chương 1 chúng tôi đã điểm qua hai nội dung cơ bản là cuộc đời Bích Khê và sự nghiệp sáng tác của ông, trong đó chú trọng đến việc giới thiệu những sáng tác của Bích Khê cùng với những yếu tố tượng trưng nổi trội trong thơ ông. Việc làm này nhằm cung cấp các kiến thức cơ bản về quá trình sáng tác của Bích Khê để thuận lợi cho việc tìm hiểu nội dung chính của đề tài là đặc điểm ngôn ngữ của nhà thơ. Đây là cơ sở lí thuyết để chúng tôi triển khai phần trọng tâm của đề tài trong những chương sau. 13 CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ THƠ BÍCH KHÊ 2.
Đặc điểm ngữ âm Nhìn từ phương diện ngữ âm tiếng Việt, ba thành tố cơ bản cầu thành nên nhạc điệu của một bài thơ là vần, nhịp điệu và thanh điệu. Khác với văn xuôi, thơ ca đòi hỏi yêu tố ngữ âm phải được tổ chức một cách có hệ thống, phải tạo được sự cộng hưởng cao độ giữa âm thanh và ý nghĩa, vì thế mà khi đề cập đến đặc điểm ngôn ngữ thơ thì đặc điểm ngữ âm được đưa lên hàng đầu. So với các nhà thơ cùng thời như Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên… Bích Khê tuy không có tuyên ngôn rõ ràng, nhưng khảo sát toàn bộ thơ ca của ông có thể thấy ông rất có ý thức cách tân thơ, ít nhất là về mặt hình thức mà cụ thể là ở phương diện ngữ âm. Trên cái nền thơ ca truyền thống, Bích Khê thêm vào đó cái tôi sáng tạo của mình từ cách hiệp vần, cách tổ chức nhịp điệu hay cách hòa phối thanh điệu để từ hình thức ngôn từ ấy, nội dung thơ Bích Khê đến gần hơn với người đọc.
Hiển nhiên, không phải câu thơ nào, bài thơ nào của Bích Khê cũng thành công về mặt ngữ âm nhưng nhìn chung, Bích Khê đã có những dấu ấn và đóng góp to lớn trong quá trình đổi mới hình thức thơ ca ở Việt Nam khi thơ ông xuất hiện cách đây đã hơn năm 70 năm. Khái niệm vần trong thơ Theo tác giả Mai Ngọc Chừ [2, tr.1], vần là sự hòa âm cộng hưởng theo những qui định ngữ âm nhất định giữa hai từ hoặc hai âm tiết ở trong hay cuối dòng thơ và thực hiện những chức năng nhất định như liên kết các dòng thơ gợi tả, nhấn mạnh sự ngừng nhịp. Xét từ hình thức thơ ca, việc liên kết giữa các dòng thơ là yếu tố cơ bản để hình thành một bài thơ. Chính sự “khắc khe” về mặt hình thức ấy đòi hỏi các 14 nhà thơ phải nắm rõ hệ thống niêm luật của thơ ca truyền thống đồng thời phải có những cánh tân độc đáo góp phần đổi mới hình thức thơ ca Việt Nam Trong Tiếng việt, vần được xác lập bởi nhiều tiêu chí khác nhau.
Xét về vị trí các tiếng hiệp vần chia ra vần chân, vần lưng. Theo mức độ hòa âm giữa các âm tiết hiệp vần có vần bằng và vần trắc. Ngoài ra, dựa vào lý thuyết độ vang của ngôn ngữ học, người ta còn có thể chia vần thành vần mở, vần khép, vần nửa mở, nửa khép. Trên nền hệ thống niêm luật thơ ca truyền thống, các nhà thơ mới đã bộc lộ cái tôi của mình bằng những cách tân độc đáo, nhiều cách hiệp vần sáng tạo đã khẳng định tên tuổi của họ và đóng góp không nhỏ trong quá trình cách tân hình thức thơ ca Việt Nam.
Cách hiệp vần trong thơ Bích Khê : Tuy không có một tuyên ngôn rõ ràng nhưng những gì Bích Khê thể hiện trong thơ mình đã phần nào cho thấy khả năng tổ chức ngữ âm trong thơ của ông hoàn toàn vượt bậc. Vần được xác lập trên cơ sở nhiều tiêu chí khác nhau nhưng khi khảo sát toàn bộ thơ Bích Khê, điểm nổi bật và đặc trưng nhất của thơ ông là việc sử dụng vần chân và vần lưng vô cùng sáng tạo và hiệu quả. Xem xét vị trí của 1550 cặp trong hai tập thơ “Tinh Huyết” và “Tinh Hoa”, kết quả thu được như sau : Bảng 2. Số lượng và tỉ lệ loại vần ( xét theo vị trí ) trong hai tập thơ Tinh huyết và Tinh hoa của Bích Khê Loại Vần Số Lượng Tỉ Lệ Vần Chân 1395 90% Vần Lưng 155 10% Số liệu thống kê ở bảng trên cho thấy Bích Khê sử dụng linh hoạt hai loại vần này trong đó vần chân chiếm ưu thế.
Vần chân trong thơ Bích Khê có 15 vai trò rất lớn trong việc tạo nên âm hưởng cho lời thơ góp phần biểu đạt cảm xúc. Lấy cách gieo vần trong bài “Chùa Ông Thu Xà” là một ví dụ: Mây trắng bay về núi Thạch chưa Chúa Ông chim hót ở ngoài mưa Ngồi trên gò mả nghe chuông vọng Sắc cỏ thơm mùi kinh sách xưa. Ở đây việc gieo vần chân là hoàn toàn hợp lí để biểu đạt cảm xúc của bài thơ có cái gì đó nhớ nhung mà không bi lụy, tha thiết mà không rời thực tế, cứ như thế mạch thơ là một chuỗi những hình ảnh cộng gộp vào nhau nhưng rõ ràng, thực tế tạo nên một bức tranh chan chứa tình yêu quê hương xứ sở. Ở thể thơ tám chữ, Bích Khê sử dụng vần chân gián cách nhịp nhàng: Trăng gây vàng, vàng gây lên sắc trắng Của gường hồ im lặng tợ bài thơ.
Chân nhịp nhàng lòng nghe hương nằng nặng Đây bài thơ không tiếng của đêm tơ. Trăng gây vàng, vàng gây lên sắc trắng Của hồn thu đi lạc ở trong mơ… (Mộng cầm ca) Còn sự sắp xếp nào tinh tế hơn việc sử dụng lối điệp câu thơ trong một khổ thơ để gieo vần chân gián cách như Bích Khê làm trong đoạn thơ trên. Cả đoạn thơ là một chùm liên tưởng nhẹ nhàng với những ý niệm về màu sắc, mùi hương thú vị. Hãy xem Bích Khê tiếp tục thành công ở thể thơ 7 chữ với “Nghê thường”: 16 Ô trời hôm nay sao mà xanh! Ngọc trăng xây vàng lên muôn cành Nhung mây tê ngời sao kim cương Dạ lan tê ngời say men hương.
Điểm độc đáo trong cách gieo vần này chính là ý niệm về màu sắc, mùi vị đi liền với nhau, cả đoạn thơ là một sự tung hứng nghệ thuật hiệu quả dựa trên niêm luật truyền thống. Với gia tài thơ đủ thể loại, Bích Khê dùng vần chân làm thành những mắt xích liên tục gắn nối khiến mạch thơ miên man, lời thơ tuôn chảy nhịp nhàng. Việc sử dụng các âm tiết mang thanh bằng cũng khiến chất nhạc trong thơ Bích Khê từ đó lan tỏa âm vang. Ngoài vần chân, vần lưng cũng được Bích Khê sử dụng trong hai tập thơ “Tinh huyết” và “Tinh hoa”: Đây giây trinh bạch khóc sướt trong mơ Đây hồn ngọc thạch xanh sao như tờ ? Ôi cỏi lầu mây ách gì kim cương Áo nàng thơ ngây nao nao nghê thường Thơ bay ! Thơ bay vôn bàn tay ngà Thơ ngà ngà say ? Thơ ngà ngà say….
(Nhạc) Bích Khê tạo nên một âm hưởng độc đáo trong thể thơ 8 chữ của mình, vừa cổ điển vừa lại hết sức tân kì, tạo nên hiệu quả cao trong việc cộng hưởng giữa âm thanh và ý nghĩa. Nhìn chung xét về vị trí hiệp vần trong thơ Bích Khê có thể thấy vần chân được sử dụng chiếm ưu thế và được phát huy cao độ về hiệu quả nghệ thuật. Vần lưng dù ít được sử dụng nhưng lại rất có giá trị khi được Bích Khê 17 sử dụng để tạo một âm hưởng độc đáo: vừa cổ điển vừa tân kì. Có thể thấy Bích Khê từng bước đổi mới hình thức thơ mà cơ sở là đổi mới cách gieo vần gắn liền với ý niệm và trường liên tưởng.
Khái niệm nhịp điệu trong thơ Nhịp điệu là mặt ngữ âm không thể thiếu để cấu thành một tác phẩm văn học dưới hình thức thơ ca. Nó là kết quả hòa phối âm thanh do ngắt nhịp mang lại, giữ vai trò nòng cốt tạo nên tiết tấu của nhạc thơ. Nếu văn xuôi đòi hỏi cách tổ chức đoạn hợp lí thì trong thơ ca, cách ngắt nhịp là yếu tố tiên quyết. Cùng với vần nhịp là một yếu tố cơ bản đảm bảo sự liên kết trong kết cấu văn bản ngôn từ một bài thơ trữ tình.
Mỗi thể loại thơ ứng với cách ngắt nhịp khác nhau để đảm bảo một sự hài hòa nhất định mang tính đặc trưng từng thể loại, tạo được mối quan hệ giữa Nhịp điệu – Nhạc thơ – Cảm xúc. Nhìn trên tổng thể, thơ Bích Khê cách tân chủ yếu ở nhịp điệu thơ với đủ mọi thể loại. Nhịp điệu trong thơ Bích Khê đa dạng và phong phú.2 Nhịp điệu trong thơ Bích Khê Bích Khê có cả gia tài các thể loại thơ: Thơ lục bát (Mĩ Tửu Ca, Huế Đa Tình) song thất lục bát (Tiếng Đàn Mưa, Giọt lệ trích tiên), Thơ tám chữ (Mộng cầm ca, Tranh lõa thể, Sắc Đẹp), Thơ bảy chữ (Sầu lãng tử, Nghê Thường), Thơ ngũ ngôn (Ngũ Hành Sơn, Tiền – hậu)… Mỗi bài thơ là một sự đầu tư chuẩn mực về mặt ngữ âm, chúng không lặp lại nhau mà tăng tiến, phát triển thành những dấu ấn riêng, mỗi bài thơ của Bích Khê là một trải nghiệm mới cho người đọc. Trong tập thơ “Tinh huyết”, Nhạc gần như là bài thơ tập hợp những cách tân táo bạo nhất của Bích Khê.
Ở thể thơ 8 chữ, ông chọn ngắt nhịp ở chữ thứ tư, chia câu thơ bát cú thành hai thể tứ tuyệt: 18 Ôi nắng vàng thơm/… rung rinh điệu ngọc Những cánh hồng đơm,/ những canh hồng đơm Nhẹ nhàng, nhịp nhàng/ thở đều trong sương Màu trăng không gian/ như gờn gợn sóng Từ ở phương mô/ nhạn mang thơ về Đàn thơ cơ hồ/ lên cung âm điệu Đây dây trinh bạch/ khóc suốt trong mơ Đây hồn ngọc thạch/ xanh sao như tờ? Nhà phê bình Đỗ Lai Thúy đã tinh tế khi nêu nhận xét “Cách ngắt nhịp này của Bích Khê khiến người đọc có cảm tưởng là hai bài thơ tứ tuyệt xếp cạnh nhau. Tuy nhiên hiệu quả thực tế của bài thơ đã không như vậy. Có lẽ sức mạnh của nhạc điệu tân kì, của ý tưởng mới mẻ đã cuốn phăng cảm xúc của người đọc không kịp để cho anh ta có đủ thì giờ nhớ đến thể tứ ngôn cũ” [13, tr. Ở một thể thơ khác.
Bích Khê chọn cách ngắt nhịp truyền thống kết hợp với cách gieo vần tạo nên những câu thơ đầy nhạc tính. Không gian tơ/ không gian tơ/ gợn sóng Âm Thanh gì/ sắp sửa/ Ngọc Kiều ơi! Hay hơi thở/ của hoa hồng/ mơ mộng Hay buồn đêm/ rào rạt/ ứ muôn nơi? (Mộng cầm ca) Lam nhung/ ô! Màu lưng chừng trời; Xanh nhung/ ô! Màu phơi nơi nơi.