Chương 1. TONG QUAN CHUNG VE LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU 1. Giới thiệu về công nghệ tạo hình cục bộ liên tục (Incremental Sheet Forming - ISF) 1. M6 ta ISF là kỹ thuật tạo hình không khuôn cho vật liệu tắm.
ISF sử dụng một dụng cụ dau tròn chạy theo một quỹ đạo xác định được điều khiển bằng chương trình số làm biến dạng tam kim loại được kẹp chặt trên bàn máy hoặc đồ gá để tạo ra hình dáng sản phẩm mong muốn. Vật liệu tâm có thể là kim loại hoặc polymer. Dụng cụ được gan trên máy điều khiển số, có thé là máy ISF chuyên dùng hoặc máy CNC ba trục hoặc cánh tay robot. Từng lớp vật liệu theo phương ngang sẽ biến dạng dẻo cục bộ liên tục trong suốt quá trình gia công để hình thành nên hình dạng cuối cùng của sản pham[2].
Bề dày của mỗi lớp phụ thuộc vào bước tiến theo phương thăng đứng. Az của quỹ dao dung cụ. Các bước trong quy trình ISF được mô tả trong (Hình 1.1): 1) Phôi được kẹp chặt trên đồ gá. 2) Dụng cụ đi xuống và tiếp xúc với phôi.
3) Dụng cụ chuyển động theo quỹ đạo để tạo hình lớp đầu tiên. 4) Dụng cụ lặp lại chuyển động để tạo hình các lớp tiếp theo cho đến hết quỹ đạo. [} Dụngcụ Dụng cụ kẹp - _ z2 ⁄2 ⁄ ôi N A1 “ ẤN eX ¬--Š. “vua \N bày ` 3 4 HnhÏl]l Nguym ISF 2 Với kỹ thuật này, một chi tiết kim loại tâm chỉ được gia công trong thời gian ngăn từ mô hình CAD ma không can qua các công đoạn làm khuôn và sửa HVTH: Trần Trọng Hỷ Trang | Luận Văn Thạc Sĩ GVHD: GS.
Nguyễn Thanh Nam khuôn vốn phức tap và đắt tiền (Hình 1. Các bước trong quy trình gia công bằng phương pháp ISF Tạo quỹ đạo dụng cụ và PIỆPHBIHHH 3D - CAD xác lập thông sô công ch HN J J “ng tình Chuẩn bị phôi, dd gá +Z / Gia công Kiếm tra Sản phâm Hf nh 1. Quy trình ISF Quy trình ISF được mô tả như (Hình 1. Mô hình 3D của sản phẩm kim loại tam được thiết kế trên các phan mém CAD (AutoCad, Creo, Solidwork hoặc Catia,.), hoặc được xuất ra từ các phan mềm 3D khác theo các chuẩn IGES, STEP.
Từ dữ liệu 3D CAD này, thông qua các ứng dụng CAM (Creo hay Catia, .), quỹ đạo của dụng cụ và các thông số công nghệ (vận tốc vòng của dụng cụ, bước tiễn, chiều sâu.) được thiết lập. Thông tin về quỹ đạo dung cụ va thông số công nghệ chứa trong tập tin mà máy CNC đọc được. Quá trình ga đặt phôi lên máy CNC được thực hiện thông qua đồ ga chuyên dùng, đồng thời tiễn hành đồ chương trình vào máy và gia công. Việc chuẩn bi gia công trong phương pháp ISF mất ít thời gian và linh hoạt vì hầu hết các quá trình hiệu chỉnh và thay đổi thiết kế đều được thực hiện trên phân mém.
Mặc dù năng suất không cao băng phương pháp dập nhưng ISF rất phù hợp trong việc tạo mâu san phâm, trong sản xuât đơn chiéc và sửa chữa. Đặc biệt, HVTH: Trần Trọng Hỷ Trang 2 Luận Văn Thạc Sĩ GVHD: GS. Nguyễn Thanh Nam ISF có thể được ứng dụng trong y học để tạo ra các mảnh xương nhân tạo băng thép không gỉ vốn cứng, khó gia công và số lượng rất hạn chế. Trong trường hợp nay, ISF được thực hiện kết hợp với gia nhiệt cho chi tiết và công nghệ Scan 3D.
Phân loại ISF Phương pháp ISF được phân biệt thành hai hình thức khác nhau là tạo hình cục bộ liên tục đơn điểm (Single Point Incremental Forming — SPIF) va tạo hình cục bộ liên tục hai điểm (Two Point Incremental Forming — TPIF) 1. SPIF SPIF được mô tả trên (Hình 1. Day là phương pháp tạo hình cục bộ liên tục dùng dụng cụ tác dụng lực lên một mặt của tắm vật liệu được kẹp chặt xung quanh còn mặt kia để biến dạng tự do. Dụng cụ vừa quay quanh trục của nó vừa tịnh tiễn theo quỹ đạo được lập trình sẵn.
Trong quá trình tạo hình, dụng cụ vả tâm vật liệu chỉ tiếp xúc với nhau theo một điểm và có chất bôi trơn để giảm ma sát. Phương pháp này không cần dùng khuôn có hình dáng của sản phẩm mà chỉ cần tắm đỡ dưới có hình dáng là chu vi của sản phẩm và tam kẹp trên dé có định phôi tắm cần tạo hình. Dụng cụ tạo hình có dạng hình tru, đầu hình bán cầu. Toàn bộ quá trình được thực hiện trên máy điêu khiên sô ba trục.
Dụng cụ N 2 | Wen FS | | WOO Le | LK ⁄ Z J PT Tâm đỡ Ự ị | ⁄ |chi tit OD | Z J | |_~— Thân đồ ga UZ | 2zz22 Hnh 1.4) có lực tạo hình tac dụng trên ca hai mặt cua tam (tương tu công HVTH: Trần Trọng Hy Trang 3 Luận Văn Thạc Sĩ GVHD: GS. Nguyễn Thanh Nam nghệ miết có khuôn nhưng tam không xoay tròn mà chuyển động của dụng cụ tạo hình sẽ tạo hình bang cách miết lên mặt tam tựa hay dưỡng tạo phân lôi). Dụng >—[ Dưỡng tạo phân lồi iosi aa LY = | hood ee es Sgn Chi tiết— | | | | | Thân đồ ga H nh 1.aq) Trước gia công, b) Dang gia công Phương pháp nay ngoai tam tựa dưới như SPIF còn cần phải dùng thêm dưỡng tạo phan lồi có định. Toàn bộ dé ga va tắm tựa dưới sé di chuyển xuống theo đầu dụng cụ tạo hình còn dưỡng tạo phan lỗi thì cố định trên ban máy.
Phan biệt kha năng cua SPIF và TPIF. SPIF không dùng khuôn, kêt câu đỗ ga và chuyên động đơn giản, giá thành hạ nhưng bị giới hạn là không thé tao các chi tiết tim vừa lõm vừa có vùng lôi. TPIE phải dùng thêm dưỡng, kết cấu đồ gá cần chuyển động ha xuống, nâng lên cùng với đầu dụng cụ tạo hình, do đó giá thành cao nhưng phạm vi tạo hình rộng hơn có thé tạo hình các chi tiết tấm vừa lõm vừa có vùng lồi. Khả năng biến dạng của SPIF và góc biến dạng Khả năng biên dạng của SPIF được đặc trưng bởi góc biên dạng lớn nhat amax.
Góc biến dang a là góc hợp bởi tiếp tuyến của bề mặt gia công với phương ngang tại điểm đang xét. Góc bién dạng lớn nhất œmax là góc biến dạng tại vị trí chỉ tiết bị rách khi biến dạng[3]. Việc xác định góc biến dạng là yêu cầu quan trọng nhất và cũng là vấn dé chủ yếu trong các nghiên cứu về SPIF nhằm định hướng cho thiết kế và chế tạo chỉ tiết băng phương pháp gia công này (Hình 1. HVTH: Trần Trọng Hỷ Trang 4 Luận Văn Thạc Sĩ GVHD: GS.
Nguyễn Thanh Nam | | * * | N Ạ \ + ' — \ | ~ \ N <5 L n \ ý« ` f ¬\ Hình 1. Biên dạng chi tiết khảo sát[3] a arccos| =) = x _T (1-1) 1-1 Với: X= Zạ — Zw (1-2) 1 Bè day của chỉ tiết trên đường sinh cũng không đồng đều mà giảm dan trên đường sinh ứng với sự tăng dần của góc biến dạng ơ. Mối quan hệ giữa bề dày và góc biến dạng được mô tả qua biểu thức[2]: r=uin| Sa] ( 1-3) Trong đó: t (mm) — bề dày tại vị trí khảo sát ứng với góc bién dang ơ tạ (mm) — bé dày ban đầu Nếu góc ơ = 90° thì t =0. Phương pháp SPIF không tạo hình được những vách thăng đứng.
Nó cũng gặp khó khăn đối với các bề mặt bậc. Độ chính xác hình học va chất lượng bé mặt không cao băng phương pháp dập. Các yếu tố công nghệ ảnh hưởng khả năng tạo hình SPIF Các nghiên cứu cho thấy các thông số sau đây có ảnh hưởng đến khả năng tạo hình của sản phẩm tâm khi tạo hình bang SPIF: i. Hnhd ngqguP od ngạc (tool path) ii.
Bước ti n theo phương z, Az (mm) iii. Vant cch yd ngc Vxy (mm/phiit) trong m t phang xy iv. S vòng quay n (vong/phit)c atr c chính mang d ngc t ohnh v. Đường kinhd ngc t ohnh D(mm) vi.
Nhit c achiti t trong qudtrnht ohnhT(°C) vii. B dày tam trước khi gia công (mm) HVTH: Tran Trong Hy Trang 5 Luận Văn Thạc Sĩ GVHD: GS. Nguyễn Thanh Nam viii.H s masdtf gi a tấm và d ngc t ohnh 1. Công nghệ SPIF ở nhiệt độ cao Phương pháp SPIF gia công được các vật liệu mềm ở nhiệt độ thường như nhôm, đồng, thép cacbon thấp, nhựa nhiệt dẻo.
Với vật liệu dạng tắm có độ cứng, độ bền cao như: thép không gi, hợp kim nhôm-đồng, nhôm-Magiê, nhôm- Titanium. rất khó biến dạng và định hình ở nhiệt độ thường vì khả năng đàn hồi cao. Để gia công được, các chi tiết dạng tam loại này phải được gia nhiệt đến nhiệt độ phù hợp mà ở đó nó trở nên mềm hơn. Phương pháp tạo hình cục bộ liên tục vật liệu tắm có gia nhiệt gọi là phương pháp tạo hình cục bộ liên tục ở nhiệt độ cao.
Vấn dé quan trọng của SPIF ở nhiệt độ cao là phương pháp gia nhiệt va kiểm soát nhiệt độ của chỉ tiết trong quá trình gia công. Tính chất của vật liệu và khả năng biến dạng của nó phụ thuộc rất nhiều vào nhiệt độ. Một sự tăng nhiệt độ không có kiểm soát ảnh hưởng rat lớn đến chất lượng cũng như độ chính xác của chi tiết. Tình hình nghiên cứu.
Tình hình nghiên cứu ngoài nước 1. Onhiét độ thường Nghiên cứu của V.Franzen và cộng su[4] khảo sát biến dạng của tam nhựa PVC. Quỹ đạo dung cụ được dùng là dạng đường xoắn ốc bước 0,5mm. Tác giả phân tích ảnh hưởng đường kính dụng cụ Ø10zØ15mm và bề dày 2+3mm đến góc tao hình.
Lượng chạy dụng cụ 1500mm/ph, bôi trơn bằng soap-emulsion. Kết quả là cả hai thông số trên đều ảnh hưởng đến góc biến dạng. cụ thể đường kính dụng cụ tăng thì góc bién dạng tăng và bề dày tăng góc biến dạng giảm. Nghiên cứu của Lê Văn S¥[2] cho tam Polymer với các thông số Az(0,2+Imm), đường kính dụng cụ D(6rl2mm), lượng chạy dụng cụ Vxy(1000+3000mm/ph) và tốc độ dụng cụ n(200+700 vòng/ph).
Nghiên cứu cho thay ảnh hưởng cua Az là lớn nhất, kế đến là đường kính dụng cụ và lượng chạy dụng cụ. Tốc độ trục chính có ảnh hưởng nhưng không đáng kê. Bước tiến Az va lượng chạy Vxy tăng làm góc bién dạng giảm nhưng đường kính dụng cụ tăng thi biến dạng tăng. HVTH: Trần Trọng Hy Trang 6 Luận Văn Thạc Sĩ GVHD: GS.
Nguyễn Thanh Nam Crina Radu[5] nghiên cứu ảnh hưởng của bốn thông số đường kính dụng cụ D@-+5mm), bước tiến Az(0,05+0,5mm), lượng chạy dụng cụ Vxy (1500+3000mm/ph) và tốc độ trục chính n(500+1000v/ph) đến chất lượng bề mặt của tam thép cacbon thấp. Bề day tam 0,6mm.