CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ác động của cung tiền đến lãi suất và tính thanh khoản được đề xuất lần đầu ti n vào năm 1961 bởi Friedman – nhà kinh tế học từng đoạt giải Nobel sau đó. ác động nghịch biến của cung tiền đến lãi suất đã được xác nhận bởi một loạt các bài nghi n cứu, trong khi nhận định về tác động dương của cung tiền đến thanh khoản lại chưa có nhiều ủng hộ. rong khi Hamilton (1997) đã cố gắng để cho thấy một hiệu ứng thanh khoản bằng cách sử dụng quan sát hàng ngày, những nghi n cứu của các nhà kinh tế học khác (Pagan & Robertson, năm 1995; Goodfriend, năm 1997; Leeper & Gordon năm 1992; Edmond & Weill, 2005; hornton, 2007a) đã không thành công trong việc xác minh nhận định này trong các báo cáo thực nghiệm của họ. Hiệu ứng thanh khoản vì vậy v n chưa được thống nhất về m t thực nghiệm.
Ngoài ra, những nghi n cứu về thanh khoản đã giảm đi trong những năm 2000. Vào tháng 9 năm 2012, nhóm ba tác giả gồm Mohamed Ariff, in-fah Chung và Shamsher M đã sử dụng dữ liệu hàng quý từ năm 1960-2011 và hệ phương trình đồng thời để nghi n cứu về mối quan hệ giữa cung tiền, thanh khoản và giá cổ phiếu tại anada. ết quả của bài nghi n cứu đã cho thấy tác động dương của cung tiền đến thanh khoản đối với anada. Bằng cách mở rộng hệ phương trình với một phương trình thanh khoản và sau đó kiểm soát ảnh hưởng của lợi nhuận, các tác giả tìm thấy một tác động dương có ý nghĩa thống k của tính thanh khoản đến giá cổ phiếu.
Bài nghi n cứu đã khắc phục được một số thiếu sót trong các nghi n cứu trước, những kết quả thu được đã xác nhận ảnh hưởng của cung tiền đến thanh khoản và tác động của thanh khoản đến giá tài sản. Bài luận văn này dựa theo nghi n cứu của 3 tác giả tr n để tìm hiểu về một vấn đề tương tự là: liệu rằng tại Việt Nam thì giữa cung tiền, thanh khoản và giá cổ phiếu có quan hệ với nhau hay không? Bài viết này tiếp cận vấn đề còn chưa được giải quyết ở Việt Nam nhận định về mối quan hệ giữa cung tiền và thanh khoản bằng cách xây dựng một mô hình kiểm định đáng tin cậy. Bài viết áp dụng một hệ phương trình để kiểm định sự tồn tại hiệu ứng tiền đến thanh khoản. Mô hình kiểm định này kết hợp với một số cải tiến kinh tế 3 lượng cần thiết để loại bỏ các vấn đề tính toán g p phải trong các nghi n cứu trước đó, trong khi v n thể hiện được điểm gãy cấu trúc do ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu trong các mô hình kiểm định.
Một sự đổi mới của nghi n cứu này là phần mở rộng của lí thuyết cung tiền về thanh khoản bao gồm giá cổ phiếu. Như là một cách kiểm định ch t chẽ nhất các giả thuyết, bài viết kiểm định nhân quả mối li n hệ giữa cung tiền và thanh khoản, cũng như giá cổ phiếu trong khi kiểm soát lợi nhuận. Bài viết sử dụng chuỗi dữ liệu quan sát hàng quý của nền kinh tế Việt Nam trong khoảng thời gian 12 năm từ quý 1 năm 2001 đến quý 4 năm 2012 được sử dụng để chạy các mô hình hồi quy. ết quả cuối cùng mà bài viết này hướng đến là tìm ra đáp án thõa đáng cho 3 câu hỏi đối với Việt Nam là Cung tiền có tác động đến thanh khoản và giá cổ phiếu hay không? Tác động (nếu có) của thanh khoản đến giá cổ phiếu là nhiều hay ít? Những tác động n u tr n sẽ thay đổi ra sao khi xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu? Phần tiếp theo, nội dung chính của bài viết này được sắp xếp như sau hương 2: Thảo luận về thuyết cung tiền, cũng như các biến của mô hình, trong đó tập trung thảo luận về (i) hiệu ứng thanh khoản và (ii) giá cổ phiếu.
hương 3: Giải thích các bước chuẩn bị dữ liệu, các mô hình kiểm định cho các kiểm định quan hệ nhân quả, hệ phương trình và mô hình hồi quy. hương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. hương 5: Kết luận. 4 CHƯƠNG 2: CUNG TIỀN, THANH KHOẢN VÀ GIÁ CHỨNG KHOÁN Phần này trình bày ngắn gọn các nghi n cứu có li n quan.
ho đến nay v n không có bằng chứng rõ ràng nào mô tả về nhận định hiệu ứng thanh khoản. Mối liên kết giữa tính thanh khoản và giá chứng khoán (tài sản) được khảo sát trước khi xem xét phương trình cung tiền nội sinh.1 HIỆU ỨNG THANH KHOẢN Hiệu ứng thanh khoản lên lãi suất được giới thiệu bởi Friedman (1961) để mô tả tác động đầu tiên trong số 3 tác động gây ra bởi những thay đổi ngoại sinh không mong đợi trong cung tiền (2 nhân tố tác động còn lại là thu nhập và lạm phát dự kiến). Trong khi vấn đề liệu rằng thay đổi trong cung tiền có d n đến lãi suất thay đổi theo hướng ngược lại hay không còn đang bàn cãi (Bryant, Holtham & Hooper, 1988) thì nghiên cứu của Laidler (1985) đã kết thúc vấn đề này khi đưa ra kết quả hỗ trợ mạnh mẽ cho hiệu ứng thanh khoản. Mối liên kết giữa cung tiền và lãi suất đã được thừa nhận bởi nhiều nhà kinh tế và nhà hoạch định chính sách tr n cơ sở những bằng chứng rằng sự thay đổi tiền tệ tác động lên lãi suất.
Dự trữ tiền m t là một phần trong danh mục đầu tư của người nắm giữ tài sản. Sự gia tăng trong dự trữ tiền m t sẽ làm giảm lợi suất từ đồng tiền được nắm giữ. hay đổi trong cung tiền vì thế đại diện cho sự thay đổi tỉ suất sinh lợi của tiền. M t khác, cầu tiền là một hàm của lãi suất cũng như lợi suất trên vốn cổ phần, tương ứng với trái phiếu và cổ phiếu.
Bất kỳ sự tăng l n nào của cung tiền sẽ d n đến tất cả mức lãi suất và lợi suất nói chung trong cầu tiền giảm xuống. Tốc độ mà lợi suất trên một tài sản phản ứng tùy thuộc vào tỉ lệ số tiền nắm giữ vượt quá trạng thái cân bằng sẽ được điều chỉnh khi người nắm giữ tiền cân đối lại danh mục để đối phó với cú sốc cung tiền. Điều này cung cấp bằng chứng cho thấy ngân hàng trung ương sử dụng tiền dự trữ để gây ảnh hưởng như thế nào. Tỉ lệ phản ứng của các mức giá tài sản khác nhau tùy thuộc vào những người mua (tài sản) tiềm năng thay đổi danh mục tài sản nhanh như thế nào bằng cách can thiệp vào việc nắm giữ tiền vượt mức.
Nếu những người mua tiềm năng này, chẳng hạn như định chế, dealers và các cá 5 nhân giàu có phản ứng với những thay đổi trong cân đối tiền của họ khi họ thực hiện cân đối lại danh mục đầu tư, khi đó lợi suất trên chứng khoán doanh nghiệp cũng bị ảnh hưởng. Vì thế, giá chứng khoán cũng phải phản ứng với sự thay đổi cung tiền với một hệ số âm thông qua việc cung tiền tác động đến kênh lãi suất. Tiền đóng một vai trò nổi bật trong các lí thuyết cơ bản về cơ chế truyền d n chính sách tiền tệ. Tuy nhiên, có rất ít bằng chứng có ý nghĩa thống kê về hiệu ứng thanh khoản được xác nhận trong các nghiên cứu trước đây.
Những nghiên cứu đó rất phổ biến trong những năm 1970 – 1990 trong khi mối quan tâm cho đề tài này đã suy yếu trong những năm 2000. Những nghiên cứu trước đó nỗ lực để xác định hiệu ứng thanh khoản đã không thành công là do hầu hết các nhà nghiên cứu sử dụng dữ liệu có tần số thấp (chúng chỉ lí tưởng cho đánh giá tác động nhanh của cung tiền lên lãi suất). Có thể là do các nghiên cứu đó phải kiểm soát các ảnh hưởng của chính sách tiền tệ tác động lên các biến kinh tế. Hamilton (1997) đã tìm cách phát triển cách đo lường thuyết phục hơn về hiệu ứng thanh khoản bằng cách ước tính cách thức phản ứng của lãi suất li n bang đến cú sốc cung tiền dự trữ ngoại sinh: ông sử dụng số liệu hàng ngày để ước tính hiệu ứng thanh khoản hàng ngày.
Với những nghiên cứu khác, việc thiếu đi sự hỗ trợ của một hiệu ứng thanh khoản sử dụng kết hợp nhân tố dự trữ và tiền tệ tần số thấp có thể do sự phản ứng chậm của thu nhập danh nghĩa ho c kỳ vọng lạm phát của cú sốc cung tiền ho c sự bất lực của người nghiên cứu để cách ly cú sốc tiền tệ ngoại sinh ho c thậm chí là phương pháp kiểm định. Các nhà nghiên cứu đã nỗ lực vượt qua những vấn đề này, sử dụng Structural vector aggregates (SVAR). Mô hình SVAR được ước tính bằng việc sử dụng một kết hợp đa dạng của tiền và dự trữ tiền. Dừ vậy, thật khó để tìm thấy bằng chứng thuyết phục của hiệu ứng thanh khoản trong những mô hình này như đã được tuyên bố bởi Pagan và Robertson (1995).
Tuy nhiên, hầu hết các nhà kinh tế thực nghiệm và nhà hoạch định chính sách tin rằng hiệu ứng thanh khoản xuất hiện trong dữ liệu của nền kinh tế Hoa Kỳ, dù mức độ của hiệu ứng còn đang tranh luận, nguyên nhân phần lớn là vì những vấn đề về nhận diện trong công tác thống kê trước đó. 6 Khi vắng m t các giả định nhận biết mạnh, không có bằng chứng phù hợp của hiệu ứng thanh khoản trong dữ liệu của Hoa Kỳ, Leeper và Gordon (1992). Những nghiên cứu khác cho thấy rằng hiệu ứng thanh khoản phản ánh phần nào sự sắp xếp của nền kinh tế trên một điểm cân bằng nhất định khi nhiều giải pháp được áp dụng. Vì thế, Goodfriend (1997) đề xuất một mô hình trong đó các công ty cạnh tranh không hoàn hảo đối m t với một đường cầu xoắn.
Quán tính của giá nổi lên một cách nội sinh tạo ra những ảnh hưởng thực đến chính sách tiền tệ, trong đó hiệu ứng thanh khoản có thể đóng một vai trò nào đó.2 GIÁ CHỨNG KHOÁN Nếu các cá nhân có thể nắm giữ tài sản trong hai dạng, tiền ho c cổ phiếu thường, mô hình danh mục đầu tư của Copper (1970) cũng như của Palmer (1970) có thể hấp d n để nhận biết tác động của cung tiền lên giá tài sản (cổ phiếu). Lợi suất biên của tài sản chứng khoán quyết định số lượng tài sản, ví dụ như cổ phần mà các cá nhân sẽ nắm giữ.