Luận văn nghiên cứu mật độ trồng lạc đối với giống tb25 và giống tk10 trong vụ xuân 2017 tại huyện đông hòa tỉnh phú yên

Nghiên cứu mật độ trồng lạc giống tb25 và tk10 trong vụ xuân 2017 tại huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên, mang lại thông tin hữu ích cho nông dân.

Trường đại học

Đại Học Nông Lâm Huế

Chuyên ngành

Khoa Học Cây Trồng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ Nông Nghiệp

2017

143
5
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Nghiên Cứu Mật Độ Trồng Lạc Phú Yên 2024

Nghiên cứu mật độ trồng lạc là yếu tố then chốt để tối ưu năng suất lạc tại Phú Yên. Lạc là cây công nghiệp ngắn ngày, có giá trị kinh tế cao, được sử dụng rộng rãi làm thực phẩm và nguyên liệu chế biến. Tuy nhiên, năng suất lạc tại Phú Yên chưa tương xứng với tiềm năng do nhiều nguyên nhân, trong đó có việc áp dụng chưa đúng các biện pháp kỹ thuật, đặc biệt là mật độ trồngphân bón cho lạc. Nghiên cứu này tập trung vào đánh giá ảnh hưởng của mật độ trồng đối với hai giống lạc TB25giống lạc TK10 trong điều kiện vụ Xuân tại huyện Đông Hòa, Phú Yên. Kết quả sẽ cung cấp cơ sở khoa học để cải thiện quy trình thâm canh lạc, nâng cao năng suất và thu nhập cho người dân.

1.1. Giới Thiệu Chung Về Cây Lạc và Giá Trị Kinh Tế

Cây lạc (Arachis hypogaea L.) thuộc họ Đậu, là cây trồng quan trọng trong nền nông nghiệp. Hạt lạc chứa hàm lượng dầu cao (40-60%), protein (20-37.5%), gluxit (6-22%) và xellulo (5-8%). Lạc không chỉ là nguồn thực phẩm dinh dưỡng mà còn là nguyên liệu quan trọng cho công nghiệp chế biến dầu thực vật, bánh kẹo. Theo Lê Văn Chánh (2013), lạc là một trong những cây lấy dầu quan trọng trên thế giới. Việc phát triển sản xuất lạc góp phần đảm bảo an ninh lương thực và tăng thu nhập cho nông dân.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Nghiên Cứu Mật Độ Trồng Lạc

Việc xác định mật độ trồng lạc phù hợp là yếu tố then chốt để tối ưu hóa năng suất lạc. Mật độ quá dày có thể dẫn đến cạnh tranh dinh dưỡng, ánh sáng, tăng nguy cơ sâu bệnh hại. Mật độ quá thưa có thể không tận dụng hết tiềm năng của đất đai. Nghiên cứu này nhằm mục đích tìm ra mật độ trồng tối ưu cho giống lạc TB25giống lạc TK10 tại Phú Yên, từ đó giúp nông dân nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế.

II. Thách Thức Trong Canh Tác Lạc Tại Phú Yên Hiện Nay

Mặc dù lạc được xem là cây trồng chủ lực tại Phú Yên, diện tích và sản lượng lạc vẫn còn thấp so với tiềm năng. Một trong những nguyên nhân chính là do người dân chưa áp dụng đúng các biện pháp kỹ thuật canh tác, đặc biệt là mật độ trồng lạc và chế độ phân bón cho lạc. Bên cạnh đó, thông tin về kỹ thuật trồng lạc phù hợp với điều kiện địa phương còn hạn chế. Cần có những nghiên cứu cụ thể về mật độ trồng cho từng giống lạc để cải thiện năng suất và chất lượng sản phẩm.

2.1. Hạn Chế Về Kỹ Thuật Canh Tác Lạc Của Nông Dân

Nhiều nông dân tại Phú Yên vẫn áp dụng các phương pháp canh tác lạc truyền thống, chưa chú trọng đến việc lựa chọn mật độ trồng phù hợp với từng giống lạc. Việc sử dụng phân bón chưa cân đối, không đúng thời điểm cũng ảnh hưởng đến năng suất lạc. Cần có các chương trình tập huấn, chuyển giao kỹ thuật để nâng cao trình độ canh tác cho nông dân.

2.2. Thiếu Nghiên Cứu Về Mật Độ Trồng Lạc Phù Hợp

Tại Phú Yên, các nghiên cứu về mật độ trồng lạc còn hạn chế, đặc biệt là đối với các giống lạc mới. Việc thiếu thông tin về mật độ trồng tối ưu khiến nông dân gặp khó khăn trong việc lựa chọn phương pháp canh tác phù hợp. Nghiên cứu này sẽ cung cấp dữ liệu khoa học để giải quyết vấn đề này.

2.3. Ảnh Hưởng Của Điều Kiện Khí Hậu Phú Yên Đến Cây Lạc

Điều kiện khí hậu Phú Yên có ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng và phát triển của cây lạc. Các yếu tố như nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm có thể tác động đến năng suất lạc và chất lượng sản phẩm. Nghiên cứu cần xem xét đến yếu tố khí hậu để đưa ra khuyến cáo phù hợp về thời vụ trồng lạcmật độ trồng.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Mật Độ Lạc TB25 và TK10 Hiệu Quả

Nghiên cứu sử dụng phương pháp thí nghiệm đồng ruộng, bố trí theo kiểu ô lớn - ô nhỏ với 3 lần nhắc lại. Hai yếu tố được xem xét là giống lạc (TB25 và TK10) và mật độ trồng. Các chỉ tiêu theo dõi bao gồm: tỷ lệ nảy mầm, thời gian sinh trưởng, chiều cao cây, số cành, diện tích lá, số nốt sần, năng suất lý thuyết, năng suất thực thu, và hiệu quả kinh tế. Các biện pháp kỹ thuật canh tác được áp dụng theo quy trình chuẩn. Số liệu được xử lý bằng phần mềm thống kê.

3.1. Bố Trí Thí Nghiệm Đồng Ruộng Khoa Học

Thí nghiệm được bố trí tại huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên trong vụ Xuân 2017. Các công thức thí nghiệm được bố trí ngẫu nhiên, đảm bảo tính khách quan và chính xác của kết quả. Việc sử dụng kiểu ô lớn - ô nhỏ giúp giảm thiểu sai số do tác động của môi trường.

3.2. Các Chỉ Tiêu Theo Dõi Sinh Trưởng và Năng Suất Lạc

Nghiên cứu theo dõi sát sao các chỉ tiêu sinh trưởng của cây lạc như chiều cao cây, số cành, diện tích lá. Các chỉ tiêu về năng suất lạc như số quả trên cây, khối lượng quả, khối lượng hạt, năng suất lý thuyết, năng suất thực thu cũng được ghi nhận đầy đủ. Các chỉ tiêu này giúp đánh giá chính xác ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh trưởng và năng suất lạc.

3.3. Quy Trình Kỹ Thuật Canh Tác Lạc Trong Thí Nghiệm

Quy trình kỹ thuật canh tác lạc được áp dụng thống nhất cho tất cả các công thức thí nghiệm, bao gồm làm đất, lên luống, bón phân, tưới nước, phòng trừ sâu bệnh hại. Việc tuân thủ quy trình kỹ thuật giúp đảm bảo tính đồng đều và khách quan của thí nghiệm.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Mật Độ Đến Năng Suất Lạc

Kết quả nghiên cứu cho thấy mật độ trồng có ảnh hưởng đáng kể đến sinh trưởng, phát triển và năng suất lạc của cả hai giống lạc TB25giống lạc TK10. Mật độ quá dày làm giảm diện tích lá trên cá thể nhưng tăng chỉ số diện tích lá. Khả năng tích lũy chất khô giảm ở các mật độ dày hơn. Giống lạc TB25 có khả năng tích lũy chất khô cao hơn giống lạc TK10. Diễn biến sâu bệnh hại có xu hướng cao ở các mật độ trồng dày.

4.1. Ảnh Hưởng Của Mật Độ Đến Sinh Trưởng Của Cây Lạc

Mật độ trồng ảnh hưởng đến chiều cao cây, chiều dài cành và khả năng phân cành của cây lạc. Số lượng nốt sần của bộ rễ chủ yếu do yếu tố mật độ chi phối. Diện tích lá trên cá thể giảm khi tăng mật độ, nhưng chỉ số diện tích lá lại tăng.

4.2. Tác Động Của Mật Độ Đến Năng Suất và Chất Lượng Hạt Lạc

Năng suất thực thu trung bình của hai giống lạc dao động từ 23.54 – 31.78 tạ/ha. Mật độ 41 cây/m có năng suất thực thu trung bình cao nhất. Hàm lượng lipid và protein của hạt lạc chịu ảnh hưởng trực tiếp từ yếu tố giống lạc, cụ thể là hàm lượng lipid và protein của giống lạc TK10 đạt cao hơn giống lạc TB25.

4.3. Mật Độ Trồng Tối Ưu Cho Giống Lạc TB25 và TK10

Kết quả cho thấy mật độ trồng thích hợp cho giống lạc TB25 là 45 cây/m và mật độ trồng thích hợp cho giống lạc TK10 là 41 cây/m. Nếu tiếp tục tăng mật độ trồng, năng suất thực thu sẽ giảm do cạnh tranh dinh dưỡng, ánh sáng, nước và tỷ lệ nhiễm sâu bệnh hại cũng tăng.

V. Ứng Dụng Thực Tiễn Nghiên Cứu Mật Độ Trồng Lạc Phú Yên

Nghiên cứu này cung cấp cơ sở khoa học để khuyến cáo mật độ trồng lạc phù hợp cho giống lạc TB25giống lạc TK10 tại Phú Yên. Kết quả có thể được sử dụng để xây dựng quy trình thâm canh lạc hiệu quả, nâng cao năng suất lạc và thu nhập cho người dân. Đồng thời, nghiên cứu cũng góp phần đa dạng hóa cơ cấu giống lạc tại địa phương.

5.1. Khuyến Cáo Mật Độ Trồng Lạc Cho Nông Dân Phú Yên

Dựa trên kết quả nghiên cứu, khuyến cáo nông dân tại Phú Yên nên áp dụng mật độ trồng 45 cây/m cho giống lạc TB25 và 41 cây/m cho giống lạc TK10 để đạt năng suất cao nhất. Cần kết hợp với các biện pháp kỹ thuật canh tác khác như bón phân cân đối, phòng trừ sâu bệnh hại kịp thời.

5.2. Đề Xuất Bổ Sung Giống Lạc TK10 Vào Cơ Cấu Giống

Nghiên cứu đề xuất bổ sung giống lạc TK10 vào cơ cấu giống lạc của huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên. Giống lạc TK10 có tiềm năng năng suất cao và chất lượng tốt, phù hợp với điều kiện địa phương.

5.3. Nâng Cao Hiệu Quả Kinh Tế Từ Canh Tác Lạc

Việc áp dụng mật độ trồng phù hợp và các biện pháp kỹ thuật canh tác tiên tiến sẽ giúp nâng cao năng suất lạc, giảm chi phí sản xuất và tăng thu nhập cho người dân. Canh tác lạc hiệu quả góp phần phát triển kinh tế nông nghiệp bền vững tại Phú Yên.

VI. Kết Luận và Hướng Nghiên Cứu Mật Độ Lạc Tương Lai

Nghiên cứu đã xác định được mật độ trồng lạc thích hợp cho giống lạc TB25giống lạc TK10 trong vụ Xuân tại huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên. Kết quả này có ý nghĩa quan trọng trong việc cải thiện quy trình thâm canh lạc, nâng cao năng suất và thu nhập cho người dân. Trong tương lai, cần có thêm các nghiên cứu về ảnh hưởng của mật độ trồng đến chất lượng hạt lạc, khả năng chống chịu sâu bệnh hại và thích ứng với biến đổi khí hậu.

6.1. Tổng Kết Kết Quả Nghiên Cứu Về Mật Độ Trồng Lạc

Nghiên cứu đã chứng minh rằng mật độ trồng có ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng, phát triển và năng suất lạc. Việc lựa chọn mật độ trồng phù hợp là yếu tố then chốt để tối ưu hóa năng suất lạc và hiệu quả kinh tế.

6.2. Hướng Nghiên Cứu Tiếp Theo Về Cây Lạc Tại Phú Yên

Trong tương lai, cần có thêm các nghiên cứu về ảnh hưởng của mật độ trồng đến chất lượng hạt lạc, khả năng chống chịu sâu bệnh hại và thích ứng với biến đổi khí hậu. Nghiên cứu cũng cần tập trung vào việc phát triển các giống lạc mới có năng suất cao, chất lượng tốt và khả năng chống chịu tốt với điều kiện bất lợi của môi trường.

6.3. Phát Triển Canh Tác Lạc Bền Vững Tại Phú Yên

Cần có các giải pháp đồng bộ để phát triển canh tác lạc bền vững tại Phú Yên, bao gồm: chuyển giao kỹ thuật canh tác tiên tiến, hỗ trợ nông dân tiếp cận nguồn vốn, xây dựng chuỗi giá trị sản phẩm lạc, và bảo vệ môi trường.

05/06/2025
Luận văn nghiên cứu mật độ trồng lạc đối với giống tb25 và giống tk10 trong vụ xuân 2017 tại huyện đông hòa tỉnh phú yên

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Giới thiệu chung về cây lạc 1. Nguồn gốc và sự phân bố Cây lạc có tên khoa học là Arachis hypogaea, thuộc họ Leguminiseae, họ phụ Papilionaceae, giống Arachis.

Là cây hằng niên, thích hợp với vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới (Nguyễn Bảo Vệ và Trần Thị Kim Ba, 2005). Lạc là cây công nghiệp, cây thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao. Được trồng ở hàng trăm nước trên thế giới và được coi là cây trồng chủ yếu của nhiều nước, lạc được xếp thứ 13 trong các cây thực phẩm, xếp thứ 4 về nguồn dầu thực vật và thứ 3 về cây trồng cung cấp protêin (Nguyễn Minh Hiếu, 2003). Nguồn gốc, sự tiến hoá và quá trình phân loại của cây lạc đến nay vẫn chưa được khẳng định.

Qua nhiều thập kỷ, dựa vào tài liệu của các nhà sử học, tự nhiên học, khảo cổ học và ngôn ngữ học người ta cho rằng cây lạc có nguồn gốc từ Nam Mỹ và được trồng vào khoảng những năm 2.500 trước Công nguyên. Lạc được mang đến Châu Phi, Châu Âu và Châu Á vào những năm cuối thế kỷ XVII bởi người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha (Chu Thị Thơm, 2006), (Lê Văn Tri, 2002). Cây lạc hiện tại được trồng từ 40o vĩ Bắc đến 40o vĩ Nam, thuộc vùng nhiệt đới và các vùng ấm áp trên thế giới. Tuy nhiên sự phân bố về diện tích, năng suất, sản lượng lại tập trung không đều giữa các khu vực trồng lạc khác nhau trên thế giới, tập trung chủ yếu ở ba châu lục là châu Á, châu Phi và châu Mỹ (Ưng Định, Đặng Phú, 1978).

- Nguồn gốc địa lý: Cây lạc du nhập vào Việt Nam từ khi nào thì đến nay chưa xác minh rõ, nhưng về mặt địa lý cây lạc có thể du nhập vào nước ta từ Indonesia là nơi chúng ta có nhiều mối quan hệ trong lịch sử trồng lúa nước, trồng dừa, trồng tre.Vì vậy có thể lạc từ các nước này vào Việt Nam, đồng thời cũng có thể từ Trung Quốc vào Việt Nam (Nguyễn Văn Dĩnh và cs. - Nguồn gốc thương mại và tôn giáo: Vào thế kỷ XVI người Châu Âu đã phát triển mạnh về thương mại và tôn giáo với các nước Châu Á. Người Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan đã đến Việt Nam buôn bán và truyền đạo ở miền Trung. Có thể vì lý do này mà hình thành nên vùng trồng lạc tập trung lớn hiện nay.

Cùng với người châu Âu, người Trung Quốc cũng đã đưa lạc vào các tỉnh phía bắc mà hình thành nên vùng trồng lạc ở đồng bằng Bắc Bộ và trung du Bắc Bộ. Tuy nhiên người ta thấy rằng cây lạc được du nhập vào Việt Nam muộn hơn so với các nước ở Châu Á khác (Nguyễn Danh Đông, 1984). PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 Ở Việt Nam cây lạc được trồng trên nhiều vùng sinh thái khác nhau: Vùng trung du Bắc bộ, cây lạc được trồng chủ yếu trên đất bạc màu như ở Bắc Giang, Phú Thọ, Vĩnh Phúc; vùng đồng bằng Bắc bộ thì trồng trên chân bãi ven sông, chân đất màu hay chân đất màu – lúa; vùng Trung bộ như Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh lạc được trồng trên đất cát ven biển là chính; vùng Nam bộ và vùng Tây Nguyên lạc được trồng trên đất cát, đất đỏ và đất đen; vùng Đông Nam bộ lạc được trồng chủ yếu trên các chân đất cát, đất đỏ và đất đen (Tạ Quốc Tuấn, Trần Quang Lợt, 2006). Đặc điểm thực vật học Rễ lạc thuộc loại rễ cọc bao gồm rễ chính và rễ bên.

Khi cây lạc được 5 lá thật thì bộ rễ tương đối hoàn chỉnh. Bộ rễ có thể ăn sâu 18 - 30 cm và rộng khoảng 30 - 40 cm. Sự phát triển của hệ rễ thời kỳ đầu rất nhanh rồi chậm dần vào các kỳ cuối. Trên rễ lạc có nhiều nốt sần, được tạo thành do vi khẩn Rhizobium sống cộng sinh với hệ rễ, do vậy cây lạc có khả năng cố định nitơ phân tử trong không khí thành đạm cung cấp cho cây và đất trồng (Nguyễn Lân Dũng, 1979), (Đoàn Thị Thanh Nhàn, 1996).

Thân cây lạc thuộc loại thân thảo ít gỗ. Thân chính của cây lạc thường chỉ cao khoảng 25 – 50 cm, lúc còn non thân lạc hình tròn và đặc, khi về già có hình góc cạnh và rỗng. Cây lạc phân cành ngay từ gốc. Cành cấp 1 được mọc từ gốc thường có nhiều hoa, cành cấp 2 mọc từ cành cấp 1 thường ít hoa hơn.

Số cành/cây khác nhau tùy từng giống và có ảnh hưởng trực tiếp đến số hoa và quả trên cây (Nguyễn Khoa Chi, 1987), (Trần Văn Điền, 1990), (Nguyễn Danh Đông và cs. Lá lạc là loại lá kép lông chim chẵn, gồm hai đôi lá chét mọc đối nhau, hình trái xoan ngược. Hai lá mầm có vai trò cung cấp chất dinh dưỡng cho cây ở giai đoạn đầu. Hai lá kèm hình mũi mác có nhiệm vụ bảo vệ mầm, lá thật có màu xanh thẫm và nhọn ở đầu.

Diện tích lá đạt tối đa ở thời kỳ hình thành quả và hạt nhưng lại giảm nhanh thời kỳ chín. Khi hoa tắt thì lá không mọc thêm nữa (Nguyễn Danh Đông và cs., 1984), (Chu Thị Thơm và cs. Hoa lạc mọc ở nách lá thành chùm 3 - 5 hoa/chùm. Hoa lạc là hoa lưỡng tính, có màu vàng, không có cuống, gồm 5 thành phần: đài hoa, cánh hoa, lá bắc, bộ nhụy và nhị.

Lạc là cây tự thụ phấn nghiêm ngặt, khi hoa nở là đã tự thụ phấn xong, sau đó cuống nhụy mọc dài, nghiêng xuống, đầu bầu nhụy cắm vào đất. Quá trình phân hóa hoa kéo dài nên quá trình nở hoa cũng kéo dài (Nguyễn Lân Dũng, 1979), (Nguyễn Danh Đông, 1984). Quả lạc có hình kén, dài 1 – 8 cm, rộng 0,5 – 2 cm một đầu dính với tia, quả thắt ở giữa ngăn các hạt, vỏ quả cứng có gân mạng, chứa từ 1 – 3 hạt. Quả lạc có hai bộ phận là bầu hoa và tia quả.

Tia quả do mô phân sinh nằm ở gốc bầu hoa hình thành, chiều dài tia PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 quả khoảng 4 – 16 cm, do vậy đối với các giống quả đứng cây, các hoa ra ở phần giữa thân cành trở lên ít có điều kiện hình thành quả. Quả lạc do bầu hoa phát triển thành, sau khi thụ tinh 6 - 8 ngày tia lạc bắt đầu dài ra và 2 - 5 ngày tiếp theo đưa bầu vào sau trong đất. Bầu hoa phát triển theo tư thế nằm ngang với mặt đất ở độ sâu 3 – 7 cm (Đinh Xuân Đức, 2009). Hạt lạc gồm có vỏ lụa và phôi, vỏ lụa rất mỏng bao bọc ngoài phôi có màu phớt hồng, trắng hồng, đỏ, đỏ sẫm, tím nhạt, tím đậm, có vân, không vân tùy vào đặc điểm di truyền của giống.

Phôi hạt gồm có lá mầm và trụ mầm. Trong hạt có nhiều tế bào màng mỏng chứa dầu, tinh bột và các chất hữu cơ tạo hương vị (Lê Song Dự và Nguyễn Thế Côn, 1979). Căn cứ vào thời gian sinh trưởng của cây lạc, người ta chia thành lạc làm hai loại: giống chín sớm có thời gian sinh trưởng từ 90 – 125 ngày, giống chín muộn có thời gian sinh trưởng từ 140 – 160 ngày. Dạng chín muộn trội hoàn toàn so với dạng chín sớm.

Nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng và phát triển của cây lạc từ 24oC – 33oC, dưới 12oC hạt lạc không nảy mầm, từ 15oC tỷ lệ nảy mầm khá cao, dưới 17oC hoa không thụ phấn, yêu cầu ẩm độ khoảng 60 - 70%, lượng mưa phân bố đều. Đất thích hợp nhất cho trồng lạc là đất có màu sáng, thoát nước nhanh, dễ vỡ, lượng canxi, lân, chất hữu cơ vừa phải, mùn ít hơn 2%, pH=6,0 - 6,4 (Nguyễn Danh Đông và cs. Vai trò và giá trị 1. Giá trị sử dụng Lạc là cây trồng chính đa tác dụng đối với cơ cấu cây trồng của nhiều quốc gia trên thế giới, cung cấp nguồn nguyên liệu chất lượng cao với tỷ lệ dầu 45 - 50%, protêin dễ tiêu hóa 23 - 25%, khoáng chất và vitamin (Nguyễn Lân Dũng, 1979).

Toàn bộ cây lạc đều có giá trị sử dụng nhưng sản phẩm chính được sử dụng là hạt lạc. Hạt lạc có chứa hầu như đầy đủ các chất đại diện cho tất cả các nhóm chất hóa học, hợp chất và rất nhiều chất vô cơ. Các chất này có thể chia thành các nhóm sau: Lipit, protêin, gluxit, photphatit, glucozit, hydrocacbua, axitamin, andehyt và xeton, chất sáp, chất vô cơ, chất có màu. Trong đó, hàm lượng lipit chiếm tỉ lệ cao nhất, sau đó đến protêin và gluxit (Đỗ Tấn Dũng, 2006).

Hàm lượng dinh dưỡng của cây lạc khá cân đối so với một số cây lấy dầu khác, được thể hiện qua bảng 1. PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 7 Bảng 1. Thành phần sinh hóa của một số hạt lấy dầu Loại hạt Chất béo Chất đạm Chất bột Chất khoáng Lạc 40,2 – 60,7 20,0 – 33,7 6,0 – 22,0 1,8 – 4,6 Vừng 46,2 – 61,0 17,6 – 27,0 6,7 – 19,6 3,7 – 7,0 Đậu tương 10,0 – 28,0 35,0 – 52,0 28,0 4,4 – 6,0 Hướng 40,0 – 67,8 21,0 – 30,4 2,0 – 6,5 3,2 – 5,4 dương ( Nguồn: Tạ Quốc Tuấn và Trần Văn Lợt, 1999) Do hạt lạc có giá trị kinh tế như vậy nên từ lâu người ta đã sử dụng lạc như một nguồn thực phẩm quan trọng. Trên thế giới, có khoảng 80% số lạc được sản xuất ra được dùng làm dầu ăn, khoảng 12% được dùng chế biến thành nhiều sản phẩm khác nhau như bánh, mứt, kẹo, bơ… khoảng 6% dùng cho chăn nuôi, 2% dành cho xuất khẩu (Tạ Quốc Tuấn và Trần Quang Lợt, 2006).

Ngoài ra, khô dầu lạc là nguồn bổ sung chất đạm và chất béo quan trọng trong chế biến thức ăn gia súc tổng hợp, khô lạc nhân sau khi ép dầu có khoảng 10% nước, 45% prôtêin, 8% lipit, 4,8% cenlulose, 25% gluxit và 6,5% các loại muối khoáng. Thân lá lạc sau khi thu hoạch có thể sử dụng làm thức ăn cho trâu bò hoặc làm phân bón bằng cách ủ hoai mục với các loại phân khác hoặc cày vùi luôn tại ruộng. Lạc là cây họ đậu, bộ rễ của nó mang nhiều nốt sần nên có tác dụng làm giàu nguồn đạm cho đất vì vậy lạc được xem là cây trồng lý tưởng trong công tác cải tạo, bồi dưỡng đất tốt trên các loại đất xám bạc màu, đất phù sa cổ, đất bị rửa trôi và thoái hóa nhanh, đất có hàm lượng mùn và dinh dưỡng thấp (Tạ Quốc Tuấn và Trần Quang Lợt, 2006).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Mật Độ Trồng Lạc Giống TB25 và TK10 Tại Phú Yên" cung cấp cái nhìn sâu sắc về việc tối ưu hóa mật độ trồng lạc, một trong những cây trồng quan trọng tại Việt Nam. Nghiên cứu này không chỉ phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất của hai giống lạc TB25 và TK10 mà còn đưa ra những khuyến nghị cụ thể cho nông dân nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về kỹ thuật canh tác, từ đó có thể áp dụng vào thực tiễn để cải thiện năng suất và chất lượng sản phẩm.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực nông nghiệp, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận án tiến sĩ nông nghiệp nghiên cứu tuyển chọn giống sắn năng suất tinh bột cao và kỹ thuật thâm canh tại tỉnh Phú Yên, nơi cung cấp thông tin về giống cây trồng khác và kỹ thuật thâm canh. Ngoài ra, tài liệu Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ và mật độ trồng đến sinh trưởng phát triển và năng suất của giống lạc l23 trong điều kiện vụ xuân tại huyện Ý Yên Nam Định cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về ảnh hưởng của thời vụ đến năng suất lạc. Những tài liệu này sẽ là nguồn tài nguyên quý giá cho những ai muốn tìm hiểu sâu hơn về nông nghiệp và kỹ thuật trồng trọt.