Tổng quan nghiên cứu

Nghèo đói là một thách thức mang tính toàn cầu sâu sắc, tác động trực tiếp đến sự ổn định chính trị và tiến trình phát triển kinh tế của mọi quốc gia. Theo số liệu của các tổ chức quốc tế, hiện có hơn 1,12 tỷ người trên thế giới đang sống trong tình trạng nghèo khổ tuyệt đối, tập trung chủ yếu tại các khu vực nông thôn của các nước đang phát triển. Tại Việt Nam, công cuộc xóa đói giảm nghèo đã đạt được nhiều thành tựu vượt bậc, đưa đất nước trở thành điểm sáng quốc tế với tốc độ giảm tỷ lệ hộ nghèo nhanh chóng qua từng thời kỳ. Tuy nhiên, kết quả giảm nghèo tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng miền núi cao vẫn chưa thực sự vững chắc, tiềm ẩn nguy cơ tái nghèo lên tới khoảng 15% đến 20% mỗi năm do tác động tiêu cực của thiên tai, biến động giá cả thị trường và tập quán canh tác lạc hậu.

Huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa là một huyện miền núi nghèo có điều kiện cơ sở hạ tầng khó khăn, với tỷ lệ hộ nghèo thời điểm năm 2008 vượt mức 50%, thuộc danh sách 62 huyện nghèo trên toàn quốc được hỗ trợ khẩn cấp theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ. Luận văn thạc sĩ kinh tế nông nghiệp với đề tài nghiên cứu về mô hình sản xuất nhằm giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Như Xuân được thực hiện nhằm phân tích toàn diện thực trạng, đánh giá hiệu quả kinh tế của các mô hình nông - lâm nghiệp hiện hữu và đề xuất hệ thống giải pháp nhân rộng mô hình sản xuất phù hợp. Nghiên cứu được triển khai trong phạm vi thời gian thu thập dữ liệu từ năm 2007 đến năm 2009 tại 3 tiểu vùng sinh thái đặc trưng của huyện. Ý nghĩa cốt lõi của nghiên cứu là cung cấp cơ sở khoa học định lượng giúp địa phương tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp, phấn đấu nâng thu nhập bình quân đầu người của các hộ nghèo lên mức trên 500.000 đồng/tháng và giảm tỷ lệ nghèo của huyện xuống dưới 20% trong giai đoạn trung hạn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Khung lý thuyết của luận văn dựa trên nền tảng các lý thuyết phát triển kinh tế nông thôn và kinh tế hộ gia đình, kết hợp với các lý thuyết hiện đại về nghèo đa chiều. Trong nghiên cứu kinh tế học, khái niệm nghèo được chia thành nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối. Nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu sinh tồn cơ bản nhất như ăn, mặc, ở, y tế và giáo dục với mức sống dưới 1 USD/ngày theo chuẩn quốc tế. Nghèo tương đối phản ánh tình trạng cá nhân hoặc hộ gia đình có mức sống thấp hơn đáng kể so với mức sống trung bình của cộng đồng xung quanh, gắn liền với sự phân hóa giàu nghèo và hệ số bất bình đẳng thu nhập Gini.

Bên cạnh đó, luận văn áp dụng chuẩn nghèo quốc gia giai đoạn 2006-2010 theo Quyết định 170/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, quy định mức thu nhập bình quân từ 200.000 đồng/người/tháng trở xuống đối với khu vực nông thôn là hộ nghèo. Khái niệm thoát nghèo bền vững được định nghĩa là trạng thái hộ gia đình sau khi vượt ngưỡng nghèo 200.000 đồng/người/tháng có khả năng duy trì nguồn thu nhập ổn định, xây dựng tích lũy tài sản và sở hữu các kỹ năng kỹ thuật nông nghiệp để chống chịu các rủi ro bất lợi từ thị trường hoặc dịch bệnh mà không bị rơi trở lại vòng xoáy tái nghèo. Mô hình sản xuất giảm nghèo bền vững là hình thái tổ chức sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp kết hợp, có quy trình kỹ thuật phù hợp với điều kiện đất đai, nguồn vốn của người nghèo và đem lại tỷ suất lợi nhuận cao trên một đơn vị diện tích.

Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện nghiên cứu, tác giả xây dựng cỡ mẫu khảo sát thực địa gồm 120 hộ nông dân, chia đều thành 40 hộ tại mỗi xã trong số 3 xã đại diện cho 3 tiểu vùng sinh thái kinh tế của huyện Như Xuân, bao gồm xã Thanh Quân (vùng cao khó khăn), xã Cát Tân (vùng đồi bán sơn địa) và xã Xuân Bình (vùng đồng bằng thấp thuận lợi). Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu ngẫu nhiên được áp dụng để phân loại các hộ thành các nhóm: hộ giàu, hộ thoát nghèo vững chắc, hộ cận nghèo và hộ nghèo kinh niên.

Nguồn dữ liệu của luận văn kết hợp giữa dữ liệu thứ cấp thu thập qua các báo cáo kinh tế - xã hội của Ủy ban nhân dân huyện Như Xuân giai đoạn 2007-2009 và dữ liệu sơ cấp điều tra trực tiếp thông qua bảng hỏi bán cấu trúc. Tác giả sử dụng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA) nhằm xác định các ưu tiên và rào cản sinh kế tại địa phương. Lý do lựa chọn phương pháp thống kê mô tả, phân tích so sánh định lượng và phương pháp hàm số kinh tế là để đo lường chính xác các chỉ tiêu hiệu quả tài chính như chi phí trung gian, giá trị sản xuất (GO), giá trị gia tăng (VA), thu nhập ròng trên 1 ha canh tác và tỷ suất lợi nhuận trên đồng vốn đầu tư, từ đó tạo căn cứ thực nghiệm vững chắc để đánh giá khả năng nhân rộng của từng mô hình sản xuất.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích thực trạng kinh tế - xã hội huyện Như Xuân giai đoạn 2007-2009 chỉ ra rằng tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện chiếm tới 42,5% tổng số hộ dân cư, tập trung chủ yếu ở các vùng đồng bào dân tộc Thái và Mường. Thu nhập bình quân của nhóm hộ nghèo chỉ đạt mức khoảng 165.000 đồng/người/tháng, thấp hơn 4,8 lần so với mức thu nhập bình quân 790.000 đồng/người/tháng của nhóm hộ khá giàu. Sự chênh lệch về tư liệu sản xuất là nguyên nhân hàng đầu: diện tích đất lúa nước bình quân của hộ nghèo chỉ đạt 450 m2/khẩu, trong khi nhóm hộ giàu sở hữu diện tích đất sản xuất nông - lâm nghiệp bình quân đạt trên 2,5 ha/hộ.

Khảo sát 120 hộ điều tra làm rõ 3 nguyên nhân cốt lõi gây nên đói nghèo và tái nghèo: 72,5% số hộ thiếu vốn đầu tư mua sắm cây con giống và phân bón; 65,8% số hộ thiếu kiến thức kỹ thuật canh tác thâm canh và kỹ năng quản lý tài chính gia đình; 38,3% số hộ nghèo có tâm lý thụ động, ỷ lại vào chính sách cứu trợ không hoàn lại của Nhà nước. Về hiệu quả của các mô hình kinh tế, kết quả khảo sát cho thấy mô hình trồng cây sắn cao sản KM94 kết hợp chăn nuôi bò lai sinh sản đem lại thu nhập bình quân 28,5 triệu đồng/ha/năm, giúp tỷ lệ thoát nghèo của các hộ tham gia đạt 68,4%. Ngược lại, các hộ duy trì mô hình độc canh lúa nương truyền thống chỉ thu về giá trị sản xuất dưới 9,2 triệu đồng/ha/năm với tỷ lệ tái nghèo sau 2 năm lên tới 34,6%.

Thảo luận kết quả

Sự phân hóa thu nhập sâu sắc giữa các nhóm hộ tại huyện Như Xuân phản ánh tình trạng thiếu hụt nguồn lực toàn diện ở người nghèo. Dữ liệu thực nghiệm của luận văn có thể được trình bày rõ ràng qua biểu đồ cột so sánh cơ cấu thu nhập và bảng ma trận đánh giá hiệu quả kinh tế giữa các tiểu vùng. Biểu đồ cột trực quan hóa mức chi tiêu cho lương thực chiếm tới 76,4% tổng chi tiêu của hộ nghèo, khiến khả năng tái đầu tư cho sản xuất gần như bằng 0. Trong khi đó, bảng ma trận xếp hạng ưu tiên các mô hình sản xuất (PRA) cho thấy mô hình trồng keo lai kết hợp chăn nuôi lợn nạc đạt điểm đánh giá cao nhất về tính bền vững (88,5/100 điểm) nhờ thị trường tiêu thụ ổn định và ít bị rủi ro thiên tai phá hủy.

So sánh với các nghiên cứu và kinh nghiệm quốc tế, kết quả tại huyện Như Xuân có nhiều điểm tương đồng với mô hình ngân hàng Grameen Bank tại Bangladesh về sự cần thiết của các khoản tín dụng nhỏ không cần tài sản thế chấp (từ 200 USD trở lên) để giải phóng sức sản xuất của người nông dân có thu nhập dưới 100 USD/năm. Tương tự như bài học từ Thái Lan giai đoạn 1962-1986 khi tỷ lệ nghèo giảm từ 59% xuống 26% nhờ chính sách giao đất gắn với phát triển sinh kế phi nông nghiệp, các hộ nông dân tại Như Xuân chỉ có thể thoát nghèo thực sự khi được trao quyền sử dụng đất lâu dài và trang bị kiến thức khuyến nông đầy đủ. Việc đầu tư dàn trải cơ sở hạ tầng mà thiếu vắng các chương trình đào tạo nghề thực hành đã làm giảm hiệu lực của các gói hỗ trợ giảm nghèo trong giai đoạn vừa qua.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm giải quyết triệt để tình trạng đói nghèo và ngăn chặn nguy cơ tái nghèo trên địa bàn huyện Như Xuân, nghiên cứu đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp chiến lược gắn liền với tiến trình thực hiện giai đoạn 2011-2015:

Thứ nhất, quy hoạch và nhân rộng các mô hình sản xuất chuyên canh có giá trị gia tăng cao. Ủy ban nhân dân huyện Như Xuân cần chỉ đạo Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tập trung phát triển 3 mô hình mũi nhọn: mô hình trồng rừng kinh tế bằng keo lai hom kết hợp trồng sắn cao sản lấy ngắn nuôi dài, mục tiêu đạt diện tích 5.000 ha; mô hình chăn nuôi bò lai Sind sinh sản thâm canh theo nhóm hộ, phấn đấu nâng quy mô tổng đàn bò tăng trưởng 12%/năm; mô hình chuyển đổi diện tích nương rẫy kém hiệu quả sang trồng cây cao su tiểu điền với quy mô mục tiêu 1.200 ha vào năm 2015.

Thứ hai, đổi mới chính sách tín dụng vi mô và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật. Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện cần nâng hạn mức vay vốn ưu đãi từ 15 triệu đồng lên 30 đến 50 triệu đồng/hộ nghèo với chu kỳ vay kéo dài 36-60 tháng đối với cây trồng dài ngày. Đồng thời, Trạm Khuyến nông huyện phải tổ chức tối thiểu 45 lớp tập huấn kỹ thuật "cầm tay chỉ việc" mỗi năm, bảo đảm 100% hộ nghèo vay vốn được hướng dẫn kỹ thuật bón phân cân đối, phòng trừ dịch bệnh gia súc trước khi giải ngân.

Thứ ba, lồng ghép hiệu quả các nguồn vốn đầu tư từ Chương trình 30a, Chương trình 135 và vốn đối ứng ngân sách địa phương. Chủ thể thực hiện là Ủy ban nhân dân các xã cần tập trung trên 60% nguồn vốn hạ tầng để kiên cố hóa hệ thống kênh mương tưới tiêu và mở rộng các tuyến đường giao thông nội đồng kết nối các vùng sản xuất tập trung, giảm thiểu chi phí vận chuyển nông sản cho bà con nông dân.

Thứ tư, nâng cao năng lực tự lực và thay đổi tư duy kinh tế của người nghèo. Các đoàn thể như Hội Nông dân, Hội Phụ nữ cần triển khai chương trình truyền thông xóa bỏ tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào trợ cấp; phát động phong trào thi đua sản xuất giỏi với mục tiêu 100% hộ thoát nghèo cam kết tái đầu tư tối thiểu 20% lợi nhuận thu được vào mở rộng quy mô chuồng trại và mua cây con giống chất lượng cao.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn thạc sĩ kinh tế nông nghiệp này là tài liệu tham khảo có giá trị ứng dụng cao cho nhiều nhóm đối tượng chuyên môn:

Nhóm cán bộ quản lý và hoạch định chính sách cấp huyện, cấp tỉnh: Luận văn cung cấp luận cứ thực chứng và hệ thống chỉ tiêu định lượng giúp Ủy ban nhân dân các huyện miền núi xây dựng đề án xóa đói giảm nghèo theo Nghị quyết 30a sát hợp với từng tiểu vùng sinh thái.

Nhóm cán bộ khuyến nông, khuyến lâm và phát triển nông thôn: Cung cấp quy trình phân tích tài chính, định mức chi phí - doanh thu và kinh nghiệm tổ chức các mô hình liên kết sản xuất nông - lâm nghiệp phù hợp với đặc thù hộ nghèo vùng cao.

Nhóm học viên cao học, sinh viên và nghiên cứu sinh chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, Phát triển nông thôn: Tài liệu là một case study mẫu mực về ứng dụng phương pháp điều tra chọn mẫu, phương pháp PRA và xử lý dữ liệu kinh tế lượng trong phân tích kinh tế hộ gia đình.

Nhóm các tổ chức phi chính phủ (NGO) và ban quản lý dự án phát triển cộng đồng: Giúp nắm bắt sâu sắc các rào cản xã hội học, tâm lý tiêu dùng và thói quen sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số để thiết kế các can thiệp sinh kế vi mô đạt tỷ lệ thành công trên 85%.

Câu hỏi thường gặp

Chuẩn nghèo được áp dụng làm căn cứ phân loại hộ gia đình trong nghiên cứu là gì? Nghiên cứu áp dụng chuẩn nghèo quốc gia giai đoạn 2006-2010 theo Quyết định 170/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, xác định hộ nghèo tại khu vực nông thôn là những hộ có thu nhập bình quân đầu người từ 200.000 đồng/tháng trở xuống (tương đương 2,4 triệu đồng/năm), trong khi chuẩn nghèo khu vực thành thị là từ 260.000 đồng/người/tháng trở xuống.

Đâu là nguyên nhân chính khiến tỷ lệ tái nghèo tại huyện Như Xuân vẫn ở mức cao? Nguyên nhân chủ yếu là do tích lũy tài sản của các hộ vừa thoát nghèo rất thấp, bình quân dưới 3 triệu đồng/hộ, khiến họ dễ bị tổn thương khi gặp rủi ro bất khả kháng. Khi xảy ra thiên tai, dịch bệnh gia súc hoặc biến động giảm giá nông sản, các hộ này lập tức mất nguồn thu và tái nghèo do thiếu năng lực tài chính dự phòng.

Mô hình sản xuất nào đem lại hiệu quả kinh tế và tính bền vững cao nhất tại địa bàn? Mô hình trồng keo lai kết hợp sắn cao sản KM94 và chăn nuôi bò lai sinh sản được đánh giá đạt hiệu quả tối ưu nhất. Mô hình này tạo dòng tiền ngắn hạn từ sắn để trang trải chi phí sinh hoạt hàng ngày, đồng thời tạo nguồn tích lũy dài hạn từ gỗ keo và đàn bò, đem lại thu nhập bình quân trên 28 triệu đồng/ha/năm.

Phương pháp PRA đã hỗ trợ tác giả thu thập dữ liệu như thế nào trong quá trình điền dã? Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA) được triển khai thông qua các buổi thảo luận nhóm tập trung và lập sơ đồ không gian sinh kế tại 3 xã. Phương pháp này giúp người dân nghèo trực tiếp xác định các khó khăn nội tại, xếp hạng ưu tiên cây trồng vật nuôi và đề xuất các giải pháp phù hợp với tập quán địa phương.

Chính sách tín dụng ưu đãi cần điều chỉnh những gì để người nghèo sử dụng vốn hiệu quả? Chính sách tín dụng cần tăng mức cho vay tối đa lên 30-50 triệu đồng/hộ và kéo dài thời hạn vay phù hợp với chu kỳ sinh trưởng của cây lâm nghiệp (5-7 năm). Quan trọng nhất, việc giải ngân vốn vay phải đi kèm điều kiện bắt buộc tham gia các lớp chuyển giao kỹ thuật khuyến nông để tránh tình trạng sử dụng vốn sai mục đích.

Kết luận

Nghiên cứu về mô hình sản xuất nhằm giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa đã đạt được những kết quả then chốt sau:

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về nghèo đói, chuẩn nghèo và các tiêu chí đo lường thoát nghèo bền vững trong kinh tế nông nghiệp.
  • Phản ánh trung thực bức tranh nghèo đói với tỷ lệ hộ nghèo trên 40% tại huyện Như Xuân giai đoạn 2007-2009, chỉ rõ sự chênh lệch thu nhập gấp 4,8 lần giữa nhóm hộ nghèo và hộ khá giả.
  • Khẳng định tính ưu việt về mặt tài chính và xã hội của các mô hình nông - lâm kết hợp như keo lai, sắn cao sản và bò lai sinh sản so với tập quán độc canh nương rẫy truyền thống.
  • Thiết kế hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ kết hợp giữa quy hoạch mô hình, tín dụng vi mô, đầu tư hạ tầng Chương trình 30a và đào tạo nâng cao nội lực người nghèo.
  • Xây dựng lộ trình thực hiện cụ thể phấn đấu giảm tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện xuống dưới mức 20% và nâng mức thu nhập của hộ nghèo tăng gấp 2,5 lần vào năm 2015.

Đóng góp khoa học lớn nhất của luận văn là đã lượng hóa thành công mối quan hệ giữa lựa chọn mô hình sản xuất với mức độ an toàn sinh kế của người nông dân vùng sâu vùng xa. Kế hoạch tiếp theo đòi hỏi chính quyền địa phương cần nhanh chóng thể chế hóa các đề xuất vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm của huyện giai đoạn 2011-2015. Đây là công trình nghiên cứu khoa học có giá trị ứng dụng thực tiễn cao, đóng vai trò cẩm nang định hướng cho các nhà quản lý và nhà nghiên cứu trong sự nghiệp phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới bền vững.