Tổng quan luận án

Công trình khoa học "Năng suất, giá trị dinh dưỡng và sử dụng ngô lai sinh khối làm thức ăn cho bò thịt ở Thừa Thiên Huế" do nghiên cứu sinh Ngô Mậu Dũng thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Lê Văn An và PGS. Nguyễn Hữu Văn, chuyên ngành Chăn nuôi (mã số: 9620105) tại Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế năm 2023.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Chăn nuôi bò tại Việt Nam tăng trưởng bình quân khoảng 3%/năm trong giai đoạn 2015–2021, đạt quy mô 6,325 triệu con. Mặc dù vậy, sản lượng thịt sản xuất trong nước mới đáp ứng khoảng 50% nhu cầu tiêu dùng. Khó khăn lớn nhất của ngành chăn nuôi gia súc nhai lại tại Việt Nam nói chung và khu vực miền Trung nói riêng là sự thiếu hụt nguồn thức ăn thô xanh quanh năm. Nhu cầu vật chất khô (DM) từ thức ăn thô xanh của đàn bò cả nước ước tính khoảng 35–42 triệu tấn/năm. Sự gián đoạn nguồn cung trở nên nghiêm trọng vào mùa khô hạn (tháng 7–8) và mùa mưa rét (tháng 12 đến tháng 3 năm sau), gây thiếu hụt khoảng 30–40% tổng lượng thức ăn thô.

Tại Thừa Thiên Huế, tốc độ tăng trưởng đàn bò giai đoạn 2018–2021 đạt 13,7%, cao hơn mức bình quân cả nước (9%). Tuy nhiên, diện tích đất xám bạc màu nghèo dinh dưỡng cùng khí hậu thời tiết khắc nghiệt gây cản trở lớn đến việc cung ứng thức ăn thô xanh ổn định. Cây ngô sinh khối có ưu thế về thời gian sinh trưởng ngắn (80–100 ngày), năng suất sinh khối đạt 40–60 tấn/ha/vụ và khả năng thích ứng rộng. Dù ngô sinh khối đã được khảo nghiệm ở một số vùng sinh thái phía Bắc, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, tại Thừa Thiên Huế chưa có công trình nào đánh giá toàn diện về đặc điểm nông học của các giống ngô lai trên đất xám bạc màu, xác định thời điểm thu cắt tối ưu, quy trình ủ chua dự trữ với rỉ mật mía và hiệu quả nuôi vỗ béo bò thịt.

Mục tiêu nghiên cứu

  • Mục tiêu tổng quát: Tìm giải pháp đảm bảo nguồn thức ăn thô quanh năm cho bò bằng việc trồng và ủ chua cây ngô sinh khối, góp phần nâng cao năng suất và hiệu quả chăn nuôi bò thịt ở tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng và các tỉnh miền Trung nói chung.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Xác định năng suất sinh khối và thành phần hoá học của các dòng/giống ngô lai trồng ở tỉnh Thừa Thiên Huế;
    2. Xác định năng suất sinh khối và giá trị dinh dưỡng của giống ngô lai có triển vọng (HQ2000) làm thức ăn chăn nuôi bò thịt;
    3. Xác định ảnh hưởng các phương pháp ủ chua cây ngô sinh khối đến giá trị dinh dưỡng thức ăn ủ chua;
    4. Xác định ảnh hưởng của ngô ủ chua trong khẩu phần đến tỷ lệ tiêu hoá và khả năng sinh trưởng của bò thịt vỗ béo.

Câu hỏi nghiên cứu

  1. Đặc điểm sinh trưởng, năng suất và thành phần hoá học của các dòng/giống ngô sinh khối trồng trên đất xám bạc màu ở Thừa Thiên Huế như thế nào?
  2. Ảnh hưởng của thời điểm thu hoạch đến năng suất, thành phần hoá học và tỷ lệ phân giải dạ cỏ của cây ngô sinh khối làm thức ăn cho bò được trồng ở Thừa Thiên Huế?
  3. Ủ chua ngô sinh khối như thế nào để có chất lượng thức ăn tốt và phù hợp với điều kiện sản xuất nông hộ nhằm cung cấp thức ăn cho bò có hiệu quả, đặc biệt trong thời gian thức ăn xanh hạn chế?
  4. Ảnh hưởng của việc sử dụng ngô sinh khối ủ chua trong khẩu phần ăn đến năng suất và hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi bò thịt ở Thừa Thiên Huế?

Giả thuyết nghiên cứu

  1. Trong số 10 giống/dòng ngô lai của Viện Nghiên cứu Ngô, một số giống có khả năng sinh trưởng tốt, năng suất sinh khối cao, có triển vọng để gieo trồng làm thức ăn chăn nuôi ở vùng đất xám bạc màu ở Thừa Thiên Huế.
  2. Thời điểm thu hoạch ngô sinh khối có ảnh hưởng đến năng suất, thành phần hóa học và giá trị làm thức ăn cho bò thịt.
  3. Khi tăng tỷ lệ bổ sung rỉ mật mía trong ủ chua ngô sinh khối làm thay đổi chất lượng thức ăn ủ chua.
  4. Sử dụng ngô sinh khối ủ chua trong khẩu phần ăn làm tăng tỷ lệ tiêu hóa, cải thiện khả năng sinh trưởng, hệ số chuyển hoá thức ăn và tăng hiệu quả kinh tế trong nuôi bò vỗ béo.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: 10 dòng/giống ngô lai (bao gồm giống HQ2000 và các dòng lai chọn tạo từ Viện Nghiên cứu Ngô); cây ngô sinh khối ủ chua có bổ sung rỉ mật mía; bò vàng và bò thịt nuôi vỗ béo.
  • Phạm vi không gian: Các thí nghiệm nông học và nuôi dưỡng được triển khai tại Viện Nghiên cứu Phát triển - Trường Đại học Nông Lâm Huế, các nông hộ chăn nuôi và địa bàn có lập địa đất xám bạc màu tại tỉnh Thừa Thiên Huế.
  • Phạm vi thời gian: Số liệu thực nghiệm được thu thập từ năm 2018 đến năm 2021, luận án hoàn thành và bảo vệ năm 2023.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trong và ngoài nước

  1. Nghiên cứu nông sinh học và chọn tạo giống ngô sinh khối:

    • Trên thế giới, các nghiên cứu chọn tạo giống ngô thức ăn tập trung vào ưu thế lai sinh khối (Darwin, 1871; Beal, 1877; Propheter và cs., 2010). Các dòng mang đột biến gen Leafy1 (Lfy1) giúp tăng số lượng lá phía trên bắp và diện tích quang hợp (Shaver, 1983; Begna và cs., 2001; Pinter và cs., 2011). Đột biến gen brown midrib (bm1 đến bm6) làm giảm 25% hàm lượng lignin trong vách tế bào thực vật nhờ ức chế các enzyme COMT và CAD, cải thiện tỷ lệ tiêu hóa thức ăn (Grand và cs., 1985; Vignols và cs., 1995; Sattler và cs., 2010). Bên cạnh đó, tổ hợp lai giữa ngô và cỏ Teosinte tạo ra dạng ngô nhiều nhánh, tăng năng suất thân lá (Barh và cs., 2017).
    • Tại Việt Nam, nhiều giống ngô lai thương mại như LVN10, LVN111, VN5885, CS71, NK7328, CP888, MN-2 đã được đưa vào khảo sát năng suất sinh khối ở các mật độ và mức bón phân đạm khác nhau (Lê Quý Kha và Lê Quý Tường, 2019; Lê Thị Nghiêm và cs., 2017a,b; Kiều Xuân Đàm và cs., 2020; Nguyễn Hữu Để và cs., 2021). Năng suất thu hoạch vụ Hè Thu thường cao hơn vụ Đông Xuân khoảng 15–20% tại các tỉnh phía Nam.
  2. Thời điểm thu hoạch và giá trị dinh dưỡng:

    • Các nghiên cứu quốc tế chỉ ra rằng thu hoạch ở các giai đoạn sinh trưởng khác nhau làm biến đổi trực tiếp tỷ lệ vật chất khô (DM), protein thô (CP), xơ không hòa tan trong chất tẩy trung tính (NDF) và xơ không tan trong chất tẩy axit (ADF) (Madic và cs., 2018; Çarpici và cs., 2010; Brar và cs., 2016). Giai đoạn chín sáp thường tối ưu hóa tổng lượng chất hữu cơ có thể tiêu hóa.
  3. Công nghệ ủ chua và sử dụng trong chăn nuôi gia súc nhai lại:

    • Nguyên lý ủ chua yếm khí dựa trên vi khuẩn Lactobacilli chuyển hóa carbohydrate hòa tan trong nước (WSC) thành axit lactic để hạ pH xuống dưới 4,2, ức chế vi khuẩn hoại sinh Clostridia (McDonald và cs., 1991; Lê Đức Ngoan và Dư Thanh Hằng, 2011). Ngô sinh khối có hàm lượng WSC cao và khả năng đệm thấp (149–351 mEq/kg DM), rất thuận lợi cho quá trình ủ chua so với các loại cỏ bộ đậu hoặc hòa thảo khác.
    • Thử nghiệm cho bò ăn ngô sinh khối ủ chua cải thiện tính ngon miệng, tăng lượng ăn vào và tăng sản lượng sữa, thịt (Lance và cs., 1964; Marsalis và cs., 2010; Trần Hiệp và cs., 2015).
Tiêu chí Ngô làm thức ăn xanh / Sinh khối Ngô sản xuất lấy hạt
Thân cây Năng suất cao, mềm, vỏ thân mỏng Năng suất thấp hơn, thân chắc, vỏ thân dày, cứng
Lá Nhiều lá phía trên bắp, bản lá rộng Ít lá phía trên bắp, tán lá gọn
Bắp Đóng bắp thấp, xu hướng đa bắp ở mật độ thích hợp Đóng bắp cao hơn, ít hiện tượng đa bắp
Hạt Hạt mềm khi chín sáp, tối ưu hóa tiêu hóa dạ cỏ Hạt cứng, thuận lợi cơ giới hóa và bảo quản kho
Gân lá Gân giữa có thể mang màu nâu (gen đột biến giảm lignin) Gân lá bình thường

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình trước đây tại Việt Nam chủ yếu đánh giá ngô sinh khối trên đất phù sa hoặc đất phèn tại Đồng bằng sông Hồng, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Đất xám bạc màu tại Thừa Thiên Huế có độ phì tự nhiên rất thấp, phản ứng chua, nghèo mùn và khoáng trao đổi. Trước luận án này, chưa có công trình nào đánh giá có hệ thống từ khâu sàng lọc bộ giống ngô lai, xác định thời điểm thu cắt theo động thái phân giải dạ cỏ (in sacco), hoàn thiện tỷ lệ phối trộn rỉ mật mía khi ủ chua và xác định tỷ lệ tiêu hóa toàn phần (in vivo) kết hợp nuôi vỗ béo bò thịt tại địa phương.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

  • Lý thuyết dinh dưỡng gia súc nhai lại: Dạ cỏ hoạt động như một hệ sinh thái vi sinh vật lên men phân giải cellulose, hemicellulose thành các axit béo bay hơi (VFA) cung cấp năng lượng cho cơ thể và tổng hợp protein vi sinh vật.
  • Phương pháp đánh giá thức ăn:
    • Phân tích thành phần hóa học: Xác định DM, CP, CF, EE, Ash theo TCVN và AOAC; xác định NDF, ADF theo hệ thống Van Soest.
    • Tỷ lệ phân giải chất khô tại dạ cỏ (in sacco): Sử dụng kỹ thuật túi nylon ủ trong dạ cỏ bò có gắn catheter/fistula ở các khoảng thời gian khác nhau để xác định động thái phân giải.
    • Tỷ lệ tiêu hóa toàn phần (in vivo): Phương pháp thu gom toàn bộ phân để tính toán hệ số tiêu hóa các chất dinh dưỡng.
  • Nguyên lý ủ chua yếm khí: Đánh giá động thái thay đổi pH, hàm lượng axit lactic, axit axetic, axit butyric và nitơ amoniac ($NH_3\text{-}N$) trong các túi/hố ủ có bổ sung cơ chất lên men (rỉ mật mía).

Phương pháp nghiên cứu thực tế

Luận án được cấu trúc thành 4 nội dung nghiên cứu với 7 thí nghiệm cụ thể:

                    HỆ THỐNG THÍ NGHIỆM CỦA LUẬN ÁN
Nội dung 1        Nội dung 2             Nội dung 3        Nội dung 4
(TN 1)            (TN 2, 3)              (TN 4, 5)         (TN 6, 7)
Khảo nghiệm       Thời điểm thu cắt      Ủ chua rỉ mật     Nuôi dưỡng &
10 giống ngô      HQ2000 & In sacco      & Tiêu hóa bò     Vỗ béo bò thịt
  • Nội dung 1 (Thí nghiệm 1): Khảo nghiệm 10 dòng/giống ngô lai gồm HQ2000, 2485FxCML161, 414xKP3 và 7 dòng/giống khác trên đất xám bạc màu Thừa Thiên Huế vụ Đông Xuân. Bố trí khối ngẫu nhiên hoàn lại (RCBD), 3 lần lặp lại. Theo dõi thời gian sinh trưởng, chiều cao cây, đường kính thân, số lá, tình hình sâu bệnh (khô vằn, đốm lá, sâu đục thân), đo năng suất sinh khối ở các giai đoạn chín sữa (CSU), chín sáp (CSA) và chín răng ngựa (RNG).
  • Nội dung 2 (Thí nghiệm 2 & 3): Đánh giá ảnh hưởng của 3 thời điểm thu cắt (CSU, CSA, RNG) đối với giống ngô HQ2000. Xác định năng suất chất khô, năng suất protein; phân tích thành phần hóa học; đo tỷ lệ phân giải chất khô và các chất dinh dưỡng trong dạ cỏ bò bằng phương pháp túi nylon (in sacco).
  • Nội dung 3 (Thí nghiệm 4 & 5): Thí nghiệm ủ chua thân lá và bắp ngô HQ2000 với các mức rỉ mật mía (0%, 2%, 4%, 6% tính theo khối lượng tươi). Đánh giá biến thiên pH, cảm quan màu sắc, mùi, hàm lượng axit hữu cơ và thành phần hóa học sau các mốc thời gian ủ (TN 4). Đánh giá tỷ lệ tiêu hóa toàn phần các chất dinh dưỡng của khẩu phần chứa ngô ủ chua trên bò vàng theo phương pháp cân bằng trao đổi (TN 5).
  • Nội dung 4 (Thí nghiệm 6 & 7): Thí nghiệm xác định tỷ lệ tiêu hóa toàn phần (in vivo) trên bò thịt nuôi bằng các khẩu phần thay thế cỏ voi/rơm lúa bằng ngô sinh khối ủ chua (TN 6). Thí nghiệm nuôi dưỡng vỗ béo bò thịt kéo dài 8 tuần (56 ngày) nhằm đánh giá lượng ăn vào (DMI), tăng khối lượng bình quân ngày (ADG), hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR) và hiệu quả kinh tế (TN 7).

Nội dung chính theo từng chương

Mở đầu

Trình bày tổng quan về tính cấp thiết của việc phát triển nguồn thức ăn xanh dự trữ cho gia súc nhai lại tại Thừa Thiên Huế, xác định 4 mục tiêu cụ thể, 4 câu hỏi nghiên cứu, 4 giả thuyết khoa học và ý nghĩa lý luận, thực tiễn của đề tài.

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng thuật toàn diện các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến:

  • Tình hình phát triển chăn nuôi bò thịt tại Việt Nam và tỉnh Thừa Thiên Huế, đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa phân hóa 2 mùa mưa - khô rõ rệt (lượng mưa 3.238 mm/năm) và tính chất lý hóa của 10 nhóm đất tại địa phương.
  • Vai trò, tiêu chuẩn chất lượng ngô sinh khối, sự khác biệt sinh học giữa ngô sinh khối và ngô lấy hạt.
  • Các yếu tố kỹ thuật nông học chi phối năng suất ngô: giống, mật độ gieo trồng (dao động 60.000–180.000 cây/ha), mức bón đạm (120–400 kg N/ha), mùa vụ và thời điểm thu hoạch.
  • Cơ sở sinh hóa của quá trình ủ chua thức ăn thô xanh: động thái lên men hiếu khí/yếm khí, ảnh hưởng của carbohydrate hòa tan (WSC), khả năng đệm của các nhóm cây trồng (ngô: 149–351 mEq/kg DM), vai trò của phụ gia rỉ mật mía.
  • Động thái lên men và phân giải các hợp chất chứa nitơ, xơ trong dạ cỏ bò.

Chương 2: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Mô tả chi tiết điều kiện khí tượng đất đai nơi nghiên cứu, đặc tính nông hóa của đất xám bạc màu thí nghiệm (nghèo mùn, lân dễ tiêu thấp, phản ứng chua). Trình bày thiết kế thực nghiệm cho 7 thí nghiệm:

  • Phương pháp bố trí đồng ruộng, quy chuẩn đo đạc kích thước thân lá ngô.
  • Quy trình lấy mẫu, phân tích hóa học thức ăn theo tiêu chuẩn quốc tế.
  • Quy trình kỹ thuật đặt túi nylon trong dạ cỏ bò (in sacco) và xử lý toán học đường cong phân giải chất hữu cơ.
  • Quy trình thí nghiệm nuôi dưỡng, bố trí lô thí nghiệm vỗ béo bò thịt, phương pháp cân khối lượng, ghi chép lượng ăn vào hàng ngày, thu gom và phân tích phân.
  • Phương pháp phân tích thống kê sinh học xử lý số liệu bằng phần mềm chuyên dụng (ANOVA, so sánh giá trị trung bình qua kiểm định Duncan/Tukey).

Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Nội dung 1: Đặc điểm sinh trưởng, năng suất sinh khối và thành phần hóa học của 10 dòng/giống ngô lai làm thức ăn thô xanh trong chăn nuôi được trồng ở tỉnh Thừa Thiên Huế (Thí nghiệm 1)

  • Thời gian sinh trưởng và sinh trưởng thân lá: Thời gian từ gieo đến thu hoạch ngô sinh khối ở giai đoạn chín sáp dao động 80–95 ngày trong vụ Đông Xuân. Chiều cao cây đạt từ 180 cm đến trên 220 cm tùy theo giống.
  • Năng suất sinh khối: Năng suất chất xanh của các dòng/giống ngô biến thiên rõ rệt khi thu hoạch ở giai đoạn chín sáp. Trong 10 giống khảo nghiệm, các giống HQ2000, 2485FxCML161 và 414xKP3 đạt năng suất sinh khối vượt trội, đạt mức 45–55 tấn tươi/ha/vụ.
Giống/Dòng ngô Năng suất chất xanh (tấn/ha) Tỷ lệ DM (%) Năng suất DM (tấn/ha) Tỷ lệ CP (% DM)
HQ2000 48,50–52,30 28,5–30,2 13,82–15,79 8,8–9,2
2485FxCML161 50,10–54,20 27,9–29,5 13,97–15,98 8,5–8,9
414xKP3 47,80–51,60 28,2–29,8 13,48–15,37 8,4–8,8
Các dòng đối chứng/khác 35,20–42,10 26,0–28,5 9,15–12,00 7,5–8,2
  • Thành phần dinh dưỡng và sâu bệnh: Ở giai đoạn chín sáp, hàm lượng protein thô đạt 8,4–9,2% DM; NDF dao động 45–52% DM; ADF dao động 26–30% DM. Các giống ngô triển vọng biểu hiện khả năng chống chịu tốt với bệnh đốm lá và khô vằn, tỷ lệ đổ ngã thấp trong điều kiện gió mùa tại Thừa Thiên Huế.
  • Hiệu quả kinh tế trồng ngô: Thu hoạch ngô sinh khối làm thức ăn chăn nuôi mang lại doanh thu và hiệu quả quay vòng đất cao hơn so với sản xuất ngô lấy hạt truyền thống.

Nội dung 2: Ảnh hưởng của thời điểm thu cắt đến năng suất, thành phần hoá học và tỷ lệ phân giải ở dạ cỏ của giống ngô HQ2000 (Thí nghiệm 2, 3)

  • Năng suất và thành phần hóa học: Thu cắt ở 3 thời kỳ (chín sữa - CSU, chín sáp - CSA, chín răng ngựa - RNG) cho thấy sự tích lũy vật chất khô tăng dần theo độ chín của cây (từ 22% ở CSU lên 29% ở CSA và trên 36% ở RNG). Năng suất chất khô và protein thô trên một hecta đạt giá trị tối ưu ở giai đoạn chín sáp (CSA).
  • Tỷ lệ tiêu hóa dạ cỏ (in sacco): Tỷ lệ phân giải chất khô và chất hữu cơ trong dạ cỏ bò đạt mức cao nhất ở giai đoạn chín sáp. Khi chuyển sang giai đoạn chín răng ngựa, hàm lượng lignin và xơ hóa mô thực vật tăng lên làm giảm tốc độ và mức độ phân giải các chất dinh dưỡng tại dạ cỏ.
Chỉ tiêu theo dõi Chín sữa (CSU) Chín sáp (CSA) Chín răng ngựa (RNG)
Hàm lượng DM (%) 21,50–23,00 28,50–30,50 36,20–38,00
Hàm lượng CP (% DM) 9,80–10,20 8,90–9,20 7,60–7,90
Hàm lượng NDF (% DM) 54,20–56,00 48,10–50,20 52,40–55,10
Tỷ lệ phân giải DM dạ cỏ (48h, %) 62,40 66,80 58,10

Nội dung 3: Nghiên cứu ủ chua ngô sinh khối với rỉ mật và giá trị dinh dưỡng của thức ăn ủ chua nuôi bò sinh trưởng tại Thừa Thiên Huế (Thí nghiệm 4, 5)

  • Chất lượng khối ủ chua: Bổ sung rỉ mật mía với các tỷ lệ 0%, 2%, 4%, 6% cho thấy mức bổ sung 2–4% rỉ mật mía giúp hạ nhanh độ pH khối ủ xuống dưới 4,0 trong vòng 15–21 ngày, tạo mùi thơm chua nhẹ đặc trưng, màu vàng sáng đồng đều, hạn chế tối đa nấm mốc và tổn thất chất hữu cơ.
  • Tiêu hóa khẩu phần ngô ủ chua ở bò vàng: Thử nghiệm tiêu hóa in vivo trên bò vàng cho thấy khẩu phần có bổ sung ngô sinh khối ủ chua phối trộn rỉ mật mía đạt hệ số tiêu hóa chất khô (DMD), chất hữu cơ (OMD) và protein thô (CPD) cao hơn có ý nghĩa so với khối ủ không bổ sung phụ gia.

Nội dung 4: Ảnh hưởng của ngô sinh khối ủ chua, cỏ voi và rơm lúa trong khẩu phần ăn đến tỷ lệ tiêu hóa toàn phần và sinh trưởng của bò thịt nuôi ở Thừa Thiên Huế (Thí nghiệm 6, 7)

  • Tỷ lệ tiêu hóa toàn phần: Khẩu phần sử dụng ngô sinh khối ủ chua thay thế một phần hoặc toàn bộ cỏ voi và rơm lúa làm tăng rõ rệt khả năng tiêu hóa toàn phần các chất dinh dưỡng (DM, OM, CP, NDF).
  • Tăng khối lượng và chuyển hóa thức ăn: Trong thí nghiệm nuôi vỗ béo kéo dài 56 ngày, bò sử dụng khẩu phần có ngô sinh khối ủ chua có lượng ăn vào (DMI) tăng, tăng khối lượng bình quân ngày (ADG) đạt mức cao hơn hẳn so với đối chứng sử dụng rơm lúa và cỏ voi truyền thống. Hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR, kg DM/kg tăng trọng) giảm rõ rệt.
  • Hiệu quả kinh tế vỗ béo: Chi phí thức ăn cho một kg tăng trọng giảm, lợi nhuận thu được trên mỗi con bò vỗ béo tăng lên từ 15% đến 25% so với phương thức nuôi truyền thống.

Kết luận và kiến nghị

Tổng kết các kết luận khoa học rút ra từ 4 nội dung nghiên cứu và đưa ra các kiến nghị kỹ thuật cụ thể cho sản xuất chăn nuôi bò thịt tại địa phương.


Kết quả và những đóng góp mới

Những đóng góp mới của luận án

  1. Dữ liệu khoa học hệ thống đầu tiên về ngô sinh khối tại Thừa Thiên Huế: Cung cấp bộ số liệu thực nghiệm đầy đủ về đặc điểm nông học, sinh trưởng thân lá, khả năng kháng sâu bệnh và năng suất chất xanh của 10 dòng/giống ngô lai trên nền đất xám bạc màu. Xác định được 3 giống ngô có triển vọng cao nhất là HQ2000, 2485FxCML161 và 414xKP3 với năng suất sinh khối đạt trên 48–52 tấn/ha/vụ Đông Xuân.
  2. Xác lập cơ sở sinh học về thời điểm thu cắt ngô HQ2000: Chứng minh bằng thực nghiệm rằng thu hoạch ngô sinh khối ở giai đoạn chín sáp (CSA) là tối ưu nhất, đảm bảo sự cân bằng cao nhất giữa năng suất chất khô tích lũy, hàm lượng protein thô và tỷ lệ phân giải các chất dinh dưỡng trong dạ cỏ bò qua kỹ thuật túi nylon (in sacco).
  3. Quy trình chế biến và khẩu phần nuôi bò thịt vỗ béo: Xác định tỷ lệ bổ sung rỉ mật mía thích hợp (2–4%) khi ủ chua ngô sinh khối HQ2000 giúp duy trì chất lượng thức ăn tốt và ổn định pH khối ủ. Khẳng định hiệu quả của việc thay thế thức ăn thô truyền thống bằng ngô sinh khối ủ chua trong việc nâng cao tỷ lệ tiêu hóa toàn phần, tăng tốc độ sinh trưởng (ADG), giảm hệ số FCR và gia tăng hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi bò thịt vỗ béo tại miền Trung.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Khuyến cáo đưa các giống ngô lai sinh khối chất lượng cao, đặc biệt là giống HQ2000, vào cơ cấu cây trồng chuyển đổi trên đất trồng lúa kém hiệu quả hoặc đất màu bạc màu tại Thừa Thiên Huế.
  • Áp dụng kỹ thuật thu hoạch cây ngô ở giai đoạn hạt chín sáp và thực hiện quy trình ủ chua túi nilon/hố ủ có bổ sung 2–4% rỉ mật mía để dự trữ thức ăn cho mùa khan hiếm.
  • Ứng dụng ngô sinh khối ủ chua vào quy trình phối trộn khẩu phần hỗn hợp (TMR) trong mô hình nuôi bò thịt vỗ béo quy mô nông hộ và trang trại bán thâm canh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Các thí nghiệm khảo sát bộ giống ngô lai mới chỉ được tập trung thực hiện chủ yếu trong vụ Đông Xuân; chưa đánh giá toàn diện ảnh hưởng của các điều kiện thời tiết cực đoan trong vụ Hè Thu trên đất cát và đất gò đồi của tỉnh.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Tiếp tục thử nghiệm mở rộng các công thức luân canh 3 vụ ngô sinh khối/năm trên các nhóm đất khác nhau tại Thừa Thiên Huế (đất cát biển, đất đỏ vàng gò đồi).
    • Nghiên cứu sâu hơn về các công thức thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh (TMR) dựa trên nền ngô sinh khối ủ chua cho các nhóm bò lai chuyên thịt F1, F2 (BBB, Red Angus, Droughtmaster) ở các giai đoạn thể trọng khác nhau.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh và học viên cao học ngành Chăn nuôi, Thú y và Nông học: Luận án là tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp bố trí thí nghiệm phối hợp giữa nông học thực nghiệm, kỹ thuật đánh giá động thái phân giải dạ cỏ (in sacco) và thử nghiệm tiêu hóa in vivo trên gia súc nhai lại.
  • Đối với giảng viên và cơ sở đào tạo: Bổ sung tư liệu giảng dạy thực tế về dinh dưỡng gia súc nhai lại, cây thức ăn chăn nuôi và công nghệ chế biến bảo quản thức ăn nhiệt đới.
  • Đối với cơ quan quản lý nông nghiệp và khuyến nông: Là căn cứ khoa học hỗ trợ xây dựng đề án phát triển chăn nuôi bò thịt chất lượng cao, chuyển đổi cơ cấu cây trồng thích ứng biến đổi khí hậu tại các tỉnh Duyên hải miền Trung.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao giống ngô HQ2000 lại được lựa chọn để nghiên cứu sâu trong các thí nghiệm ủ chua và nuôi bò?

Giống ngô HQ2000 là giống ngô lai đơn đã được công nhận chính thức, có nguồn gốc bố mẹ từ CIMMYT với đặc tính giàu lysine (3,95%) và tryptophan (0,82%), hàm lượng protein hạt cao (11%), khả năng chống chịu sâu bệnh và chống đổ tốt. Trong Thí nghiệm 1 khảo nghiệm trên đất xám bạc màu Thừa Thiên Huế, HQ2000 thể hiện khả năng sinh trưởng thân lá vượt trội, đạt năng suất sinh khối 48,50–52,30 tấn/ha và giá trị dinh dưỡng cao, thích hợp làm cây thức ăn gia súc chủ lực.

2. Vì sao thời điểm chín sáp (CSA) lại là thời điểm thu hoạch tối ưu nhất cho cây ngô sinh khối?

Ở giai đoạn chín sáp (khoảng 85–95 ngày sau gieo), bắp ngô đã tích lũy lượng tinh bột và chất khô cao trong khi thân lá vẫn còn xanh mềm. So với giai đoạn chín sữa (hàm lượng nước quá cao, tổng chất khô thấp) và giai đoạn chín răng ngựa (thân lá bị xơ hóa mạnh, hàm lượng lignin tăng), ngô thu ở giai đoạn chín sáp đạt năng suất chất khô cao nhất trên một hecta, hàm lượng xơ vừa phải và tỷ lệ phân giải chất khô trong dạ cỏ bò sau 48 giờ đạt mức tối đa (66,80%).

3. Tỷ lệ bổ sung rỉ mật mía bao nhiêu là tối ưu cho quá trình ủ chua ngô sinh khối?

Kết quả thí nghiệm ủ chua (Thí nghiệm 4) cho thấy mức bổ sung 2–4% rỉ mật mía (tính theo khối lượng tươi) cung cấp đủ lượng carbohydrate hòa tan (WSC) dễ tiêu cho vi khuẩn lactic hoạt động, giúp hạ nhanh pH khối ủ xuống dưới 4,0, tạo điều kiện yếm khí lý tưởng ức chế vi khuẩn lên men thối Clostridia, giữ được màu vàng sáng và mùi thơm chua đặc trưng mà không làm tăng chi phí quá mức như khi bổ sung 6%.

4. Việc sử dụng ngô sinh khối ủ chua mang lại hiệu quả kinh tế như thế nào trong nuôi vỗ béo bò thịt?

Sử dụng ngô sinh khối ủ chua thay thế cỏ voi và rơm lúa giúp nâng cao tính ngon miệng và tăng lượng chất khô ăn vào (DMI). Bò có tốc độ tăng khối lượng bình quân ngày (ADG) cao hơn rõ rệt, hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR) giảm, rút ngắn thời gian nuôi vỗ béo và giúp giảm chi phí sản xuất trên một đơn vị tăng trọng, mang lại mức lợi nhuận tăng từ 15% đến 25% cho người chăn nuôi.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Ngô Mậu Dũng là công trình nghiên cứu thực nghiệm đồng bộ, giải quyết trọn vẹn chuỗi vấn đề từ tuyển chọn giống ngô lai sinh khối thích nghi với đất xám bạc màu tại Thừa Thiên Huế đến xác định thời điểm thu hoạch chín sáp tối ưu về mặt sinh học. Đề tài đã xây dựng thành công quy trình ủ chua ngô sinh khối phối trộn rỉ mật mía và chứng minh hiệu quả vượt trội của thức ăn ủ chua trong việc nâng cao tỷ lệ tiêu hóa, tăng trọng và hiệu quả kinh tế nuôi vỗ béo bò thịt. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc nhằm chủ động nguồn thức ăn thô xanh chất lượng cao quanh năm, góp phần thúc đẩy phát triển chăn nuôi gia súc nhai lại bền vững tại Thừa Thiên Huế và khu vực miền Trung.