CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Giới thiệu chung về cây lạc 1. Nguồn gốc và sự phân bố Cây lạc có tên khoa học là Arachis hypogaea, thuộc họ Leguminiseae, họ phụ Papilionaceae, giống Arachis.
Là cây hằng niên, thích hợp với vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới (Nguyễn Bảo Vệ và Trần Thị Kim Ba, 2005). Lạc là cây công nghiệp, cây thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao. Được trồng ở hàng trăm nước trên thế giới và được coi là cây trồng chủ yếu của nhiều nước, lạc được xếp thứ 13 trong các cây thực phẩm, xếp thứ 4 về nguồn dầu thực vật và thứ 3 về cây trồng cung cấp protêin (Nguyễn Minh Hiếu, 2003). Nguồn gốc, sự tiến hoá và quá trình phân loại của cây lạc đến nay vẫn chưa được khẳng định.
Qua nhiều thập kỷ, dựa vào tài liệu của các nhà sử học, tự nhiên học, khảo cổ học và ngôn ngữ học người ta cho rằng cây lạc có nguồn gốc từ Nam Mỹ và được trồng vào khoảng những năm 2.500 trước Công nguyên. Lạc được mang đến Châu Phi, Châu Âu và Châu Á vào những năm cuối thế kỷ XVII bởi người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha (Chu Thị Thơm, 2006), (Lê Văn Tri, 2002). Cây lạc hiện tại được trồng từ 40o vĩ Bắc đến 40o vĩ Nam, thuộc vùng nhiệt đới và các vùng ấm áp trên thế giới. Tuy nhiên sự phân bố về diện tích, năng suất, sản lượng lại tập trung không đều giữa các khu vực trồng lạc khác nhau trên thế giới, tập trung chủ yếu ở ba châu lục là châu Á, châu Phi và châu Mỹ (Ưng Định, Đặng Phú, 1978).
- Nguồn gốc địa lý: Cây lạc du nhập vào Việt Nam từ khi nào thì đến nay chưa xác minh rõ, nhưng về mặt địa lý cây lạc có thể du nhập vào nước ta từ Indonesia là nơi chúng ta có nhiều mối quan hệ trong lịch sử trồng lúa nước, trồng dừa, trồng tre.Vì vậy có thể lạc từ các nước này vào Việt Nam, đồng thời cũng có thể từ Trung Quốc vào Việt Nam (Nguyễn Văn Dĩnh và cs. - Nguồn gốc thương mại và tôn giáo: Vào thế kỷ XVI người Châu Âu đã phát triển mạnh về thương mại và tôn giáo với các nước Châu Á. Người Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan đã đến Việt Nam buôn bán và truyền đạo ở miền Trung. Có thể vì lý do này mà hình thành nên vùng trồng lạc tập trung lớn hiện nay.
Cùng với người châu Âu, người Trung Quốc cũng đã đưa lạc vào các tỉnh phía bắc mà hình thành nên vùng trồng lạc ở đồng bằng Bắc Bộ và trung du Bắc Bộ. Tuy nhiên người ta thấy rằng cây lạc được du nhập vào Việt Nam muộn hơn so với các nước ở Châu Á khác (Nguyễn Danh Đông, 1984). PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 Ở Việt Nam cây lạc được trồng trên nhiều vùng sinh thái khác nhau: Vùng trung du Bắc bộ, cây lạc được trồng chủ yếu trên đất bạc màu như ở Bắc Giang, Phú Thọ, Vĩnh Phúc; vùng đồng bằng Bắc bộ thì trồng trên chân bãi ven sông, chân đất màu hay chân đất màu – lúa; vùng Trung bộ như Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh lạc được trồng trên đất cát ven biển là chính; vùng Nam bộ và vùng Tây Nguyên lạc được trồng trên đất cát, đất đỏ và đất đen; vùng Đông Nam bộ lạc được trồng chủ yếu trên các chân đất cát, đất đỏ và đất đen (Tạ Quốc Tuấn, Trần Quang Lợt, 2006). Đặc điểm thực vật học Rễ lạc thuộc loại rễ cọc bao gồm rễ chính và rễ bên.
Khi cây lạc được 5 lá thật thì bộ rễ tương đối hoàn chỉnh. Bộ rễ có thể ăn sâu 18 - 30 cm và rộng khoảng 30 - 40 cm. Sự phát triển của hệ rễ thời kỳ đầu rất nhanh rồi chậm dần vào các kỳ cuối. Trên rễ lạc có nhiều nốt sần, được tạo thành do vi khẩn Rhizobium sống cộng sinh với hệ rễ, do vậy cây lạc có khả năng cố định nitơ phân tử trong không khí thành đạm cung cấp cho cây và đất trồng (Nguyễn Lân Dũng, 1979), (Đoàn Thị Thanh Nhàn, 1996).
Thân cây lạc thuộc loại thân thảo ít gỗ. Thân chính của cây lạc thường chỉ cao khoảng 25 – 50 cm, lúc còn non thân lạc hình tròn và đặc, khi về già có hình góc cạnh và rỗng. Cây lạc phân cành ngay từ gốc. Cành cấp 1 được mọc từ gốc thường có nhiều hoa, cành cấp 2 mọc từ cành cấp 1 thường ít hoa hơn.
Số cành/cây khác nhau tùy từng giống và có ảnh hưởng trực tiếp đến số hoa và quả trên cây (Nguyễn Khoa Chi, 1987), (Trần Văn Điền, 1990), (Nguyễn Danh Đông và cs. Lá lạc là loại lá kép lông chim chẵn, gồm hai đôi lá chét mọc đối nhau, hình trái xoan ngược. Hai lá mầm có vai trò cung cấp chất dinh dưỡng cho cây ở giai đoạn đầu. Hai lá kèm hình mũi mác có nhiệm vụ bảo vệ mầm, lá thật có màu xanh thẫm và nhọn ở đầu.
Diện tích lá đạt tối đa ở thời kỳ hình thành quả và hạt nhưng lại giảm nhanh thời kỳ chín. Khi hoa tắt thì lá không mọc thêm nữa (Nguyễn Danh Đông và cs., 1984), (Chu Thị Thơm và cs. Hoa lạc mọc ở nách lá thành chùm 3 - 5 hoa/chùm. Hoa lạc là hoa lưỡng tính, có màu vàng, không có cuống, gồm 5 thành phần: đài hoa, cánh hoa, lá bắc, bộ nhụy và nhị.
Lạc là cây tự thụ phấn nghiêm ngặt, khi hoa nở là đã tự thụ phấn xong, sau đó cuống nhụy mọc dài, nghiêng xuống, đầu bầu nhụy cắm vào đất. Quá trình phân hóa hoa kéo dài nên quá trình nở hoa cũng kéo dài (Nguyễn Lân Dũng, 1979), (Nguyễn Danh Đông, 1984). Quả lạc có hình kén, dài 1 – 8 cm, rộng 0,5 – 2 cm một đầu dính với tia, quả thắt ở giữa ngăn các hạt, vỏ quả cứng có gân mạng, chứa từ 1 – 3 hạt. Quả lạc có hai bộ phận là bầu hoa và tia quả.
Tia quả do mô phân sinh nằm ở gốc bầu hoa hình thành, chiều dài tia PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 quả khoảng 4 – 16 cm, do vậy đối với các giống quả đứng cây, các hoa ra ở phần giữa thân cành trở lên ít có điều kiện hình thành quả. Quả lạc do bầu hoa phát triển thành, sau khi thụ tinh 6 - 8 ngày tia lạc bắt đầu dài ra và 2 - 5 ngày tiếp theo đưa bầu vào sau trong đất. Bầu hoa phát triển theo tư thế nằm ngang với mặt đất ở độ sâu 3 – 7 cm (Đinh Xuân Đức, 2009). Hạt lạc gồm có vỏ lụa và phôi, vỏ lụa rất mỏng bao bọc ngoài phôi có màu phớt hồng, trắng hồng, đỏ, đỏ sẫm, tím nhạt, tím đậm, có vân, không vân tùy vào đặc điểm di truyền của giống.
Phôi hạt gồm có lá mầm và trụ mầm. Trong hạt có nhiều tế bào màng mỏng chứa dầu, tinh bột và các chất hữu cơ tạo hương vị (Lê Song Dự và Nguyễn Thế Côn, 1979). Căn cứ vào thời gian sinh trưởng của cây lạc, người ta chia thành lạc làm hai loại: giống chín sớm có thời gian sinh trưởng từ 90 – 125 ngày, giống chín muộn có thời gian sinh trưởng từ 140 – 160 ngày. Dạng chín muộn trội hoàn toàn so với dạng chín sớm.
Nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng và phát triển của cây lạc từ 24oC – 33oC, dưới 12oC hạt lạc không nảy mầm, từ 15oC tỷ lệ nảy mầm khá cao, dưới 17oC hoa không thụ phấn, yêu cầu ẩm độ khoảng 60 - 70%, lượng mưa phân bố đều. Đất thích hợp nhất cho trồng lạc là đất có màu sáng, thoát nước nhanh, dễ vỡ, lượng canxi, lân, chất hữu cơ vừa phải, mùn ít hơn 2%, pH=6,0 - 6,4 (Nguyễn Danh Đông và cs. Vai trò và giá trị 1. Giá trị sử dụng Lạc là cây trồng chính đa tác dụng đối với cơ cấu cây trồng của nhiều quốc gia trên thế giới, cung cấp nguồn nguyên liệu chất lượng cao với tỷ lệ dầu 45 - 50%, protêin dễ tiêu hóa 23 - 25%, khoáng chất và vitamin (Nguyễn Lân Dũng, 1979).
Toàn bộ cây lạc đều có giá trị sử dụng nhưng sản phẩm chính được sử dụng là hạt lạc. Hạt lạc có chứa hầu như đầy đủ các chất đại diện cho tất cả các nhóm chất hóa học, hợp chất và rất nhiều chất vô cơ. Các chất này có thể chia thành các nhóm sau: Lipit, protêin, gluxit, photphatit, glucozit, hydrocacbua, axitamin, andehyt và xeton, chất sáp, chất vô cơ, chất có màu. Trong đó, hàm lượng lipit chiếm tỉ lệ cao nhất, sau đó đến protêin và gluxit (Đỗ Tấn Dũng, 2006).
Hàm lượng dinh dưỡng của cây lạc khá cân đối so với một số cây lấy dầu khác, được thể hiện qua bảng 1. PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 7 Bảng 1. Thành phần sinh hóa của một số hạt lấy dầu Loại hạt Chất béo Chất đạm Chất bột Chất khoáng Lạc 40,2 – 60,7 20,0 – 33,7 6,0 – 22,0 1,8 – 4,6 Vừng 46,2 – 61,0 17,6 – 27,0 6,7 – 19,6 3,7 – 7,0 Đậu tương 10,0 – 28,0 35,0 – 52,0 28,0 4,4 – 6,0 Hướng 40,0 – 67,8 21,0 – 30,4 2,0 – 6,5 3,2 – 5,4 dương ( Nguồn: Tạ Quốc Tuấn và Trần Văn Lợt, 1999) Do hạt lạc có giá trị kinh tế như vậy nên từ lâu người ta đã sử dụng lạc như một nguồn thực phẩm quan trọng. Trên thế giới, có khoảng 80% số lạc được sản xuất ra được dùng làm dầu ăn, khoảng 12% được dùng chế biến thành nhiều sản phẩm khác nhau như bánh, mứt, kẹo, bơ… khoảng 6% dùng cho chăn nuôi, 2% dành cho xuất khẩu (Tạ Quốc Tuấn và Trần Quang Lợt, 2006).
Ngoài ra, khô dầu lạc là nguồn bổ sung chất đạm và chất béo quan trọng trong chế biến thức ăn gia súc tổng hợp, khô lạc nhân sau khi ép dầu có khoảng 10% nước, 45% prôtêin, 8% lipit, 4,8% cenlulose, 25% gluxit và 6,5% các loại muối khoáng. Thân lá lạc sau khi thu hoạch có thể sử dụng làm thức ăn cho trâu bò hoặc làm phân bón bằng cách ủ hoai mục với các loại phân khác hoặc cày vùi luôn tại ruộng. Lạc là cây họ đậu, bộ rễ của nó mang nhiều nốt sần nên có tác dụng làm giàu nguồn đạm cho đất vì vậy lạc được xem là cây trồng lý tưởng trong công tác cải tạo, bồi dưỡng đất tốt trên các loại đất xám bạc màu, đất phù sa cổ, đất bị rửa trôi và thoái hóa nhanh, đất có hàm lượng mùn và dinh dưỡng thấp (Tạ Quốc Tuấn và Trần Quang Lợt, 2006).