Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Tổng quan lý thuyết và nghiên cứu liên quan Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2. Lược khảo lý thuyết 2. Khái niệm Bài viết lược khảo một số khái niệm của các nhà nghiên cứu, tổ chức thế giới và văn bản pháp luật trong nước. Đề tài sử dụng khái niệm vốn xã hội của Putnam (1995) và định nghĩa tiền lương từ Bộ Luật lao động Việt Nam.
Vốn xã hội Từ khía cạnh nguồn lực, Bourdieu (1986) định nghĩa vốn xã hội là tổng hợp những nguồn lực thực tế hay tiềm năng có liên quan đến việc sở hữu mạng lưới bền vững của nhiều hoặc ít mối quan hệ được thể chế hóa từ sự quen biết và công nhận lẫn nhau; hay nói cách khác nó là tư cách thành viên trong một nhóm cung cấp sự ủng hộ của vốn sở hữu tập thể và sự tín nhiệm cho mỗi thành viên. Dưới góc độ vốn con người, Coleman (1988) nhận thấy rằng vốn xã hội được định nghĩa bởi chức năng của nó. Vốn xã hội không phải là một thực thể đơn lẻ mà là nhiều thực thể khác nhau có hai đặc điểm chung: bao gồm một số khía cạnh của cấu trúc xã hội, và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động nhất định của các cá nhân hợp tác trong cấu trúc. Theo cách tiếp cận mạng lưới xã hội, Putnam (1995) đưa ra khái niệm vốn xã hội là các điểm đặc trưng của tổ chức xã hội như mạng lưới, chuẩn mực và niềm tin xã hội tạo điều kiện cho các chủ thể phối hợp và hợp tác cùng có lợi.
Dựa trên bài viết của những nhà nghiên cứu đi trước, Portes (1998) phát biểu rằng vốn xã hội là khả năng của các cá nhân có thể đạt được lợi ích nhờ vào tư cách thành viên trong mạng lưới xã hội hoặc cấu trúc xã hội khác. Để tìm hiểu sự phát triển kinh tế, Fukuyama (2001) quan niệm vốn xã hội là các chuẩn mực không chính thức thúc đẩy sự hợp tác giữa hai hoặc nhiều cá nhân. Sự có đi có lại tồn tại tiềm ẩn trong các giao dịch của chủ thể với tất cả mọi người nhưng chỉ được thực hiện thật sự trong mối quan hệ với bạn bè. Như vậy, sự tin cậy, mạng lưới quan hệ, xã hội dân sự và những thứ tương tự có liên quan tới vốn xã hội LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 đều là những hiện tượng phụ phát sinh như là kết quả của vốn xã hội nhưng không cấu thành nên vốn xã hội.
Ngân hàng Thế giới (1999) xác định vốn xã hội liên quan tới các tổ chức, các mối quan hệ và các chuẩn mực mà chúng hình thành nên chất lượng và số lượng tương tác xã hội của cộng đồng. Vốn xã hội không chỉ là các cơ quan tổ chức làm vững chắc thêm cho xã hội mà còn là chất keo hàn gắn con người lại với nhau. Tiền lương Theo Điều 90 của Bộ Luật lao động số 10/2012/QH13, “tiền lương là khoản tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động để thực hiện công việc theo thỏa thuận; bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và những khoản bổ sung khác; căn cứ vào năng suất lao động cũng như chất lượng công việc; và mức lương không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Chính phủ quy định.” Theo Công ước 95 của Tổ chức Lao động Quốc tế, “tiền lương như một khoản thù lao được trả bằng tiền mặt hoặc dưới dạng khác cho người lao động theo thời gian làm việc hoặc khối lượng công việc cùng với thời gian không làm việc như kỳ nghỉ hàng năm và nghỉ phép khác hoặc ngày lễ; loại trừ các khoản đóng góp của người sử dụng lao động cho người lao động đối với các chương trình an sinh và trợ cấp xã hội; và cũng loại trừ trợ cấp thôi việc và khoản thanh toán chấm dứt. Tiền lương Trong thời kỳ ra đời của kinh tế tư sản cổ điển, Petty là người đầu tiên đặt nền móng cho lý thuyết giá trị lao động với ba phạm trù giá cả là giá cả tự nhiên (giá trị hàng hóa), giá cả nhân tạo (giá cả thị trường của hàng hóa), giá cả chính trị (một loại giá cả tự nhiên đặc biệt).
Lý thuyết tiền lương của Petty xem lao động là hàng hóa và tiền lương là giá cả tự nhiên của lao động. Petty cho rằng giới hạn của tiền lương cao nhất là mức tư liệu sinh hoạt tối thiểu bởi vì nếu mức lương cao thì công nhân sẽ lười làm việc. Đây là quy luật sắt về tiền lương. Ngoài ra, Petty còn đưa ra lý thuyết mức lương tối thiểu.
Khi sản xuất chưa phát triển thì giai cấp tư bản LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 phải duy trì mức lương thấp để buộc công nhân làm việc. Đến thời kỳ phát triển của kinh tế chính trị tư sản cổ điển, hai nhà kinh tế học Smith và Ricardo hoàn thiện lý thuyết giá trị lao động hơn và vẫn xem tiền lương là giá cả tự nhiên của lao động. Tuy nhiên, Smith ủng hộ việc trả lương cao vì công nhân sẽ làm việc tích cực hơn và tăng năng suất lao động nếu họ nhận được mức lương cao. Ricardo lại đồng tính với lý thuyết quy luật sắt về tiền lương.
Ricardo nhận định rằng tiền lương là giá cả của những tư liệu sinh hoạt nuôi sống công nhân và gia đình họ nhưng nó chỉ nên ở mức tối thiểu vì đó là quy luật chung tự nhiên cho mọi xã hội, giúp kìm hãm tốc độ tăng dân số. Khác với các nhà kinh tế tư sản cổ điển, Marx cho rằng lao động không phải là hàng hóa, cái mà công nhân bán cho nhà tư bản không phải là lao động mà chính là sức lao động. Vì vậy, tiền lương là giá cả của hàng hóa sức lao động. Dưới chủ nghĩa tư bản, tiền lương được tính toán dựa trên hai hình thức cơ bản là thời gian và sản phẩm.
Trong thế kỷ XX, lý thuyết tiền lương của Keynes tranh luận rằng giá cả và tiền lương không linh động như các học thuyết cổ điển khẳng định bởi vì người lao động không chấp nhận những mức lương không đủ sống và thất nghiệp có khả năng xảy ra nếu tiền lương quá thấp. Nền kinh tế luôn tìm cách cân bằng giữa mức lương mà người lao động mong muốn và mức lương mà doanh nghiệp sẵn lòng trả. Theo Keynes, tiền lương có thể được hiểu theo hai khía cạnh là giá trị danh nghĩa và giá trị thực tế (có tính lạm phát), và người lao động thương lượng tiền lương với doanh nghiệp theo giá trị danh nghĩa. Dunlop (1957) trình bày lý thuyết về tiền lương hiện đại theo kinh tế học.
Trên cơ sở thiết lập tiền lương, thương lượng tập thể trở thành phương pháp chủ yếu ở các nước phương Tây. Hơn nữa, chính phủ tác động rất lớn đến cơ chế thiết lập tiền lương thông qua luật lương tối thiểu. Trong các giai đoạn khác nhau, các đảng chính trị được tạo ra hoặc ủng hộ bởi công đoàn trở nên có trách nhiệm hơn đối với những thỏa thuận liên quan đến vấn đề thiết lập tiền lương. Tại nhiều nước châu Âu, các khoản đền bù quan trọng như kỳ nghỉ có lương, các chương trình bảo hiểm khác nhau và trợ cấp gia đình được chính phủ ấn định.
Lý thuyết tiền lương hiệu quả của LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Đổi lại là họ mong đợi người lao động sẽ nỗ lực nhiều hơn nếu công việc tương đương có thể hoàn thành dễ dàng (như trường hợp tiền lương chỉ là bù trừ của thị trường). Điều này giải thích lý do tại sao có thất nghiệp không tự nguyện (involuntary unemployment). Vốn xã hội và tiền lương Trong nền kinh tế vi mô, tiền lương là một hàm của năng suất lao động và cân bằng trên thị trường khi người lao động có trình độ chuyên môn phù hợp với năng suất kỳ vọng của công việc (Jovanovic, 1979).
Năng suất của người lao động là tiềm ẩn nên không thể quan sát được và thông tin không hoàn hảo về nó tồn tại khi họ mới bắt đầu công việc. Vì thế, vốn xã hội sẽ có ý nghĩa khi các liên hệ xã hội cung cấp thông tin về người lao động tương lai và nhờ đó, người được giới thiệu có được công việc tốt nhất với mức lương cao (Granovetter, 1981). Ngoài ra, nhà tuyển dụng có khả năng muốn cung cấp cho người lao động được giới thiệu thông qua mạng lưới xã hội một mức lương cao hơn so với mức lương tối thiểu trên thị trường vì những lý do không liên quan đến năng suất lao động (Simon và Warner, 1992). Nói cách khác, sự thiên vị xuất hiện khi nhà tuyển dụng hài lòng với sự giới thiệu của nhân viên được uỷ thác (Corcoran và cộng sự, 1980).
Mặc dù thông tin và sự thiên vị là nguồn lực lan truyền qua mạng lưới người tìm việc nhưng chúng được huy động thông qua các loại quan hệ xã hội khác nhau. Theo mô hình lý thuyết của Bian và cộng sự (2015), vốn xã hội có tác động trực tiếp lẫn gián tiếp đến tiền lương. Đối với hiệu ứng trực tiếp, sự thiên vị và thông tin có khả năng dẫn tới mức lương cao hơn, trong đó sự thiên vị có thể ảnh hưởng đến tiền lương mạnh mẽ hơn thông tin. Về tác động gián tiếp, thông tin và sự thiên vị gián tiếp làm tăng tiền lương thông qua sự tương thích (matching) giữa công việc và người lao động, đồng thời sự thiên vị giúp họ được bổ nhiệm đến các vị trí có cơ hội kiếm nhiều tiền hơn.
Nếu vấn đề không tương thích xuất hiện thì khoảng cách tích cực giữa năng suất kỳ vọng và năng suất thực tế sẽ được quan sát. Trong ngắn hạn, người sử dụng lao động có thể trả lương cao hơn so với năng suất LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 thực sự của người lao động và thấy lợi ích của doanh nghiệp giảm. Trong dài hạn, hiệu ứng năng suất không kỳ vọng (ex post) có khả năng khiến cho doanh nghiệp giảm tiền lương của người lao động xuống (Delattre và Sabatier, 2007). Tác động tiêu cực của năng suất không kỳ vọng được xác định như là một ảnh hưởng từ các khoản chi phí đào tạo mà doanh nghiệp phải bỏ ra (Pellizzari, 2010).