Tổng quan nghiên cứu

Thành phố Hà Nội có diện tích tự nhiên 3.344,7 km² sau đợt mở rộng địa giới hành chính năm 2008, bao gồm 1 thị xã, 10 quận nội thành và 18 huyện ngoại thành với dân số thời điểm đó đạt 6,9 triệu người. Nằm ở hữu ngạn sông Hồng thuộc vùng châu thổ Bắc Bộ, địa hình Hà Nội thấp dần theo hướng từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông, trong đó ba phần tư diện tích là đồng bằng trũng thấp. Đặc điểm địa hình này khiến Thủ đô thường xuyên đối mặt với nguy cơ ngập lụt nghiêm trọng trong mùa mưa bão kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10. Trận ngập lụt lịch sử từ ngày 30/10/2008 đến ngày 07/11/2008 là minh chứng điển hình: lượng mưa cực đoan đạt 914 mm tại Thanh Oai, 812,9 mm tại Hà Đông và 563,2 mm tại trạm Láng, gây ra 63 điểm ngập úng nghiêm trọng, làm 20 người chết và thiệt hại kinh tế ước tính lên tới 3.000 tỷ đồng.

Vấn đề nghiên cứu then chốt xuất phát từ quá trình đô thị hóa nhanh chóng làm suy giảm bề mặt thấm tự nhiên, trong khi hệ thống thoát nước hiện hữu được xây dựng từ trước năm 1954 cho diện tích 1.000 ha nay phải gánh tải cho hơn 6.800 ha nội đô. Mục tiêu cụ thể của luận văn là nghiên cứu ứng dụng mô hình thủy lực liên kết MIKE FLOOD để mô phỏng ngập lụt và xây dựng bản đồ khoanh vùng nguy cơ ngập lụt trên toàn địa bàn Hà Nội ứng với trận mưa lịch sử năm 2008 và kịch bản mưa thiết kế tần suất 1% (chu kỳ lặp lại 100 năm). Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ 3.344,7 km² dựa trên chuỗi số liệu khí tượng thủy văn 50 năm (1961 - 2010). Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa quyết định trong việc hỗ trợ các cơ quan quản lý xác định vùng trũng xung yếu, giảm thiểu rủi ro ngập lụt và bảo vệ an toàn cho gần 7 triệu cư dân đô thị.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp của ba mô hình toán thủy văn - thủy lực tiên tiến: mô hình dòng chảy một chiều MIKE 11, mô hình dòng chảy hai chiều MIKE 21 và mô hình thủy văn mưa - dòng chảy NAM. Mô hình MIKE 11 giải hệ phương trình Saint-Venant 1 chiều mô tả dòng chảy không ổn định trong lòng dẫn thông qua sơ đồ sai phân hữu hạn 6 điểm ẩn Abbott, kiểm soát điều kiện ổn định với số Courant trong dải 10 đến 20. Mô hình MIKE 21 sử dụng hệ phương trình nước nông 2 chiều (gồm 1 phương trình liên tục và 2 phương trình động lượng) để mô phỏng dòng chảy tràn và trường vận tốc trên bề mặt đồng ruộng. Mô hình NAM là mô hình toán tập trung dạng bể chứa phân chia lưu vực thành 4 tầng chứa (tầng mặt, tầng rễ cây, tầng ngầm nông và tầng ngầm sâu) để tính toán lưu lượng dòng chảy từ mưa.

Ba khái niệm cốt lõi bao gồm: lũ sông do nước thượng nguồn dâng cao; ngập lụt cục bộ do mưa vượt quá khả năng tiêu thoát; và vùng có nguy cơ ngập lụt là khu vực chịu tác động của trận lũ hoặc trận mưa có tần suất 1%. MIKE FLOOD đóng vai trò kết nối tích hợp MIKE 11 và MIKE 21 thông qua 4 dạng liên kết: liên kết tiêu chuẩn, liên kết bên theo công thức đập tràn đỉnh rộng, liên kết công trình ẩn và liên kết dòng chảy triệt tiêu (kết nối khô).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu thu thập và xử lý chuỗi số liệu quan trắc 50 năm (1961 - 2010) tại 10 trạm khí tượng thủy văn chủ lực như Láng, Sơn Tây, Hà Đông, Thượng Cát và Ba Thá. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ chuỗi số liệu khí hậu 50 năm với tổng lượng dòng chảy trung bình năm sông Hồng đạt 83,5 tỷ m³, kết hợp hơn 100 mặt cắt ngang thực đo trên các trục sông chính như sông Nhuệ dài 74 km, sông Tô Lịch có diện tích lưu vực 77,5 km², sông Đáy dài 242 km và bản đồ số độ cao địa hình toàn thành phố.

Phương pháp chọn mẫu dữ liệu được thực hiện theo nguyên tắc chọn mẫu chủ đích và phân tầng không gian - thời gian. Các trận lũ lịch sử điển hình gồm đợt lũ tháng 9/1976 và tháng 8/1975 được chọn để hiệu chỉnh và kiểm định mô hình NAM; trận lũ tháng 8/2006 (lượng mưa 260,2 mm tại Hà Đông) và đợt mưa lũ tháng 11/2008 (lượng mưa 350 mm đến 914 mm) được chọn để hiệu chỉnh và kiểm định bộ mô hình MIKE 11 và MIKE FLOOD.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích mô hình liên kết MIKE FLOOD là nhằm khắc phục nhược điểm đơn lẻ: phương pháp điều tra vết lũ thiếu hụt thông tin chi tiết; phương pháp bản đồ địa mạo mang tính định tính tĩnh; mô hình 1D không thể mô phỏng dòng chảy tràn hai chiều trên mặt đồng; còn mô hình 2D thuần túy đòi hỏi bước lưới quá nhỏ làm thời gian tính toán tăng theo cấp số nhân. Việc ghép nối MIKE 11 và MIKE 21 giúp tối ưu hóa thời gian tính toán mà vẫn đảm bảo độ chính xác thủy lực vượt trội.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quá trình hiệu chỉnh và kiểm định mô hình thủy văn NAM tại trạm Ba Thá và Lâm Sơn cho thấy hệ số tương quan Nash-Sutcliffe đạt trên 0,85, khẳng định mô hình tái hiện chính xác lưu lượng biên đầu vào cho hệ thống sông Nhuệ - Đáy. Quá trình hiệu chỉnh mô hình thủy lực MIKE 11 tại trạm Hà Nội trên sông Hồng (lưu lượng trung bình nhiều năm 2.590 m³/s) và trạm Ba Thá trên sông Đáy cho sai số mực nước đỉnh lũ dưới 5%, sai số thời gian xuất hiện đỉnh lũ chênh lệch không quá 1 giờ so với chuỗi thực đo tháng 8/2006.

Thứ hai, kết quả mô phỏng ngập lụt trận mưa lịch sử tháng 11/2008 bằng mô hình MIKE FLOOD tái hiện chính xác bức tranh ngập lụt ngày 05/11/2008 và ngày 07/11/2008 khi đối chiếu với ảnh vệ tinh viễn thám SPOT và Landsat. Mức độ trùng khớp về ranh giới ngập đạt trên 80%, trong đó các vùng trũng thuộc huyện Thanh Oai, Ứng Hòa, Chương Mỹ và quận Hà Đông ghi nhận độ sâu ngập phổ biến từ 1,0 m đến 2,5 m, thời gian ngập kéo dài từ 5 đến 7 ngày.

Thứ ba, nghiên cứu chỉ ra hai điểm nghẽn tiêu thoát nước hạ tầng nghiêm trọng. Trục thoát nước chính khu vực nội thành là sông Tô Lịch hiện chỉ có khả năng chuyển tải 30 - 35 m³/s, đáp ứng chưa đầy 21% so với công suất yêu cầu là 170 m³/s cho trận mưa chu kỳ 10 năm. Đồng thời, trục tiêu sông Nhuệ chỉ cho phép tiếp nhận lưu lượng xả tối đa 30 m³/s khi mực nước sông dưới 3,5 m; khi mực nước vượt ngưỡng 3,7 m, toàn bộ hệ thống thoát nước nội thành buộc phải ngừng xả vào sông Nhuệ.

Thứ tư, mô phỏng kịch bản mưa thiết kế tần suất 1% (lượng mưa 3 ngày cực đại vượt 600 - 800 mm) xác định diện tích ngập lụt mở rộng chiếm khoảng 35% đến 40% diện tích các huyện phía Nam, với hàng vạn hecta đất nông nghiệp và khu dân cư ven sông Tích, sông Đáy và sông Nhuệ bị ngập sâu trên 1,5 m.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân trực tiếp gây ngập lụt tại Hà Nội bắt nguồn từ sự kết hợp của ba yếu tố: địa hình trũng thấp cục bộ, cường suất mưa cực đoan vượt chuẩn thiết kế và sự suy giảm nghiêm trọng dung tích trữ nước tự nhiên. Tổng diện tích mặt nước của hơn 100 hồ ao nội thành đã bị san lấp, chỉ còn 867,75 ha trên 32 hồ lớn; nhiều hồ điều hòa như hồ Bảy Mẫu (23,1 ha) hay hồ Linh Đàm (67,5 ha) bị suy giảm khả năng điều tiết do đô thị hóa và bùn cát bồi lắng. Khi mưa lớn tập trung cùng lúc với mực nước sông Đáy và sông Nhuệ dâng cao, các cống tiêu tự chảy bị tê liệt, biến các vùng đê bối thành các ô trũng giữ nước cô lập.

So với các nghiên cứu trước đây chỉ áp dụng mô hình 1D đơn thuần, mô hình liên kết MIKE FLOOD đã chứng minh ưu thế vượt bậc khi mô phỏng chính xác hiện tượng tràn bờ đê bối và dòng chảy ngập tràn xuyên qua các ô ruộng.

Dữ liệu nghiên cứu có thể được trình bày trực quan và hiệu quả thông qua:

  • Biểu đồ so sánh đường quá trình mực nước thực đo và mô phỏng tại trạm Ba Thá theo chuỗi thời gian 16 ngày (từ 16/8 đến 31/8/2006).
  • Bản đồ GIS phân vùng nguy cơ ngập lụt với 4 dải độ sâu phân cấp rõ rệt: dưới 0,5 m, từ 0,5 đến 1,0 m, từ 1,0 đến 2,0 m và trên 2,0 m.
  • Bảng tổng hợp thống kê diện tích và tỷ lệ ngập lụt chi tiết cho 29 quận, huyện, thị xã ứng với kịch bản mưa thiết kế tần suất 1%.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, nâng cấp công suất hệ thống trạm bơm tiêu thoát nước đầu mối. Cần tập trung đầu tư mở rộng trạm bơm Yên Sở lên công suất tiêu thoát tối thiểu 170 m³/s và xây dựng mới các cụm trạm bơm tiêu ra sông Hồng và sông Đáy với tổng lưu lượng xả đạt trên 200 m³/s trước năm 2028. Chủ thể thực hiện là Ban Quản lý Dự án Đầu tư Xây dựng Công trình Hạ tầng Kỹ thuật và Nông nghiệp thành phố Hà Nội.

Thứ hai, khơi thông dòng chảy và bảo vệ hành lang thoát lũ mạng lưới sông hồ nội đô. Triển khai nạo vét toàn diện 37 km mạng lưới 4 con sông tiêu chính gồm Tô Lịch, Kim Ngưu, Lừ, Sét để khôi phục tiết diện thiết kế từ 4 m đến 30 m; đồng thời bảo tồn nghiêm ngặt 867,75 ha diện tích mặt nước của 32 hồ điều hòa, hoàn thành trong giai đoạn 2026 - 2027 do Công ty TNHH Một thành viên Thoát nước Hà Nội chủ trì.

Thứ ba, tích hợp bản đồ nguy cơ ngập lụt tần suất 1% vào quy hoạch không gian đô thị. Yêu cầu các dự án xây dựng mới tại 18 huyện ngoại thành phải tuân thủ nghiêm ngặt cao độ nền xây dựng vượt đỉnh lũ thiết kế 100 năm và dành tối thiểu 15% diện tích cho không gian thấm nước tự nhiên. Lộ trình thực hiện liên tục từ năm 2026 đến năm 2030, do Sở Quy hoạch - Kiến trúc phối hợp cùng Sở Xây dựng Hà Nội triển khai.

Thứ tư, thiết lập hệ thống giám sát thủy văn và cảnh báo sớm ngập lụt thời gian thực. Ứng dụng cảm biến tự động tại 63 điểm ngập úng xung yếu và vận hành mô hình MIKE FLOOD theo thời gian thực nhằm đưa ra dự báo ngập trước 3 đến 6 giờ, giúp giảm thiểu ít nhất 30% thiệt hại tài sản cho người dân. Thời gian hoàn thành trước năm 2028, do Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chủ trì phối hợp cùng các cơ quan khí tượng thủy văn.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý đô thị gồm Sở Xây dựng, Sở Tài nguyên và Môi trường, Ban Chỉ huy Phòng chống Thiên tai và Tìm kiếm Cứu nạn Hà Nội. Nhóm đối tượng này có thể sử dụng trực tiếp bản đồ khoanh vùng ngập lụt để ban hành quy chuẩn phân vùng rủi ro, xây dựng phương án sơ tán dân cư tại các vùng trũng ven sông Đáy và sông Nhuệ khi xảy ra mưa cực đoan chu kỳ 100 năm.

Thứ hai, các kỹ sư tư vấn thiết kế hạ tầng cấp thoát nước và công trình thủy lợi. Luận văn cung cấp phương pháp luận và thông số kỹ thuật chuẩn xác về lưu lượng đỉnh lũ (2.590 m³/s trên sông Hồng), hệ số nhám Manning và mô hình kết nối MIKE 11 - MIKE 21 để ứng dụng trực tiếp vào tính toán kích thước kênh mương, cống qua đê và trạm bơm tiêu úng.

Thứ ba, các nhà khoa học, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Thủy văn học, Tài nguyên nước và Kỹ thuật môi trường. Công trình là tài liệu học thuật giá trị về quy trình liên kết mô hình thủy văn NAM với mô hình thủy lực 1D-2D, kết hợp xử lý dữ liệu địa hình số và giải đoán ảnh viễn thám để kiểm định trường ngập lụt.

Thứ tư, các tổ chức phát triển quốc tế và doanh nghiệp đầu tư hạ tầng bất động sản. Các đơn vị này có thể khai thác dữ liệu đánh giá rủi ro ngập lụt để thẩm định tính khả thi của các dự án đô thị mới, đảm bảo các giải pháp thích ứng biến đổi khí hậu cho hơn 6,9 triệu cư dân Thủ đô.

Câu hỏi thường gặp

Mô hình MIKE FLOOD giải quyết ưu việt vấn đề gì so với mô hình 1 chiều truyền thống? Mô hình MIKE FLOOD khắc phục hoàn toàn nhược điểm của mô hình 1 chiều trong việc mô phỏng dòng chảy tràn trên bề mặt đồng ruộng. Nhờ tích hợp lưới tính 2 chiều của MIKE 21 thông qua các liên kết bên và liên kết công trình, mô hình tái hiện chính xác trường vận tốc, hướng lan truyền dòng lũ và độ sâu ngập trên toàn bộ 3.344,7 km² diện tích Hà Nội.

Vì sao trận mưa lũ tháng 11/2008 được lựa chọn làm kịch bản kiểm định mô hình chính? Trận mưa từ ngày 30/10 đến ngày 07/11/2008 là đợt mưa lũ lịch sử vượt mọi chỉ tiêu thiết kế với lượng mưa đỉnh điểm 914 mm tại Thanh Oai và 812,9 mm tại Hà Đông, làm ngập 63 điểm nội thành. Đây là chuỗi dữ liệu thực nghiệm cực đoan quý giá nhất để kiểm tra độ chính xác và độ ổn định của bộ mô hình tính toán thủy lực.

Vai trò của mô hình thủy văn NAM trong chuỗi tính toán liên kết là gì? Mô hình NAM đóng vai trò chuyển hóa lượng mưa quan trắc từ 10 trạm khí tượng thành lưu lượng dòng chảy mặt và dòng chảy ngầm cho từng lưu vực con. Lưu lượng sinh ra từ mô hình NAM được truyền trực tiếp làm điều kiện biên nhập lưu cho mô hình 1 chiều MIKE 11 và các biên điểm cho mô hình 2 chiều MIKE 21.

Tại sao sông Tô Lịch và sông Nhuệ lại trở thành hai điểm nghẽn tiêu thoát nước lớn nhất? Khả năng thoát nước thực tế của sông Tô Lịch hiện chỉ đạt 30 - 35 m³/s, đáp ứng chưa tới 21% yêu cầu thoát lũ 170 m³/s cho chu kỳ 10 năm. Bên cạnh đó, khi mực nước sông Nhuệ vượt ngưỡng 3,5 - 3,7 m, việc xả nước từ nội thành bị đình chỉ hoàn toàn, gây ngập úng nghiêm trọng và kéo dài trong nội đô.

Bản đồ nguy cơ ngập lụt ứng với mưa thiết kế tần suất 1% mang lại giá trị thực tiễn nào? Bản đồ tần suất 1% (chu kỳ lặp lại 100 năm) xác định chi tiết ranh giới và độ sâu ngập cho từng vùng trũng thấp trên địa bàn Thủ đô. Đây là căn cứ khoa học pháp lý quan trọng để các cấp chính quyền phê duyệt cốt nền xây dựng, quy hoạch mạng lưới thoát nước và chủ động lập phương án cứu hộ cứu nạn.

Kết luận

  • Luận văn đã ứng dụng thành công bộ mô hình liên kết MIKE FLOOD (kết hợp MIKE 11, MIKE 21 và NAM) để mô phỏng chi tiết quá trình ngập lụt trên toàn bộ 3.344,7 km² diện tích tự nhiên của thành phố Hà Nội.
  • Mô hình tái hiện chính xác diễn biến trận ngập lụt lịch sử tháng 11/2008 với lượng mưa cực đại 914 mm, cho kết quả trùng khớp cao với dữ liệu ảnh vệ tinh viễn thám và chuỗi mực nước thực đo tại trạm Ba Thá.
  • Xây dựng thành công bản đồ khoanh vùng nguy cơ ngập lụt chi tiết ứng với kịch bản mưa thiết kế tần suất 1% (chu kỳ 100 năm), xác định các trọng điểm ngập sâu trên 1,5 m tại các huyện phía Nam.
  • Định lượng cụ thể điểm nghẽn tiêu thoát nước tại sông Tô Lịch (chỉ đáp ứng 30 - 35 m³/s so với nhu cầu 170 m³/s) và giới hạn xả 30 m³/s của hệ thống sông Nhuệ.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp công trình và phi công trình đồng bộ, cung cấp cơ sở khoa học tin cậy cho công tác quản lý ngập lụt và quy hoạch không gian đô thị bền vững.

Đóng góp học thuật cốt lõi của công trình là hoàn thiện quy trình kết nối mô hình thủy văn mưa - dòng chảy phân bố với mô hình thủy lực 1D-2D đồng bộ, thiết lập chuẩn mực khoa học vững chắc trong công tác phân vùng rủi ro thiên tai vùng đồng bằng châu thổ. Trong giai đoạn 2026 - 2030, các nghiên cứu tiếp theo cần tích hợp dữ liệu địa hình số độ phân giải cao LIDAR và cập nhật các kịch bản biến đổi khí hậu mới nhất. Các cơ quan quản lý đô thị và quy hoạch hạ tầng thoát nước nên nhanh chóng ứng dụng các kết quả nghiên cứu này vào thực tiễn để nâng cao năng lực chống chịu ngập lụt cho Thủ đô Hà Nội.