Chương 1: Giới thiệu đề tài. Trong chương này, luận văn giới thiệu lý do chọn đề tài, đưa ra mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu. Đồng thời luận văn sơ lược về phương pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu mà luận văn tiếp cận; cuối cùng luận văn đưa ra nội dung nghiên cứu và ý nghĩa nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm.
Luận văn khái quát về cơ sở lý thuyết đối với quyết định chi trả cổ tức của các doanh nghiệp thông qua lý thuyết chi phí đại diện, lý thuyết tín hiệu, lý thuyết chu kỳ tồn tại và lý thuyết con chim trong bàn tay. Đồng thời luận văn cũng sơ lược các nghiên cứu trước đây khi xem xét về ảnh hưởng của các yếu tố đến quyết định chi trả cổ tức của doanh nghiệp. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Trong chương này, luận văn đề cập đến dữ liệu mà nghiên cứu sử dụng, cũng như quy trình lựa chọn các doanh nghiệp niêm yết được dùng trong luận văn.
Sau đó luận văn đưa ra mô hình nghiên cứu dựa vào các đề nghị của Jiang và các cộng sự (2017), đồng thời đề cập cách đo lường biến và phương pháp mà luận văn dùng để hồi quy mô hình nghiên cứu xem xét ảnh hưởng của thanh khoản cổ phiếu đến mức độ chi trả cổ tức của các doanh nghiệp. Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Chương này luận văn thống kê mô tả các biến và ma trận tương quan. Cuối cùng đưa ra các kết quả nghiên cứu có được từ việc ước lượng mô hình nghiên cứu và thảo luận các kết quả đạt được.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Chương 5: Kết luận. Cuối cùng trong luận văn này, luận văn đề cập các kết luận chính, đưa ra các khuyến nghị chính sách dựa vào các kêt quả đạt được và đề cập đến hạn chế của đề tài cũng như các hướng nghiên cứu tiếp theo cho các đề tài xem xét ảnh hưởng của thanh khoản cổ phiếu đến mức độ chi trả cổ tức của các doanh nghiệp. Ý nghĩa đề tài Luận văn này cung cấp một bằng chứng thực nghiệm, đóng góp vào sự hiểu biết về ảnh hưởng của tính thanh khoản trên thị trường chứng khoán lên mức chi trả cổ tức của các doanh nghiệp của Việt Nam. Dựa vào nền tảng đó, các nhà quản lý doanh nghiệp có thêm cái nhìn toàn diện hơn trong các quyết định tài chính để đạt được mục tiêu tối đa hóa hiệu quả trong quyết định phân chia lợi nhuận của doanh nghiệp.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM 2. Lý thuyết chi phí đại diện Mâu thuẫn đại diện xuất phát từ sự phân chia giữa vấn đề sở hữu và kiểm soát của công ty. Do đó, các công ty có quyền cổ đông bị giới hạn thì dường như sẽ phải đối mặt với chi phí đại diện cao hơn bởi vì các nhà quản trị của các công ty này có thể khai thác tốt sự yếu kém của quyền cổ đông và do đó sẽ đặt lợi ích cá nhân của họ lên trên các mục tiêu của các cổ đông (tối đa hóa lợi nhuận của công ty).
Sự quan trọng của việc kiểm soát của công ty được ghi nhận bởi Allen và các cộng sự (2000), trong đó các tác giả đã cho rằng các nhà đầu tư tổ chức dường như ưa thích muốn sở hữu cổ phần của các công ty có sự thanh toán cổ tức thường xuyên và loại hình nhà đầu tư này sẽ thường xuyên theo dõi các hoạt động của công ty hơn các cổ đông nhỏ của công ty. Cổ tức có thể được sử dụng để thiết lập sự tự kỷ luật đối với các nhà quản trị của công ty. Jensen (1986) cho rằng các cổ đông của công ty có thể tối thiểu hóa tiền mặt mà các nhà quản trị đang kiểm soát và do đó sẽ làm giảm các cơ hội mà các nhà quản trị sẽ sử dụng để chi tiêu vào các mục đích cá nhân hoặc đầu tư vào các dự án NPV âm. Một cách để loại bỏ tiền mặt không cần thiết đối với công ty là thực hiện chính sách cổ tức và gia tăng mức chi trả cổ tức.
Jain và Kini (1999) lập luận rằng cổ tức sẽ làm chuyển giao tài sản từ các chủ nợ sang các cổ đông của công ty. Điều này có thể làm giảm các yêu cầu của chủ nợ trong trường hợp các công ty đang phải đối mặt với các nghĩa vụ tài chính. Các chủ nợ của các công ty này sẽ yêu cầu các cam kết với công ty để hạn chế mức cổ tức được chi trả bởi công ty. Do đó, các chủ nợ có thể tự bảo vệ mình khỏi sự tước đoạt tài sản bởi các cổ đông và chắn chắn rằng giá trị của công ty sẽ không bị giảm bởi quyết định chi trả cổ tức của các cổ đông.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Theo Jensen và Meckling (1976), các công ty có thể giảm vấn đề đại diện bằng cách phát hành nhiều nợ hơn và chi trả một tỷ lệ cổ tức cao hơn, hoặc giảm dòng tiền của công ty. Các tác giả lập luận rằng nếu lợi nhuận của các công ty không được phân bổ cho các cổ đông dưới dạng cổ tức thì các nhà quản trị có thê sử dụng lợi nhuận chưa phân phối này để thực hiện các dự án không có lợi nhuận hoặc các hành đông chi tiêu nhưng không làm tối đa hóa tài sản của cổ đông. Tuy nhiên, việc thực hiện chính sách chi trả cổ tức có thể làm giảm vấn đề đại diện này bằng cách giảm tiền mặt dư thừa của công ty và đảm bảo với các cổ đông rằng công ty đang được quản trị theo mục tiêu của các cổ đông của công ty. Do đó, có thể lập luận rằng chính sách chi trả cổ tức có thể giảm bớt mâu thuẫn đại diện của công ty bằng cách làm giảm dòng tiền tự do của công ty mà các nhà quản trị có thể sử dụng cho các hoạt động của công ty, những người không nhất thiết phải thực hiện theo lợi ích của các cổ đông của công ty (Farinha , 2003).
Theo lý thuyết đại diện, chính sách chi trả cổ tức có thể bị ảnh hưởng bởi mức độ nghiêm trọng của chi phí đại diện và chi phí đại diện cũng có tác động đến quyền của cổ đông (Gompers và các cộng sự, 2003). Do đó, tồn tại mối quan hệ giữa việc chi trả cô tức và quyền của cổ đông. Ngoài ra, chính sách chi trả cổ tức có thể giảm thiểu được chi phí đại diện theo hai cách sau. Đầu tiên, Raeja (2005) đã kỳ vọng rằng tác động này của chính sách chi trả cổ tức là do sự phân chia giữa vấn đề sở hữu và vấn đề kiểm soát.
Một công ty có mức độ dòng tiền tự do ổn định thì sẽ có thể có khuynh hướng đầu tư quá mức thông qua việc chấp nhận các dự án có NPV âm (Jensen, 1986). Nếu các nhà quản trị đang đầu tư quá mức, thì một sự gia tăng trong chính sách chi trả cổ tức sẽ có thể làm giảm dòng tiền dư thừa của công ty với các yếu tố khác không đổi, và do đó sẽ có thể giảm bớt được vấn đề đầu tư quá mức của các nhà quản trị công ty. Cho nên, lượng chi trả cổ tức có thể giúp các công ty kiểm soát được vấn đề đại diện bằng cách giảm tiền mặt LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 dư thừa mà các nhà quản trị có thể sử dụng để thực hiện các dự án không lợi nhuận. Thứ hai, việc chi trả cổ tức có thể đóng vai trò như là một cơ chế kiểm soát chi phí đại diện bằng cách đưa công ty vào sự giám sát bởi thị trường sơ cấp (Decamps và các cộng sự, 2006).
Một sự chi trả cổ tức cao sẽ làm gia tăng khả năng mà công ty sẽ phải phát hành thêm các cổ phần thông thường mới vào thị trường vốn. Khi đó sẽ làm cho các ngân hàng đầu tư, các công ty chứng khoán và các nhà cung cấp vốn sẽ nghiên cứu về sự quản trị của các công ty này. Kết quả là sẽ có thể giảm bớt chi phí đại diện của công ty. Lý thuyết tín hiệu Lý thuyết tín hiệu (Bhattacharya, 1979) cho rằng các nhà quản trị, được xem như người nội bộ, lựa chọn chính sách cổ tức để phát tín hiệu thông tin cho các đối tượng bên ngoài.
Các nhà quản trị có động cơ để thực hiện hành động như thế khi họ tin rằng cổ phiếu của công ty đang bị định dưới giá (undervalued). Akerlof (1970) đưa ra vấn đề bất cân xứng thông tin bằng việc phân tích thị trường “chanh” với ví dụ về thị trường ô tô. Cụ thể, trong trường hợp hiện diện bất cân xứng thông tin, “các quả cherry” (ô tô tốt) và “các quả chanh” (ô tô xấu) đều được bán với giá nhau nhau và chỉ những người chủ cửa hàng mới có thể phân biệt được chất lượng của những chiếc xe ô tô này. Do đó, trong môi trường có sự hiện diện của vấn đề bất cân xứng thông tin, các chủ sở hữu của những chiếc xe ô tô tốt sẽ cố gắng truyền đạt thông tin tích cực ra bên ngoài.
Tương tự như vậy, các nhà quản trị thực hiện chính sách chi trả cổ tức dường như được xem như là tín hiệu cho thấy rằng các công ty này không phải là “các quả chanh”, mà các nhà quản trị đang có các triển vọng tích cực của công ty trong tương lai. Lý thuyết tín hiệu đầu tiên được biên soạn bởi Bhattacharya (1979) tìm thấy rằng mặc dù tồn tại các bất lợi của thuế, khi công ty có dòng tiền kỳ vọng trong tương LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 lai tốt, thì lập tức các nhà quản trị sẽ truyền đạt thông tin tích cực này thông qua việc gia tăng mức chi trả cổ tức đối với các cổ đông của công ty để cho thayass rằng công ty đang kỳ vọng một mức lợi nhuận cao hơn trong tương lai. Mặt khác, Easterbrook (1984) đã đưa ra một quan điểm ngược lại với lý thuyết tín hiệu. Trong đó tác giả nhấn mạnh dấu hiệu của việc chi trả cổ tức thì chưa rõ ràng.
Easterbrook (1984) lập luận rằng bởi vì các công ty có thể thuê các đối tượng bên ngoài và tiết lộ các triển vọng và lợi nhuận của công ty trong tương lai, và khi đó thông tin này sẽ có sẵn đối với các nhà đầu tư bên ngoài.