đặt vấn đề định nghĩa “lối sống” khi bàn về nội hàm và cơ cấu của phạm trù này họ đã hướng tới ba cách tiếp cận, có thể tạm gọi là ba nhóm định nghĩa như sau: Nhóm thứ nhất định nghĩa lối sống bằng cách liệt kê càng nhiều càng tốt cả mọi hoàn cảnh có liên quan đến cuộc sống của con người và của toàn xã hội. Do đó lối sống được kiến giải như một phạm trù xã hội học bao hàm cả các điều kiện song, các hình thức hoạt động sống của con người, các quan hệ xã hội, sinh hoạt, các hình thức thoả mãn nhu cầu, thế giới quan. Cách định nghĩa này bị nhiều ý kiến phê phán vì sự mở quá rộng khái niệm lối sống, làm cho lối sống mắt nội hàm riêng và đặc trưng của nó. Nhóm thứ hai có hai xu hướng định nghĩa: Một, cho răng lối sống là phạm trù nói lên các nhu cầu của con người, những cách thức thoả mãn những nhu cầu đó, nói lên khuynh hướng muốn giải thích lối sống như là một khái niệm chung nhất, một cái gì ngang hàng với “vật chất xã hội” thay thế cho tất cả những khái niệm khác.
Việc khắc phục các khuynh hướng sai lầm này đòi hỏi phải xác định một cách chính xác hơn vị trí của khái niệm “lối sống” trong hệ thống những khái nệm triết học và phạm trù xã hội hoc. Xu hướng khác, cho rằng lối sống là phạm trù chỉ nếp nghĩ và nếp hành vi, nếp sống nội tâm của con người.Buchen-cô, cả hai xu hướng định nghĩa trên không dựa vào những hoàn cảnh bên ngoài mà dựa vào các điều kiện bên trong, vốn có của chủ thể (nhu cầu, nếp nghĩ). Như vậy, người ta sẽ loại trừ hình thức hoạt động sống quan trọng nhất của con người là lao động ra khỏi lôi sông và cả hoạt động chính trị - xã hội cũng năm ngoài lôi sông. vấn đề lối sống trong những chiến dịch tuyên truyền tư sản hiện nay.
Trong “Proolemy, Socialisti — Cheskoi obrazzhizni” M.251 (dan theo suu tap chuyén dé 161 song XHCN - Viện Thôngtin XHKH Việt Nam 1978. 14 Nhóm thứ ba: gồm các định nghĩa không loại trừ bản thân hoạt động sống ra khỏi lối sống, nên đã kiến giải lối sống như là sự thống nhất các hình thức hoạt động sống và nhiều điều kiện sống quan trọng nhất. Như vậy, lối sống là phạm trù xã hội học, chỉ sự thống nhất hữu cơ của các hình thức hoạt động sống và những điều kiện nhất định. Định nghĩa của viện sĩ thông tấn Viện hàn lâm khoa học Liên Xô cũ, nhà xã hội học, tiến sĩ triết học M.
Rút-ke-vích nêu lên: “Lối sống là một tổng thể, một hệ thống những đặc điểm chủ yếu nói lên hoạt động của các dân tộc, các giai cấp, các nhóm xã hội, các cá nhân trong những điều kiện của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định '). Khi nghiên cứu sự biến đổi trên phạm vi toàn cầu hiện nay, Feter Schmitz (Đức) khẳng định rằng “Nhưng nếu không có những kết luận rút ra trong lối sống riêng tư của từng người thì sẽ chẳng có gì đôi thay ca” Lối sống là nhân tô quan trọng, quyết định tới mức có thê nói răng, nếu bỏ qua hoặc xem nhẹ nó, việc nghiên cứu, đào tạo và giáo dục con người nói chung, sinh viên nói riêng sẽ rơi vào tình trạng tản mạn, ít có ý nghĩa. W, Schorochova “Lối sống là toàn bộ những hình thưứ hoạt động sinh sống tiêu biểu xuất hiện trong những quan hệ kinh tế - xã hội nhất định của các dân tộc, giai cấp, các nhóm xã hội, cá nhân trong sản xuất vật chất và tinh thần, trong phạm vi xã hội — chính tri va riéng tu '® Nghiên cứu xã hội học về lối sống ở Liên Xô, ủy ban khoa học xã hội, Viện xã hội học 1983 9 Tự duy toàn cầu — hành động tại địa phương. Trong hỗ trợ trẻ em nghèo khổ; 1/1994, Duisburg.
15 thường ngày trong những mối qua hệ qua lại của mọi người và trong đời sống cá nhân” #! V. Đô-bơ-ri-a-nếp quan niệm “lối sống là sinh hoạt cá nhân, chủ quan hoá của hệ thông những quan hệ xã hội, của toàn bộ tông thê những điêu kiện sông, thê hiện trong hoạt động của con người”.“® Dựa vào mối quan hê tương tác g1ữa các điều kiện và các mặt của thực tiễn sinh sống cá nhân, H.Schmidt đưa ra một sơ đồ phân tích được trình bày cụ thể ở bảng 1.09 Pham vi quan hé Xác định đặc điểm nội dung Cơ thê của bản thân Cách thức ăn uống Cách thức vận động Sự chăm sóc cơ thê và văn hoá thê chât Sản xuất Phương thức lao động Phương thức nâng cao trình độ Nội trợ Van hoa mua sam Su dung ngan sach Gia dinh Phong cách giáo dục Giao tiếp tình cảm Thời gian nhàn rỗi Giao tiếp xã hội và bạn bè Các sinh hoạt văn hoá Các hoạt động theo sở thích Tổ chức kỳ nghỉ Bảng I: Những ví dụ về các khía cạnh phân hoá của lỗi sống dÐ Trong: Tâm lý học trong chủ nghĩa xã hội. NXB khoa học Đức, Berlin 1980, tr.24 2 Xã hội học Mác-Lê-nin, NXB thông tin lý luận, Hà Nội 1985, tr.213 3 Phác thảo về tâm lý học nhân cách. NXB khoa học Đức, Berlin 1982, tr.52 (Theo bài viết của Lê Đức Phúc cho đề tài) 16 Chịu ảnh hưởng của những mối quan hệ với xã hội, lao động, những người khác, với bản thân và môi trường tự nhiên, lỗi sống do đó cũng có thể được phân chia thành lối sống cá nhân, lỗi sống của nhóm hoặc cộng đồng, lối sống của các giai tầng khác nhau, có thể đo bằng hệ thống giá trị được hướng tới”.
Những lối sống đó còn phụ thuộc vào cái phổ quát và cái riêng biệt của những vùng không gian rộng lớn được đặc trưng cho các dân tộc phương Đông hoặc phương Tây, hoà quyện thêm với những đặc điểm tôn giáo, sắc tộc khiến cho các quá trình tìm hiểu, giải thích và tiếp biến văn hoá (trong bản thân lối sống) trở nên rất phức tạp. Theo một quan niệm chung, lối sống được đặc trưng bởi: - Toàn bộ các hình thức (phương thức) khách quan của hoạt động sinh sống của con người. - Những cách thức phản ánh, nhận thức các hình thức đó thông qua quan hệ của chủ thê đối với chúng. Trong cuộc sống thường ngày, lao động là một hoạt động và cũng là giá trị có ý nghĩa hơn cả.
Dựa trên những phân tích sâu sắc trong “Hệ tư tưởng Đức” của Marx và Engels, Lucien Seve di sâu phân định nhân cách, lối sống cá nhân gắn với nhu cầu, tính tích cực đựa vào kế hoạch thời gian thực tế, được chia thành 4 khu vực. L Hoạt động cụ thể bao gồm những hành động tạo năng lực, khả năng cho cá nhân: II. Hoạt động cụ thé bao gồm những hành động tạo sản phẩm; III. Hoạt động trừu tượng “ FB Pataki: Kollektiviinns es szocialista eletmod Budapest 1976.
17 bao gồm những hnh động tạo năng lực, khả năng cho cá nhân; IV. Hoạt động trừu tượng bao gồm những hành động tạo sản phẩm, nghĩa là tạo ra lao động xã hội một cách trực tiếp ?°). Đó là những ví dụ mang tinh giả thiết. Nhìn vào đó, ta có thé thấy kế hoạch thời gian của một người sinh viên chăng hạn sẽ được miêu tả trong hoạt động như sau: Hoạt động cụ thé t Hoat dong trim tuong Tao ra san pham ! ! ! II ' Iv cho xã hội ! '! Tao ra nang luc ! " {œ cho cá⁄ nhânba ! eC! & , ' o% ! 1 I : III Và tiếp theo, ta có thể vẽ hình tượng trưng cho hoạt động, cho sự sử dụng thời gian của một trẻ nhỏ còn đi học, của một công nhân hoặc của một viên chức đã về hưu.
Tuy nhiên, đây chỉ là một chỉ số đánh giá mà thôi. Lê Như Hoa sau khi đã phân tích nhiều khái niệm khác nhau về lối sống đã khái quát. “Lối sống là một khái niệm có tính đồng bộ và tổng hợp. Nó bao gồm các mối quan hệ kinh tế, xã hội, tư tưởng, tâm lý, Œ Marxisme et théorie de la personslité.
Editions sociales, Paris 1972. 18 đạo đức, văn hoá và các mỗi quan hệ khác của con người, đặc trưng sinh hoạt của họ trong những điều kiện của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định. Lối sống có liên quan tới các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội như kinh tế, chính trị, văn hoá và sinh hoạt của con người, của các tập đoàn, giai cấp và của xã hội. Vì vậy nó trở thành đối tượng nghiên cứu của (16) nhiéu nganh khoa hoc khac nhau Theo chúng tôi: LSSV là một tổng thể, một hệ thống những đặc điểm chủ yếu phản ánh những điều kiện sống, hoạt động và các mối quan hệ hiện thực của họ; những đặc điểm này được biểu hiện trong định hướng giá trị, trong các hoạt động, trong giao tiếp ứng xử xã hội và trong sinh hoạt cá nhân.
Như vậy nghiên cứu LSSV cần phải nghiên cứu những biểu hiện của nó trong sự định hướng giá trị, trong các hoạt động học tập, lao động, văn hoá thể thao, chính trị - xã hội, trong các quan hệ giao tiếp xã hội và trong đời sống cá nhân. Chúng tôi xác định nghiên cứu lối sống SV cần tiếp cận theo quan điểm phức hợp, ít nhất ở cả 3 góc độ: Xã hội học - tâm lý học - giáo dục học. Nghĩa là cần trắc đạc, thống kê, khái quát được những đặc điểm LSSV, phân tích sâu hơn về tính đặc thù tâm lý sinh viên trong lối sống và đề xuất những phương pháp, biện pháp giáo dục LSSV. Khái niém nép séng Đó là thuật ngữ được dùng thông dụng ở Việt Nam theo thói quen của ngôn ngữ Việt Nam ngay cả trên sách báo cũng °® Bàn về lối sống, nếp sống XHCN, NXEB văn hoá, tháng 4/1985, tr.
L7 © Theo Pham Hông Tín: “những biêu hiện của LSSV,.” tiêu luận tôt nghiệp cao hoc - 1993. 19 đều dùng hai thuật ngữ: Lối sống và nếp sống; nó không hoàn toàn là một nhưng cũng không thé nói lên 2 phạm trù khác nhau. Có thể nói lối sống và nếp sống là hai thuật ngữ mới trong tiếng Việt, sách cổ, sách chữ Hán, chữ Nôm, hiếm thấy xuất hiện. Trong thời kỳ cận đại và hiện đại, nhất là sau cách mạng tháng 8 đã bắt đầu hình thành khái niệm về cách thức, lề lối, nề nếp của con người trong cuộc sống.
các khái niệm này có thể mượn địch, hoặc phỏng theo từ nước ngoài.