CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHỈ SỐ KẾT NỐI HÀNG HẢI QUỐC GIA VÀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 1. CHỈ SỐ KẾT NỐI HÀNG HẢI QUỐC GIA (LINER SHIPPING CONNECTIVITY INDEX) 1. Khái niệm và đặc điểm Chỉ số kết nối hàng hải quốc gia là chỉ số được phát triển bởi Liên hợp Quốc về Thương mại phát triển (UNCTAD), thể hiện mức độ kết nối mạng lưới hàng hải của một quốc gia với mạng lưới vận chuyển toàn cầu. Đặc điểm: Chỉ số hàng hải quốc gia là một giá trị gần đúng cho khả năng tiếp cận thương mại quốc tế của một quốc gia.
Vận tải hàng hải là cốt lõi của thương mại hàng hóa quốc tế. Ước tính theo khối lượng, 80% hàng hóa được vận chuyển bằng đường biển. Tỷ lệ phần trăm thậm chí còn cao hơn đối với hầu hết các nước đang phát triển và tính theo tổng dịch vụ vận tải tính bằng tấn-km. Một quốc gia có kết nối vận tải hàng tốt sẽ có khả năng tiếp cận tốt với thị trường toàn cầu.
Theo UNCTAD (2014), chỉ số hàng hải càng cao và có thể dự đoán được sẽ quyết định khả năng kết nối với các thị trường nước ngoài. Với điều này, sản phẩm của quốc gia được biết đến và dẫn đến khả năng cạnh tranh trên thị trường toàn cầu. Không chỉ vận chuyển bằng tàu biển là quan trọng đối với các hãng tàu, mà nó còn đóng góp vào sự hình thành của các mạng lưới vận chuyển tàu và các cảng trong mạng lưới. Vị trí cảng, sự hấp dẫn và sự đa dạng của các dịch vụ trở thành các chỉ số đánh giá tính cạnh tranh của thương mại.
Sự phát triển của vận tải container cùng với mạng lưới vận tải biển dẫn đến sự phát triển về mặt tổng thể của vận tải đường biển. Đo lường LSCI thể hiện được mức độ kết nối của các quốc gia với mạng lưới vận tải đường biển toàn cầu. Hầu hết thương mại ở nước ngoài đối với hàng hóa bán thành phẩm và sản xuất được vận chuyển bằng dịch vụ vận chuyển container, trong trường hợp đó, LSCI được cung cấp bản cập nhật hàng năm về kết nối của một quốc gia với mạng lưới toàn cầu trong vận tải đường biển. Nó được tính bằng giá trị trung bình có trọng số của năm thành phần cốt lõi: (1) số lượng tàu, (2) khả năng chuyên chở container của các tàu đó, (3) số lượng dịch vụ được cung cấp bởi các công ty, (4) số lượng công ty cung cấp 6 dịch vụ vận chuyển bằng tàu và (5) kích thước tàu tối đa.
Số lượng tàu: Tổng số lượng tàu mỗi năm ghé qua các cảng của một quốc gia và lượng tàu xuất phát từ cảng của quốc gia đó đến các cảng khác có thể dành cho các hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hoặc trung chuyển. Tham số này có thể phản ánh một phần về số lượng dịch vụ triển khai ở cảng và số lượng bến đỗ có sẵn ở cảng. Số lượng tàu đi qua một quốc gia càng lớn thì có thể đánh giá được mức độ kết nối của quốc gia này càng tốt. Sức chở container hàng năm: Tổng số lượng container hàng năm mà lượng tàu của mỗi quốc gia có thể chở, có đơn vị tương đương là 20feet (TEU).
Mỗi lần chuyên chở, công suất của con tàu có thể không được sử dụng hết nhưng nếu có thể tận dụng hết sức chứa của con tàu đồng nghĩa với việc hàng hóa được chuyên chở với số lượng lớn hơn, chi phí vận tải thấp hơn. Kích thước tàu tối đa: Tham số này phản ánh về chất lượng và quy mô bến cảng của một quốc gia. Để có thể là nơi cập cảng cho các con tàu lớn, cơ sở hạ tầng ở các cảng cần được nâng cao. Số lượng dịch vụ được cung cấp bởi các công ty: Tổng số lượng các dịch vụ vận chuyển được cung cấp.
Số lượng công ty triển khai dịch vụ vận chuyển: Tổng số lượng các công ty triển khai dịch vụ vận chuyển container bằng tàu ghé qua cảng của quốc gia, các công ty này không nhất thiết phải là các công ty nội địa. Số lượng công ty càng lớn, tính cạnh tranh càng cao và dẫn đến chi phí vận chuyển càng giảm, khách hàng có nhiều sự lựa chọn hơn. Chỉ số của một quốc gia được tạo, cho mỗi thành phần trong số năm thành phần; sau đó, giá trị của quốc gia được chia cho giá trị lớn nhất của thành phần đó trong năm 2004. Chỉ số tạo ra giá trị 100 cho quốc gia có chỉ số trung bình cao nhất trong năm thành phần vào năm 2004.
Sau đó, đối với mỗi quốc gia, giá trị trung bình của năm thành phần được tính toán. Trong các năm sau đó, những số trung bình đó sau đó được chia cho mức trung bình tối đa của năm 2004 và nhân với 100. Các yếu tố ảnh hưởng đến chỉ số kết nối hàng hải quốc gia Tình hình kinh tế: Tình hình kinh tế của quốc gia, khu vực và trên thế giới có ảnh hưởng lớn đến các thành phần cấu thành chỉ số kết nối hàng hải quốc gia. Điều này được 7 thể hiện rất rõ kể từ khi cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu từ cuối năm 2008 cộng với sự bất ổn chính trị diễn ra tại châu Á, cuối tháng 3 năm 2009 có gần 500 tàu container phải nằm chờ cho thuê, có những tàu neo chờ đến 3, 4 tháng.
Một số chủ tàu container của Việt Nam bị trả tàu về hoặc không có ai thuê đã đưa vào khai thác tuyến nội địa làm cho giá cước vận tải nội địa sụt giảm. Việc các nước có mức tiêu thụ nhiên liệu cao như Mỹ, Châu Âu, Trung Quốc thực hiện cắt giảm chi phí do khủng hoảng đã làm giảm nhu cầu tiêu thụ dầu của thế giới, vì thế mà giá cước vận tải của tàu chở dầu cũng giảm. Những khó khăn nối tiếp khó khăn đã khiến các hãng tàu phải cơ cấu lại tuyến hoạt động, thu nhỏ qui mô nhằm cắt giảm chi phí thấp nhất có thể. Đối mặt với cuộc khủng hoảng dư cung, nhiều hãng tàu container đã đối phó với việc dừng khai thác tàu bằng cách giảm tốc độ khai thác.
Thậm chí có những hãng tàu bị phá sản hay rơi vào nguy cơ bị phá sản, có hãng tàu đã phải rút khỏi thị trường vận tải. Các hãng tàu trải qua cuộc sàng lọc, những hãng yếu kém không đủ năng lực cạnh tranh đành chấp nhận rút khỏi ngành, những hãng có khả năng và tiềm lực tài chính thì đang cố gắng cầm cự chờ đến lúc kinh tế hồi phục. Tình hình chính trị: Tình hình chính trị ảnh hưởng đến sự lưu thông của tàu và sự liên tục của các dịch vụ hàng hải. Nếu một quốc gia hay một khu vực có tình hình chính trị bất ổn, mạng lưới vận chuyển vận chuyển bằng tàu có thể bị đứt gãy, tàu và hàng hóa có thể bị ứ đọng ở cửa khẩu quốc gia.
Các dịch vụ hàng hải do đó cũng bị giảm lượng cầu khi số lượng các tàu cập cảng giảm. Hiềm khích chính trị đã dẫn đến các liên minh lớn trên thế giới hạn chế hoặc không giao thương với nhau như lệnh trừng phạt Nga của các nước Châu Âu nhằm bóp nghẹt kinh tế Nga và thuyết phục Tổng thống Vladimir Putin từ bỏ ủng hộ phe ly khai ở Ukraine. Đây là lệnh trừng phạt nặng nề nhất kể từ thời chiến tranh lạnh ảnh hưởng mạnh đến kinh tế Nga, góp phần làm giảm cầu vận tải biển. Giá cước và chi phí vận chuyển: Giá cước là yếu tố quan trọng tác động đến cầu vận tải biển, nếu tỷ trọng cước trong tổng cấu trúc chi phí của hàng hóa càng lớn thì chủ hàng càng phải cân nhắc bởi nếu quá cao tới mức không có lợi cho chủ hàng sẽ khiến họ hạn chế việc kinh doanh làm cho sản lượng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển giảm, cầu vận tải giảm, gây bất lợi cho người vận tải.
Chi phí vận chuyển là nhân tố trực tiếp và có ý nghĩa quyết định đến sự thay đổi cầu vận tải trong dài hạn. Khi chi phí vận 8 chuyển tăng cao tới mức các chủ hàng không thể trả đủ tiền cước thì cầu vận tải biển có xu hướng giảm. Khi giá nhiên liệu tăng cao thì chi phí vận chuyển tăng, cước vận tải tăng. Các yếu tố như phí cảng, điều kiện tự nhiên của tuyến vận chuyển cũng ảnh hưởng đến chi phí vận chuyển, những vùng có điều kiện tự nhiên khí hậu càng khắc nghiệt thì cước phí càng tăng làm giảm cầu vận chuyển trên tuyến đó.
Vì thế tốc độ tăng chi phí trên các tuyến thương mại không giống nhau. THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 1. Khái niệm và đặc điểm Thương mại quốc tế là việc trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa các chủ thể (quốc gia, tổ chức quốc tế hoặc thương nhân.) ở các quốc gia khác nhau trên cơ sở nguyên tắc trao đổi ngang giá nhằm nhằm mục đích sinh lợi. Thương mại quốc tế có 3 đặc điểm chính sau đây: 1.
Đối tượng trao đổi trong thương mại quốc tế: là hàng hóa và dịch vụ. Hàng hóa và dịch vụ được trao đổi, mua bán hoặc cung ứng qua biên giới thông qua các hoạt động như xuất khẩu, nhập khẩu, đầu tư, … 2. Chủ thể thực hiện các hoạt động thương mại quốc tế: chủ yếu là các thương nhân, ngoài ra còn có các tổ chức quốc tế và chính phủ cũng có thể tham gia hoạt động này 3. Nguồn luật điều chỉnh: là pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia.
Trong đó, luật quốc tế bao gồm điều ước quốc tế, tập quán thương mại quốc tế và án lệ. Còn pháp luật quốc gia thì bao gồm hệ thống các văn bản pháp luật do từng quốc gia ban hành như: luật, nghị định, thông tư, chỉ thị, quyết định … 4. Tiền tệ thanh toán được sử dụng trong các hoạt động thương mại quốc tế có thể là ngoại tệ đối với tất cả các nước tham gia vào thương mại quốc tế cũng có thể là nội tệ của một nước nào đó. Việc quyết định sử dụng đồng tiền nào phụ thuộc vào quá trình đàm phán, thỏa thuận giữa các bên.
Thông thường, đồng tiền được sử dụng là các ngoại tệ mạnh, ngoại tệ tự do chuyển đổi. Hình thức giao dịch thương mại quốc tế Buôn bán thông thường: Hoạt động mua bán hàng hóa phổ biến, diễn ra thông 9 thường gồm người bán và người mua dựa trên mối quan hệ cơ bản Tiền – Hàng.