chương 1 đã trình bày tổng quan các nội dung chính của luận văn. 123doc 9 CHƢƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Lý thuyết về sự sáng tạo 2.1 Quan điểm truyền thống Hầu hết các lý thuyết trước đây đều cho rằng sự sáng tạo gắn liền với tố chất sáng tạo của con người. Sự sáng tạo được phân biệt bởi tiểu sử, kinh nghiệm quá khứ và tài năng vốn có của các nhà sáng tạo. Có những nghiên cứu phân loại tiểu sử của những nhà sáng tạo lớn, như (Simonton, 1986) đã phân tích tiểu sử của 315 cá nhân và phân loại ra được 50 nhóm tính cách.
Kết quả của nghiên cứu cho thấy những nhóm tiểu sử này liên quan đến những kiểu thành tựu sáng tạo khác nhau, có nghĩa là chúng ta sẽ tiếp cận dần đến việc tìm ra những giải pháp thúc đẩy sự sáng tạo. Tuy nhiên, các lý thuyết truyền thống cũng thể hiện hạn chế của nó vì kết quả đo lường các nhân tố phức tạp làm cho lý thuyết không thể lý giải mối quan hệ giữa tiểu sử cá nhân và sự sáng tạo (Woodman R. Các lý thuyết truyền thống đưa ra được những mối quan hệ, những yếu tố ảnh hưởng đến sự sáng tạo nhưng lại không giúp tìm ra giải pháp gia tăng sự sáng tạo của nhân viên. Ngoài ra, lý thuyết truyền thống không đề cập đến những yếu tố ảnh hưởng thuộc về môi trường tổ chức, môi trường làm việc.2 Phát triển lý thuyết truyền thống Tiến sĩ Teresa M.
Amabile là một nhà nghiên cứu nổi tiếng ngành quản trị kinh doanh, Giám đốc của Harvard Business School, là người phát triển lý thuyết về sự sáng tạo và có nhiều công trình nghiên cứu liên quan. Nghiên cứu của (Amabile T., 1983) giới thiệu lý thuyết về 3 thành phần chính của sự sáng tạo: (1) Những kỹ năng liên quan: kiến thức, yêu cầu về kỹ thuật, tài năng. Những yếu tố này phụ thuộc vào: khả năng nhận thức bẩm sinh, kỹ năng vận động và tri giác bẩm sinh, giáo dục chính thống cũng như không chính thống. 123doc 10 (2) Những kỹ năng sáng tạo: phong cách nhận thức thích hợp, kiến thức tiềm ẩn hoặc rõ ràng để giải thích những ý tưởng mới lạ, phong cách làm việc có lợi.
Những yếu tố này phụ thuộc vào: đào tạo, kinh nghiệm hình thành ý tưởng, tính cách cá nhân. (3) Động lực làm việc: quan điểm làm việc, nhận thức được động lực đảm nhận công việc. Những yếu tố này phụ thuộc vào: cấp độ của động lực nội tại hướng đến công việc, sự xuất hiện hoặc không xuất hiện của những ràng buộc bên ngoài môi trường xã hội, khả năng cá nhân làm giảm những ràng buộc bên ngoài. Những kỹ năng liên quan (domain- relevent skills) được cho là phần cơ bản nhất mà bất cứ sự sáng tạo nào cũng cần phải có.
Trong việc hình thành sự sáng tạo, mỗi thành phần hoạt động ở một mức độ khác nhau. Kỹ năng sáng tạo (creative- relevent skills) là thành phần hoạt động ở mức độ chung nhất, bao quát nhất, sau đó là đến kỹ năng liên quan (domain- relevent skills) và cuối cùng, ở mức độ cụ thể nhất là động lực làm việc (task motivation). Nghiên cứu của (Amabile T., 1997) tiếp tục phát triển lý thuyết về ba thành phần của sự sáng tạo. Trong nghiên cứu mới, bà đề cập đến một quan điểm, người nghiên cứu khoa học thành công nhất không phải là những người tài năng nhất, mà là những người bị thúc đẩy bởi sự tò mò, luôn muốn đi tìm đáp án.
Nghiên cứu nhấn mạnh vai trò của động lực làm việc, một yếu tố liên quan nhiều đến môi trường tổ chức, bị ảnh hưởng mạnh bởi môi trường tổ chức. Động lực làm một công việc hấp dẫn, cảm thấy hào hứng, thỏa mãn và có thử thách. Ngoài ra, lý thuyết mới của Amabile khẳng định môi trường làm việc có ảnh hưởng đến sự sáng tạo của nhân viên.1 minh họa các thành phần của sự sáng tạo tương tự như lý thuyết năm 1983 nhưng có sự bổ sung, thay đổi. Ba thành phần của sự sáng tạo lần lượt là chuyên môn (expertise), kỹ năng tư duy sáng tạo (creative- thinking skills) và động lực làm việc (task motivation).
Phần giao nhau của cả ba thành phần chính là sự sáng tạo, hay nói một cách khác sự sáng tạo xuất hiện khi có đầy đủ cả ba thành 123doc 11 phần này. Phần chuyên môn là nền tảng mà mọi sự sáng tạo cần phải có. Phần kỹ năng tư duy sáng tạo là phần bổ sung thêm (something extra), làm cho sự sáng tạo tạo ra thành quả. Ví dụ như một người kỹ sư có chuyên môn cao thì được gọi là giỏi, có kỹ thuật tốt nhưng nếu thiếu kỹ năng tư duy sáng tạo thì sẽ không tạo ra được sản phẩm sáng tạo.
Điều đặc biệt là kỹ năng tư duy sáng tạo không phải chỉ là bẩm sinh mà quan trọng hơn, nó có thể được rèn luyện, tăng dần theo thời gian nếu cá nhân đó liên tục cải thiện nhận thức linh hoạt và tư duy độc lập. Thành phần cuối cùng, động lực làm việc, góp phần tạo nên sự sáng tạo sau khi đã có 2 thành phần trên. Nếu như chuyên môn và kỹ năng tư duy sáng tạo thể hiện khả năng mà một người có thể làm thì động lực làm việc xác định rằng người đó sẽ thực sự làm. Động lực làm việc bao gồm động lực nội tại (sở thích, sự liên quan, tò mò, thích thú, thử thách) và động lực bên ngoài (mong muốn đạt thành quả, khen thưởng).
Hai loại động lực này có sự liên quan với nhau nhưng nhiều nghiên cứu cho rằng động lực nội tại dẫn đến sáng tạo nhiều hơn hẳn động lực bên ngoài. Chính vì vậy, thành phần thứ 3 trong nghiên cứu của (Amabile T., 1997) chủ yếu là động lực nội tại.1 Ba thành phần của sự sáng tạo 123doc 12 Các lý thuyết của Amabile góp phần khắc phục những hạn chế của lý thuyết truyền thống, bổ sung vai trò của môi trường làm việc, phân tích các nhóm thành phần tạo nên đến sự sáng tạo của nhân viên. Lý thuyết trở thành nền tảng cho rất nhiều nghiên cứu sau này liên quan đến sự sáng tạo của nhân viên: các yếu tố ảnh hưởng, giải pháp tăng cường sự sáng tạo,… 2.2 Khái niệm sự sáng tạo nhân viên Để hiểu chi tiết hơn về sự sáng tạo của nhân viên, tác giả muốn làm rõ định nghĩa về sự sáng tạo của nhân viên là gì trước khi tìm hiểu những nhân tố hoặc những nhóm nhân tố ảnh hưởng đến sự sáng tạo của nhân viên. Sự sáng tạo của nhân viên (employee creativity) được cho là quan trọng, sự sáng tạo rất có ích tạo nên sự thành công của tổ chức (Oldham & Cummings, 1996; Scott & Bruce, 1994).
Vì vậy, chuyên ngành nghiên cứu về sự sáng tạo nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xác định các nhân tố nhằm gia tăng sự sáng tạo của nhân viên (Baas M., 2008; Binnewies & Wornlein, 2011; Hulsheger U. Sự sáng tạo của nhân viên là một khái niệm khó định nghĩa, đồng thời cũng có nhiều định nghĩa khác nhau. Ban đầu, có nhiều tranh cãi xoay quanh định nghĩa về sự sáng tạo. Những khái niệm đầu tiên về sự sáng tạo tập trung nhiều vào quá trình sáng tạo.
Các định nghĩa này cho rằng sáng tạo liên quan việc tạo ra những điều mới mẻ, những sáng chế mới, là khả năng của những người có tính sáng tạo. Sau này, khái niệm về sự sáng tạo của nhân viên được phát triển rộng hơn, đầy đủ hơn và thể hiện được ý nghĩa thiết thực của nó. Sáng tạo định nghĩa theo quá trình có vẻ không khả thi bởi vì nó còn đặc biệt liên quan đến kết quả, thành quả của một quá trình. Sự sáng tạo phải đạt được một sản phẩm, giải pháp nào đó nếu không thì quá trình sáng tạo không có ý nghĩa.
Vì vậy, sự sáng tạo có thể được đánh giá bằng số lượng sản phẩm, giải pháp mới được thẩm định bởi những người phù hợp (Amabile T. Nghiên cứu của (Amabile T., 1983) còn lưu ý sự sáng tạo không phải là tính cách mà là thành quả của một quá trình, xuất hiện trong mọi 123doc 13 lĩnh vực chứ không chỉ nghệ thuật và không phải lúc nào cũng tốt đẹp vì sản phẩm sáng tạo có thể áp dụng vào cái cái xấu tùy thuộc con người. Sự sáng tạo là sản xuất những ý tưởng mới lạ và hữu ích (Amabile T. Những ý tưởng này có liên quan đến hoạt động kinh doanh của tổ chức, như sản phẩm mới, hoặc bản thân tổ chức, chẳng hạn như các thủ tục mới (Gilson & Shalley, 2004).
Sáng tạo là một sự liên tục (Amabile T., 1996), với sự thích ứng nhỏ của các ý tưởng hiện có ở mức thấp và những ý tưởng mới cấp tiến ở cấp cao (Perry-Smith & Shalley, 2003). Sự sáng tạo đề cập đến việc tạo ra những suy nghĩ mới và những kết quả mang tính xây dựng vấn đề (Amabile T. Nghiên cứu của (Florida, 2002) định nghĩa sự sáng tạo theo một cách khác. Ông cho rằng đó là quá trình tạo ra những dạng mới có ý nghĩa, bao gồm một số dạng như sau: (1) Những vật được làm ra, được bán và được sử dụng.
(2) Những định lý, những chiến lược được áp dụng trong nhiều tình huống khác nhau. (3) Hệ thống những kiến thức, hiểu biết được nhiều người áp dụng. Sau nhiều định nghĩa khác nhau thì đến nghiên cứu của Amabile định nghĩa sự sáng tạo khá chi tiết, đầy đủ. Sự sáng tạo là việc tạo ra một sản phẩm hoặc giải pháp mới lạ, phù hợp đồng thời giải pháp phải là giải pháp mở, có nghĩa là không quá cụ thể, không có sự gò bó, cứng nhắc mà phải linh hoạt.
Các giải pháp, phương án được đưa ra không hẳn là mới hoàn toàn, nhiều khi chỉ mới một phần nhưng phải phù hợp để hoàn thành nhiệm vụ, giải quyết được vấn đề. Như vậy, nó mới có giá trị, đúng đắn, khả thi và phù hợp với mục tiêu cụ thể đã đề ra của tổ chức (Amabile T. Gần đây, một định nghĩa khá mới được đưa ra bởi (Dawson P., 2014), sự sáng tạo của nhân viên là quá trình mà các ý tưởng mới và hữu dụng được hình thành. Các định nghĩa trên đều nhấn mạnh sự sáng tạo của nhân viên là việc tạo ra những ý tưởng mới lạ, hữu ích, hình thành giải pháp, quy trình và được áp dụng để giải quyết vấn đề.
123doc 14 Để hiểu rõ hơn về sự sáng tạo, bên cạnh định nghĩa cũng có những quan điểm sai lầm về sự sáng tạo và những quan điểm sai lầm này làm hạn chế khả năng quản lý tính sáng tạo hiệu quả (Luecke, 2003).