Luận án tiến sĩ: Phân tích nghèo đa chiều ở vùng trung du và miền núi phía Bắc tỉnh Lào Cai

Luận án tiến sĩ kinh tế phân tích nghèo đa chiều tại vùng trung du và miền núi phía Bắc tỉnh Lào Cai, đề xuất giải pháp phát triển bền vững.

Trường đại học

Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương

Chuyên ngành

Kinh tế phát triển

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2021

207
3
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Nghiên cứu nghèo đa chiều

Nghiên cứu nghèo đa chiều tập trung vào việc đánh giá tình trạng nghèo không chỉ dựa trên thu nhập mà còn xem xét các khía cạnh khác như giáo dục, y tế, nhà ở, và tiếp cận các dịch vụ cơ bản. Vùng trung du và miền núi phía Bắc, đặc biệt là tỉnh Lào Cai, là khu vực có tỷ lệ nghèo cao và đa dạng về các chiều nghèo. Nghiên cứu này nhằm cung cấp cái nhìn toàn diện về nghèo đa chiều và đề xuất các giải pháp giảm nghèo bền vững.

1.1. Khái niệm và đo lường nghèo đa chiều

Nghèo đa chiều được định nghĩa là tình trạng thiếu hụt ở nhiều khía cạnh của cuộc sống, bao gồm thu nhập, giáo dục, y tế, nhà ở, và tiếp cận các dịch vụ cơ bản. Các chỉ số đo lường nghèo đa chiều thường bao gồm các yếu tố như tiếp cận dịch vụ y tế, trình độ giáo dục, chất lượng nhà ở, và thu nhập bình quân. Vùng trung du và miền núi phía Bắc có đặc thù riêng về địa lý và kinh tế, đòi hỏi các chỉ số đo lường phù hợp với điều kiện địa phương.

1.2. Thực trạng nghèo đa chiều tại Lào Cai

Tỉnh Lào Cai là một trong những khu vực có tỷ lệ nghèo cao nhất ở vùng trung du và miền núi phía Bắc. Nghiên cứu chỉ ra rằng, ngoài nghèo về thu nhập, người dân còn thiếu hụt về tiếp cận dịch vụ y tế, giáo dục, và điều kiện sống. Đặc biệt, các hộ gia đình dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ lớn trong số hộ nghèo, với các thiếu hụt về nhà ở, nước sạch, và vệ sinh.

II. Các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo đa chiều

Các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo đa chiều tại vùng trung du và miền núi phía Bắc bao gồm điều kiện tự nhiên, kinh tế, và xã hội. Tỉnh Lào Cai có địa hình phức tạp, khí hậu khắc nghiệt, và cơ sở hạ tầng yếu kém, gây khó khăn cho việc phát triển kinh tế và cải thiện đời sống người dân.

2.1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế

Vùng trung du và miền núi phía Bắc có địa hình đồi núi, khí hậu khắc nghiệt, và thường xuyên chịu ảnh hưởng của thiên tai. Điều này làm hạn chế khả năng phát triển nông nghiệp và các ngành kinh tế khác. Tỉnh Lào Cai cũng gặp nhiều khó khăn trong việc thu hút đầu tư và phát triển cơ sở hạ tầng.

2.2. Đặc điểm xã hội và dân tộc

Các nhóm dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ lớn trong dân số của vùng trung du và miền núi phía Bắc. Họ thường sống ở các khu vực xa xôi, hẻo lánh, với điều kiện tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục, và thông tin hạn chế. Điều này làm gia tăng tình trạng nghèo đa chiều và khó khăn trong việc thực hiện các chính sách giảm nghèo.

III. Giải pháp giảm nghèo đa chiều

Để giảm nghèo đa chiều tại vùng trung du và miền núi phía Bắc, cần có các giải pháp toàn diện, bao gồm cải thiện cơ sở hạ tầng, nâng cao chất lượng giáo dục và y tế, và tăng cường các chính sách hỗ trợ người nghèo. Tỉnh Lào Cai cần tập trung vào các chính sách phù hợp với đặc thù địa phương để đạt hiệu quả cao.

3.1. Hoàn thiện chính sách giảm nghèo

Các chính sách giảm nghèo cần được điều chỉnh để phù hợp với đặc điểm của vùng trung du và miền núi phía Bắc. Điều này bao gồm việc tăng cường đầu tư vào cơ sở hạ tầng, hỗ trợ phát triển kinh tế địa phương, và cải thiện chất lượng các dịch vụ y tế và giáo dục.

3.2. Tăng cường hiệu quả quản lý

Việc quản lý và giám sát các chương trình giảm nghèo cần được cải thiện để đảm bảo hiệu quả và minh bạch. Tỉnh Lào Cai cần xây dựng hệ thống dữ liệu chính xác và cập nhật để theo dõi tiến trình giảm nghèo và điều chỉnh chính sách kịp thời.

01/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN 1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN NGHÈO ĐA CHIỀU 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài có liên quan đến nghèo đa chiều 1. Nghiên cứu về nội dung nghèo đa chiều “Đánh giá tình trạng nghèo trên thế giới” của Ngân hàng Thế giới (1995) được xem là một trong các nghiên cứu sớm nhất có tính toàn diện và hệ thống về vấn đề nghèo.

Trong báo cáo tình hình phát triển thế giới, nhóm tác giả bắt đầu nghiên cứu bằng việc dẫn chứng các câu trả lời của người dân khi được hỏi khái niệm như thế nào về nghèo. Trên cơ sở đó, báo cáo đã đi đến kết luận “Một người được gọi là nghèo khi không có việc làm, không có đủ tiền để mua lương thực thực phẩm để có thể duy trì được cuộc sống của mình, không có tiền để cho con đi học và cũng không đủ tiền để chữa bệnh khi ốm đau”. Bên cạnh đó, báo cáo này cũng đề cập đến các thước đo về nghèo (chủ yếu là thước đo nghèo về thu nhập), cũng như cách tính các thước đo đó. Điểm nổi bật trong báo cáo này, đó chính là việc phát hiện và tổng kết các nguyên nhân của nghèo.

Trong đó, nguyên nhân dẫn đến tình trạng một cá nhân hay hộ gia đình bị rơi vào nghèo được nhắc đến nhiều nhất đó là sự hạn chế trong tiếp cận với các nguồn lực (đặc biệt là vốn, đất đai) để sản xuất kinh doanh. Do đó, theo nhóm nghiên cứu, để giải quyết nghèo, Chính phủ các quốc gia cần chú trọng đến các chính sách tăng khả năng tiếp cận các nguồn lực sản xuất cho người dân. Nếu có thể tìm cách tăng được thu nhập cho người nghèo sẽ giúp họ tăng khả năng tiếp cận với giáo dục và y tế, có vậy mới thoát khỏi vòng luẩn quẩn của nghèo. Mặc dù trong nghiên cứu trên, nhóm tác giả đã khuyến nghị Chính phủ các quốc gia nên hành động như thế nào để có thể giải quyết vấn đề nghèo.

7 Tuy nhiên, khung lý thuyết về giải quyết nghèo mà nghiên cứu đưa ra chưa toàn diện, chưa cụ thể vì không phản ánh được bản chất của nghèo. Chính vì vậy, trong “Conceptual Framework for Poverty Measurement and Poverty Alleviation Policies”, Louis – Marie Asselin Anyck Dauphin (1999) đã hệ thống các khái niệm khác nhau về nghèo cũng như thước đo nghèo, trên cơ sở đó đề xuất cách giải quyết nghèo cho các Chính phủ. Theo nhóm tác giả, có rất nhiều nghiên cứu về nghèo nên dẫn đến có nhiều khái niệm khác nhau về thuật ngữ này. Tuy nhiên, vẫn có điểm chung là “.

đều xem nghèo là tình trạng một nhóm người trong xã hội không có khả năng được hưởng một “cái gì đó” ở mức tối thiểu cần thiết”. Sự khác nhau về “cái gì đó” đã được đề cập đến ở ba lý thuyết chủ yếu đó là lý thuyết của trường phái Phúc lợi, trường phái Nhu cầu cơ bản và trường phái Khả năng. Trong đó, theo trường phái Phúc lợi, xem một xã hội có hiện tượng nghèo khi một hay nhiều cá nhân trong xã hội đó không có được một mức phúc lợi kinh tế (thường được sử dụng đồng nhất với mức sống) được coi là cần thiết để đảm bảo một cuộc sống tối thiểu hợp lý theo tiêu chuẩn của xã hội đó. Khi đó, tăng thu nhập được xem là điều quan trọng nhất để nâng cao mức sống.

Theo cách hiểu này, các chính sách xóa đói giảm nghèo (XĐGN) sẽ phải tập trung vào việc tăng năng suất, tạo việc làm… qua đó nâng cao thu nhập cho người dân để họ có thể có được mức phúc lợi kinh tế cần thiết như xã hội mong muốn. Không phủ nhận hoàn toàn khái niệm nghèo của trường phái Phúc lợi, trường phái Nhu cầu cơ bản, coi “cái gì đó” mà người nghèo thiếu là một tập hợp những hàng hoá và dịch vụ được xác định cụ thể mà việc thoả mãn chúng là điều kiện tiên quyết để đảm bảo chất lượng cuộc sống. Những nhu cầu cơ bản đó bao gồm lương thực, thực phẩm, nước, điều kiện vệ sinh, nhà ở, quần áo, giáo dục và y tế cơ sở, và giao thông công cộng. Theo trường phái này, để XĐGN cần có chính sách cụ thể đối với từng loại nhu cầu cơ bản, chứ không chỉ tập trung vào mỗi việc tăng thu nhập cho cá nhân.

8 Vì nhu cầu cơ bản cũng thay đổi tùy theo tuổi tác, giới tính… và các đặc điểm nhân khẩu khác, cũng như mức độ tham gia các hoạt động của từng cá nhân. Do đó, theo trường phái thứ ba - trường phái Năng lực, giá trị cuộc sống của con người không chỉ phụ thuộc duy nhất vào độ thoả dụng hay thoả mãn các nhu cầu cơ bản, mà đó là khả năng mà một con người có được, là quyền tự do đáng kể mà họ được hưởng, để vươn tới một cuộc sống mà họ mong muốn. Theo cách hiểu này, điều mà các chính sách XĐGN cần làm là phải tạo điều kiện để người nghèo có được năng lực thực hiện các chức năng cần thiết, đi từ những thứ rất cơ bản như đủ dinh dưỡng, có sức khoẻ tốt, tránh được nguy cơ tử vong sớm… đến những nhu cầu cao hơn như được tôn trọng, được tham gia vào đời sống xã hội, có tiếng nói và tiếng nói này phải đảm bảo được xã hội thừa nhận và tôn trọng. Như vậy, trường phái này khác cơ bản so với các trường phái trên ở chỗ chú trọng đến việc tạo cơ hội cho người nghèo để họ có thể phát huy năng lực theo cách mà họ tự chọn.

Thừa hưởng kết quả nghiên cứu trên, Báo cáo phát triển Con người của Cơ quan phát triển liên hiệp quốc (UNDP), (1997), đã đề cập đến khái niệm nghèo khổ dựa trên cơ sở quan điểm về phát triển con người, gọi là nghèo khổ tổng hợp hay nghèo khổ con người. Khác với khái niệm nghèo khổ từ thu nhập, nghèo khổ tổng hợp đề cập đến sự phủ nhận các cơ hội và sự lựa chọn để đảm bảo một cuộc sống cơ bản nhất hoặc “có thể chấp nhận được”. Theo đó, nghèo khổ được tính đến điều kiện khó khăn trong phát triển con người cơ bản, ví dụ như cuộc đời ngắn ngủi (tuổi thọ), thiếu giáo dục cơ bản và thiếu sự tiếp cận đến các nguồn lực tư nhân và của xã hội. Khái niệm trên cho thấy, xoá nghèo cũng là một khía cạnh của phát triển con người - một khái niệm được định nghĩa là “quá trình tăng thêm sự lựa chọn của con người”.

Năm 2000, Ngân hàng Thế giới (WB) thực hiện lần thứ hai một nghiên cứu khác về nghèo trên phạm vi toàn cầu “Báo cáo tình hình phát triển thế giới: tấn công nghèo”, (2000). Trong đó, WB khẳng định bản chất của nghèo là đa chiều, cụ thể gồm những khía cạnh cơ bản như sau: (1) Trước tiên và trên hết là sự khốn cùng về vật chất, được đo lường theo một tiêu chí thích hợp về thu nhập hoặc tiêu dùng hay nói cách khác khía cạnh đầu tiên của 9 nghèo là nghèo theo thu nhập; (2) Đi kèm với sự khốn cùng về vật chất là sự hưởng thụ thiếu thốn về y tế và giáo dục; (3) Tiếp đến là nguy cơ dễ bị tổn thương và dễ gặp rủi ro, tức là khả năng một hộ gia đình hay cá nhân bị rơi vào cảnh nghèo về thu nhập hoặc về sức khoẻ; (4) Cuối cùng là tình trạng không có tiếng nói và quyền lực của người nghèo. Trong báo cáo gần đây nhất của Liên hiệp quốc về tình hình thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ (2003) đã nhấn mạnh sự cần thiết đưa phương pháp tiếp cận "nghèo khổ" trên cơ sở “quyền lợi” cơ bản của con người (bao gồm quyền về kinh tế, xã hội, văn hoá, chính trị và dân sinh). Trong đó, có quyền tự do: Con người có quyền có một cuộc sống không bị đói khổ và bị đe dọa do bạo lực, chống đối và bị thương tổn; Quyền bình đẳng: Mọi người có quyền tham gia, hưởng thụ và chia sẻ thành quả phát triển của xã hội; Sự khoan dung: Mọi người cần phải được tôn trọng bao gồm cả niềm tin, văn hoá và ngôn ngữ.

Điều này có nghĩa là, các chính sách phát triển kinh tế cần hướng về người nghèo. Tăng trưởng kinh tế là cần thiết, song lợi ích từ tăng trưởng không tự động chuyển đến cho các hộ nghèo. Người nghèo cần trở thành mục tiêu trong việc hoạch định và đánh giá tác động của các chính sách phát triển. Cách tiếp cận mới này đã tập trung vào các chương trình cho phép người nghèo được sử dụng nguồn lực, giải pháp và sự sáng tạo của họ bằng cách tạo dựng một môi trường đảm bảo cũng như các nguồn lực quan trọng sẵn có bên ngoài.

Đảm bảo quyền cho người nghèo được nhìn nhận là yếu tố thiết yếu của thành công trong XĐGN. Với việc ngày càng hoàn thiện khái niệm về NĐC, WB đề xuất chiến lược tấn công nghèo với ba trụ cột chính đó là tạo cơ hội, trao quyền và thiết lập mạng lưới an sinh xã hội. Cụ thể khuyến nghị đối với Chính phủ các quốc gia, đó là: (1) Các quốc gia cần có chính sách cụ thể để hỗ trợ người nghèo có được các nguồn lực cần thiết như đất đai, vốn để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo thu nhập để thoát khỏi tình trạng đói nghèo về vật chất; (2) Để thoát khỏi vòng luẩn quẩn của đói nghèo, sự trợ giúp đặc biệt từ Chính phủ đối với giáo dục, y tế, tiếp đến là nhà ở, nước sạch cho người nghèo là không thể thiếu được trong xây dựng chiến lược tấn công nghèo; (3) Cuối 10 cùng, cần phát triển mạng lưới an sinh xã hội để giúp người nghèo chống đỡ với những rủi ro, giảm thiểu tổn thương và cần tạo cơ hội nhiều hơn để người nghèo tham gia hiệu quả vào các hoạt động ở địa phương. “Nghèo đói đa chiều và rủi ro từ COVID - 19” do tập thể các tác giả Sabina Alkire, Jakob Dirksen, Ricardo Nogales và Christian Oldiges thực hiện năm 2020 là một nghiên cứu về NĐC trong mối quan hệ tác động của đại dịch COVID - 19.

Theo các tác giả, khi đại dịch COVID - 19 chuẩn bị lây lan sang các khu vực đang phát triển, và các ứng phó khẩn cấp đặc biệt hiện đang được phát triển và áp dụng theo cách nhanh chóng. Các chương trình này thường liên quan đến các chương trình thực phẩm hoặc tiền mặt có mục tiêu hướng đến những người nghèo nhất và những người dễ bị tổn thương nhất.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu nghèo đa chiều tại vùng trung du và miền núi phía Bắc tỉnh Lào Cai" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình nghèo đói đa chiều tại khu vực này, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến mức sống của người dân và đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện điều kiện sống. Nghiên cứu không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về thực trạng nghèo đói mà còn chỉ ra những thách thức và cơ hội trong việc phát triển kinh tế xã hội tại vùng trung du và miền núi phía Bắc.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề liên quan đến quản lý tài nguyên và phát triển kinh tế, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn thạc sĩ luật học pháp luật về quản lý chất thải rắn sinh hoạt từ thực tiễn tại thành phố hà nội, nơi đề cập đến quản lý chất thải và bảo vệ môi trường, một yếu tố quan trọng trong phát triển bền vững. Ngoài ra, tài liệu Luận án tiến sĩ kinh tế vai trò của ktnn trong việc quản lý nợ công ở việt nam sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về quản lý nợ công, một vấn đề có liên quan mật thiết đến phát triển kinh tế. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ kinh tế phát triển kinh tế hộ nông dân trên địa bàn huyện vĩnh thạch tỉnh bình định sẽ cung cấp cái nhìn về phát triển kinh tế hộ gia đình, một khía cạnh quan trọng trong việc giảm nghèo và nâng cao đời sống người dân. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề kinh tế xã hội hiện nay.