, có trật tự hơn mặc dù cấu trúc còn chưa hoàn thiện.
Một số vấ đề lí luận về xúc cảm – tình cả v đặc điểm xúc cảm – tình cảm của trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi 1. Khái niệm xúc cảm – tình cảm Khái niệm xúc cảm: Xúc cảm là một quá trình tâm lý có tính chất nhất thời, tình huống và đa dạng. Xúc cảm luôn luôn ở trạng thái hiện thực để 7 thực hiện chức năng sinh vật, tức giúp con người định hướng và thích nghi với môi trường bên ngoài với tư cách là một cá thể. Khái niệm tình cảm: Tình cảm là một thuộc tính tâm lý, mang tính chất ổn định và thường ở trạng thái tiềm tàng để thực hiện chức năng xã hội, giúp con người định hướng và thích nghi với xã hội với tư cách là một nhân cách.
Tình cảm được hình thành từ những xúc cảm cùng loại và được thể hiện qua các xúc cảm. Ngược lại, tình cảm có thể ảnh hưởng trở lại chi phối các cảm xúc của con người. Xúc cảm – tình cảm là những rung động biểu thị thái độ của cá nhân đối với thế giới khách quan và đối với bản thân, có liên quan đến nhu cầu và động cơ của họ, đồng thời nó mang tính chủ quan, độc đáo của mỗi người. Các phương tiện biểu hiện xúc cảm – tình cảm Sự biểu đạt cảm xúc – tình cảm được biểu hiện rất phức tạp, tinh tế.
Làm thế nào để nhận diện các loại xúc cảm – tình cảm của con người? Để trả lời câu hỏi này các nhà tâm lí học đã sử dụng phương pháp quan sát, tâm lí lâm sàng, dựa trên các tiêu chí sau: 1. Phản ứng hành vi Xúc cảm – tình cảm là hiện tượng tâm lí được biểu hiện qua phản ứng hành vi của con người. Phản ứng hành vi xúc cảm – tình cảm được thể hiện ở nhiều góc độ khác nhau và hết sức tinh tế, khó nhận biết nếu không có vốn sống kinh nghiệm trong giao tiếp, hợp tác, không có những hiểu biết về chúng. Những thông tin, tín hiệu trên nét mặt truyền cảm mạnh tới đối tượng giao tiếp.
Phản ứng hành vi qua vận động của đầu, cổ thường mang tính khái quát hơn. Ví dụ: Đồng ý thì gật đầu, không đồng ý thì lắc đầu. 8 Phản ứng qua vận động của tay, toàn thân, chân và các tư thế cũng tham gia vào các quá trình truyền thông tin, tín hiệu cho các đối tượng giao tiếp để nhận biết thái độ của cá nhân tại thời điểm tiếp xúc. Hành vi ngôn ngữ Hành vi ngôn ngữ khá phức tạp, không chỉ biểu lộ các loại XC – TC cơ bản của con người, nó cũng phản ánh các sắc thái của từng loại XC – TC.