Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu; - Chương 2: Mục tiêu, đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu; - Chương 3: Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu; - Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận; - Phần kết luận và kiến nghị. Ngoài ra còn có hệ thống 29 bảng, 18 hình. Tham khảo 88 tài liệu trong đó 80 tài liệu tiếng Việt, 08 tài liệu tiếng nước ngoài có liên quan đến chủ đề nghiên cứu và phần phụ lục gồm các bảng biểu minh họa kết quả điều tra và tính toán. 6 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Chiến lược toàn cầu về bảo tồn ĐDSH trên thế giới Tài nguyên thiên nhiên và ĐDSH đóng vai trò quan trọng trong sự tiến hóa, duy trì cân bằng tự nhiên và phát triển kinh tế xã hội. ĐDSH trên thế giới đang bị suy giảm nghiêm trọng bởi các hoạt động của con người. Sau hội nghị thượng đỉnh toàn cầu lần thứ II tại Rio de Janeiro, Brazil, thế giới đã có cái nhìn sâu hơn về bảo tồn ĐDSH và một chiến lược về bảo tồn ĐDSH đã được hình thành. Nguyên tắc chủ đạo trong chiến lược này là chú trọng đến các mối quan hệ giữa phát triển KT- XH với bảo tồn tài nguyên ĐDSH.
Xu hướng chung của Thế giới về bảo tồn ĐDSH hiện nay là bảo tồn gắn với phát triển bền vững. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh cho hướng đi đúng đắn này, theo P. UNESCO cũng đã khởi xướng một cách tiếp cận bảo tồn vì người dân, do dân thực hiện dưới sự giám sát và cung cấp dịch vụ của nhà nước với chương trình “con người và sinh quyển” [47]. IUCN và WWF đã thừa nhận “KBT chỉ có thể tồn tại khi nó có giá trị đối với toàn thể quốc gia và đặc biệt đối với người dân địa phương”.
Theo DSEWPaC (2011) [80] thì một trong những cơ hội lớn cho việc đầu tư có hiệu quả về bảo tồn ĐDSH ở cấp độ quốc gia là việc sử dụng các quyết định dựa trên cơ sở khoa học để dự đoán, theo dõi, đánh giá lợi ích của ĐDSH và chính sách đầu tư. Như vậy có thể thấy: Trừ những trường hợp đặc biệt đối với một số KBT có tính biệt lập hoàn toàn với khu dân cư, còn lại thì giải pháp tốt nhất và mang tính chiến lược vẫn phải là bảo tồn gắn với phát triển kinh tế, xã hội bền vững. Tầm quan trọng của hệ thống các KBTTN trên Thế giới Theo định nghĩa của IUCN khẳng định bảo tồn ĐDSH là mục tiêu cơ bản của KBT: “KBT là một khu vực trên đất liền hoặc trên biển được khoanh vùng để bảo vệ ĐDSH, các tài nguyên thiên nhiên và văn hoá đi kèm, được quản lý bằng các công cụ pháp luật hoặc các hình thức quản lý có hiệu quả khác” [29] Công ước ĐDSH (1992) xác định các KBT là công cụ hữu hiệu và có vai trò quan trọng trong bảo tồn ĐDSH “tại chỗ”. Tại điều 8 “Bảo tồn tại chỗ” của Công Ước có các mục qui định rõ các nước tham gia công ước ĐDSH có trách nhiệm thành lập hệ thống KBT, xây dựng các hướng dẫn lựa chọn, thành lập và quản lý các KBT và quản lý các tài nguyên sinh học bên trong các KBT để đảm bảo bảo tồn và sử dụng bền vững.
VQG Yellowstone là VQG đầu tiên trên thế giới, được thành lập tại Mỹ năm 1872. VQG này nằm trên vùng đất do người Crow và người Shoshone sinh sống trên cơ sở sử dụng bạo lực ép buộc hai cộng đồng tộc người này phải rời bỏ mảnh đất của họ. Nhiều KBT và VQG được thành lập sau đó ở các nước khác nhau trên thế giới và cũng sử dụng phương thức quản lý theo mô hình này, có nghĩa là ngăn cấm người dân địa phương thâm nhập vào KBT và VQG và tiếp cận tài nguyên trong đó. Điều đó dẫn đến những hiệu quả tất yếu là làm nảy sinh mâu thuẫn giữa cộng đồng địa phương và KBT và mục đích bảo tồn TNR đã không đạt được.
Phương thức này gọi là biện pháp "Rào và phạt". Tại các nước Đông Nam Châu Á phương thức này tỏ ra không thích hợp vì để duy trì sự ĐDSH thì người dân địa phương bị mất quyền tiếp cận với nguồn TNR, trong khi sự phụ thuộc của họ vào TNR là rất lớn. Các mô hình ở Đông Nam Châu Á đã chỉ ra rằng: Nỗ lực của các cơ quan Chính phủ nhằm đưa dân chúng ra khỏi các KBT đã không mang lại kết quả như mong muốn trên cả phương diện quản lý TNR và KT- XH. Người dân địa phương có nhiều kiến thức bản địa trong việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên và các thể chế cộng đồng đã tỏ ra có hiệu quả trong việc quản lý các nguồn tài nguyên này.
8 Trước những bất cập trong công tác bảo tồn ở các VQG/KBT trên thế giới, từ những năm đầu của thập kỷ 80 nhiều dự án nghiên cứu, hội thảo quốc tế với sự đóng góp của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu về bảo tồn đã đề xuất những thay đổi trong chiến lược bảo tồn. Một chiến lược bảo tồn mới dần được hình thành và khẳng định tính ưu việt, đó là liên kết quản lý KBT và VQG với các hoạt động sinh kế của người dân địa phương, cần thiết có sự tham gia bình đẳng của các cộng đồng trên cơ sở tôn trọng nền văn hoá trong quá trình xây dựng các quyết định. Những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý của các KBT, từ những yếu tố cơ bản như đối tượng được bảo vệ (các loài, các dịch vụ hệ sinh thái), người làm công tác bảo vệ (các vấn đề quản trị), đến các yếu tố phức tạp hơn như các yếu tố liên quan đến tài chính. Đánh giá một cách tổng hợp sẽ mang lại một cái nhìn tổng quan hơn về các vấn đề liên quan đến việc quản lý ĐDSH trong các KBT[83].
Nhiều kết quả nghiên cứu trên thế giới và kinh nghiệm thực tiễn của các VQG/KBT khẳng định rằng để quản lý thành công cần dựa trên mô hình quản lý gắn bảo tồn ĐDSH với bảo tồn văn hoá của người dân địa phương. Cách tiếp cận trong quản lý các KBT Phương pháp nghiên cứu chính trong quản lý bảo tồn ở trên thế giới thể hiện qua ba phương pháp tiếp cận chính là tiếp cận nghiên cứu về kỹ thuật bảo tồn; tiếp cận sinh kế bền vững và tiếp cận nghiên cứu bảo tồn và phát triển. Phƣơng pháp nghiên cứu kỹ thuật bảo tồn Về mặt lý thuyết và cơ sở khoa học để thành lập các KBT có hiệu quả thì phải chú ý đến những quan điểm về kích thước, hình dạng, số lượng loài, những loài đặc trưng, quý hiếm và mối liên hệ giữa các KBT. Trong thực tế, rất nhiều KBT ra đời hoàn toàn phụ thuộc vào sự sẵn có từ tự nhiên như đất đai, sinh vật.
Theo Morris: “Không có cách quản lý KBT nào luôn đúng hoặc sai. Việc áp dụng bất cứ một phương pháp quản lý nào cũng phải dựa vào các đối tượng quản lý ở một địa điểm cụ thể. Chỉ khi đã xác định được các đối tượng quản lý thì các kết quả nghiên cứu khoa học mới được áp dụng” [47]. Có thể phân chia thành các hình thức sau: 9 - Bảo tồn tại chỗ (in-situ conservation): Bảo tồn tại chỗ bao gồm các phương pháp và công cụ nhằm mục đích bảo vệ các loài, các chủng và các sinh cảnh, các HST trong điều kiện tự nhiên.
Tùy theo đối tượng bảo tồn mà các hành động quản lý thay đổi. Thông thường bảo tồn tại chỗ được thực hiện bằng cách thành lập các khu bảo tồn và áp dụng các biện pháp quản lý phù hợp [3] - Bảo tồn chuyển chỗ (ex-situ conservation): Bảo tồn chuyển chỗ bao gồm các biện pháp di dời các loài cây, con và các sinh vật ra khỏi môi trường sống tự nhiên của chúng [3]. Mục đích của việc di dời này là để nhân giống, lưu giữ, nhân nuôi vô tính hay cứu hộ trong trường hợp: (1) nơi sống bị suy thoái hay hủy hoại không thể lưu giữ lâu hơn các loài nói trên, (2) dùng để làm vật liệu cho nghiên cứu, thực nghiệm và phát triển sản phẩm mới, để nâng cao kiến thức cho cộng đồng. Bảo tồn chuyển chỗ bao gồm các vườn thực vật, vườn động vật, các ngân hàng giống… - Phục hồi (Rehabilitation): Bao gồm các biện pháp để dẫn đến bảo tồn tại chỗ hay bảo tồn chuyển chỗ.
Các biện pháp này được sử dụng để phục hồi lại các loài, các quần xã, sinh cảnh, các quá trình sinh thái. Việc hồi phục sinh thái bao gồm một số công việc như phục hồi lại các HST tại những vùng đất đã bị suy thoái bằng cách nuôi trồng lại các loài bản địa chính, tạo lại các quá trình sinh thái, tạo lại vòng tuần hoàn vật chất, chế độ thủy văn, tuy nhiên không phải là để sử dụng cho công việc vui chơi, giải trí hay phải phục hồi đủ các thành phần động thực vật như trước đã từng có [47]. Có thể thấy rằng việc hình thành các KBT thường thiên hướng vào tiếp cận kỹ thuật, chú ý đến bảo tồn đơn thuần, đa phần dựa trên quan điểm kỹ thuật, sinh học, sinh thái và khả năng quản lý đối với từng đối tượng. Mối quan hệ giữa bảo tồn TNR với phát triển sinh kế của con người chưa được nghiên cứu hoặc ít được đề cập đến để có những giải pháp bảo tồn ĐDSH một cách bền vững.
Tiếp cận sinh kế bền vững (sustainable livelihood approach) Sinh kế bền vững được định nghĩa là khả năng, nguồn lực (vốn, tài nguyên và quyền tiếp cận) và các hoạt động đảm bảo cuộc sống. Sinh kế được gọi là bền 10 vững khi nó có khả năng thích nghi và phục hồi với những sự thay đổi lớn về môi trường và xã hội, cũng như duy trì và tăng cường các nguồn lực, cung cấp các cơ hội về sinh kế bền vững cho thế hệ mai sau và tạo ra các lợi ích ngắn hạn và dài hạn ở cấp địa phương, quốc gia và quốc tế [3]. Tiếp cận sinh kế bền vững do DFID giới thiệu từ đầu những năm 1990, cốt lõi của tiếp cận này là việc xem xét 5 nguồn lực của cộng đồng địa phương bao gồm Nhân lực, Nguồn lực tự nhiên, Nguồn lực tài chính, Nguồn lực vật chất và Nguồn lực xã hội trong một bối cảnh địa phương và khung thể chế chính sách bao trùm.