Tổng quan nghiên cứu

Theo báo cáo của Ủy ban Khoa học về Tác dụng của Bức xạ Nguyên tử Liên Hợp Quốc (UNSCEAR), liều hiệu dụng trung bình toàn cầu mà mỗi người dân tiếp nhận từ phông phóng xạ tự nhiên đạt mức 2,4 mSv/năm, trong đó chiếu ngoài từ đất đá đóng góp 0,5 mSv/năm và chiếu trong do hít thở khí Radon chiếm tới 1,2 mSv/năm. Tại Việt Nam, quá trình đô thị hóa nhanh chóng tại các vùng sáp nhập mở rộng đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc kiểm soát an toàn bức xạ môi trường sống. Đề tài "Nghiên cứu xác định liều chiếu dân chúng do phóng xạ tự nhiên ở khu vực Hà Nội (phần Hà Nội mở rộng)" do học viên Dương Đức Thắng thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Trịnh Văn Giáp tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội tập trung giải quyết bài toán định lượng và đánh giá phông phóng xạ môi trường.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là xây dựng, chuẩn hóa quy trình đo phổ gamma hiện trường sử dụng detector nhấp nháy NaI(Tl) kích thước 3"x3" để xác định hoạt độ các nhân phóng xạ tự nhiên (K-40, U-238, Th-232) trong đất và suất liều gamma ở độ cao 1 mét so với mặt đất. Phạm vi khảo sát được triển khai trên toàn bộ địa bàn Hà Nội mở rộng (bao gồm tỉnh Hà Tây cũ và huyện Mê Linh của tỉnh Vĩnh Phúc) với 42 vị trí đo đạc đại diện. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình thể hiện ở việc rút ngắn thời gian phân tích từ 40 ngày lưu mẫu phòng thí nghiệm xuống còn 30 phút đo trực tiếp ngoài hiện trường, với hệ số tương quan đạt trên 85% so với phương pháp chuẩn phổ kế HPGe, hỗ trợ đắc lực cho công tác xây dựng bản đồ số phông phóng xạ môi trường tỷ lệ 1:100.000.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên lý thuyết phân rã và cân bằng phóng xạ tự nhiên của ba họ phóng xạ nguyên thủy gồm họ Urani (U-238 với chu kỳ bán rã 4,5 tỷ năm), họ Thori (Th-232 với chu kỳ bán rã 14 tỷ năm) và đồng vị phóng xạ đơn lẻ Kali (K-40 chiếm tỷ lệ ổn định 0,01% trong kali tự nhiên). Hiện tượng mất cân bằng phóng xạ thế kỷ xảy ra khi các sản phẩm phân rã trung gian như Ra-226 hoặc khí hiếm Rn-222 bị khuếch tán ra môi trường không khí.

Bên cạnh đó, mô hình tương tác của bức xạ gamma với vật chất đóng vai trò nền tảng để ghi nhận phổ bức xạ. Chùm tia gamma khi truyền qua môi trường bị suy giảm theo định luật hàm số mũ với ba cơ chế tương tác chủ đạo: Hiệu ứng quang điện (chiếm ưu thế ở vùng năng lượng thấp dưới 0,5 MeV), Tán xạ Compton (chiếm ưu thế ở dải năng lượng trung bình 0,5 đến 5,0 MeV) và Hiệu ứng tạo cặp electron-positron (xuất hiện khi năng lượng photon vượt ngưỡng 1,022 MeV).

Các đại lượng đo liều bức xạ được chuẩn hóa theo Ủy ban Quốc tế về Đo lường và Đơn vị Bức xạ (ICRU) và Ủy ban Quốc tế về Bảo vệ Phóng xạ (ICRP), bao gồm: Suất liều hấp thụ D (đơn vị Gray hoặc nGy/h), Liều tương đương H (tích hợp trọng số bức xạ WR) và Liều hiệu dụng E (tích hợp trọng số mô WT cho từng cơ quan nhạy cảm). Mô hình tính toán suất liều hấp thụ gamma trong không khí ở độ cao 1 m từ hoạt độ phóng xạ trong đất tuân theo công thức chuẩn của ICRU 1994 và UNSCEAR 2000:

$$D = 0,0417 A_K + 0,462 A_U + 0,604 A_{Th}$$

Trong đó D tính bằng nGy/h; A_K, A_U, A_Th lần lượt là hoạt độ riêng của K-40, U-238, Th-232 tính theo Bq/kg.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thực nghiệm được thu thập từ 42 vị trí đo đạc trên toàn bộ địa bàn các huyện thuộc Hà Nội mở rộng. Phương pháp chọn mẫu tuân thủ nghiêm ngặt quy chuẩn IAEA: vị trí đo là bãi đất trống, bằng phẳng, bán kính tối thiểu 10 m không có vật cản che chắn hoặc công trình xây dựng, cấu trúc đất ổn định và thực hiện sau mưa ít nhất 24 giờ nhằm loại trừ ảnh hưởng của sol khí lắng đọng từ Radon.

Quy trình phân tích hiện trường sử dụng hệ phổ kế gamma xách tay gồm đầu dò NaI(Tl) kích thước 3"x3" (độ phân giải năng lượng 8% tại đỉnh 662 keV của Cs-137) đặt trên giá đỡ ba chân cách mặt đất 1 m, kết nối bộ phân tích đa kênh DART của ORTEC và phần mềm MAESTRO-32 với thời gian tích lũy phổ 1800 giây (30 phút). Dữ liệu phổ được xử lý song song bằng hai phương pháp:

  • Phương pháp hàm chuyển đổi phổ - liều G(E) của Viện Nghiên cứu Năng lượng Nguyên tử Nhật Bản (JAERI) sử dụng đa thức bậc 16 để tính trực tiếp suất liều từ dải năng lượng 30 keV đến 3000 keV.
  • Phương pháp diện tích đỉnh của Phòng Thí nghiệm Đo lường Môi trường Hoa Kỳ (EML) trích xuất diện tích quang đỉnh thực sau khi trừ phông tại các mức năng lượng 1460 keV (K-40), 1764 keV (Bi-214 đại diện cho họ U-238) và 2614 keV (Tl-208 đại diện cho họ Th-232).

Để đối chứng và đánh giá sai số, mẫu đất tầng mặt (độ sâu 0 - 10 cm) tại 42 điểm tương ứng được thu gom, sấy khô ở 105°C, rây qua lưới 1 mm, đóng hộp kín và lưu trữ 40 ngày nhằm đạt cân bằng thế kỷ giữa Ra-226 và các đồng vị con cháu. Hoạt độ phóng xạ mẫu đất được phân tích trong phòng thí nghiệm trên hệ phổ kế bán dẫn HPGe phông thấp của ORTEC với độ phân giải siêu cao 2,0 keV tại đỉnh 1332 keV của Co-60 và hiệu suất ghi tương đối 35%.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, kết quả khảo sát hoạt độ phóng xạ tự nhiên tại 42 điểm trên địa bàn Hà Nội mở rộng cho thấy K-40 là đồng vị chiếm ưu thế tuyệt đối về hoạt độ. Phép đo hiện trường bằng phương pháp diện tích đỉnh ghi nhận hoạt độ K-40 dao động từ 119,31 đến 791,60 Bq/kg (trung bình 458,09 Bq/kg), bám sát kết quả phân tích phòng thí nghiệm HPGe với khoảng giá trị 103,04 đến 870,67 Bq/kg (trung bình 450,05 Bq/kg), độ lệch trung bình giữa hai phương pháp chỉ đạt 1,78%.

Thứ hai, hoạt độ trung bình của họ Th-232 và họ U-238 được xác định ở mức an toàn sinh thái. Đối với Th-232, phương pháp hiện trường đạt giá trị trung bình 44,60 Bq/kg (khoảng biến thiên 21,28 - 63,00 Bq/kg), trong khi phòng thí nghiệm đạt 50,73 Bq/kg (khoảng biến thiên 29,88 - 84,16 Bq/kg). Đối với U-238, phương pháp diện tích đỉnh cho giá trị trung bình 27,73 Bq/kg (khoảng biến thiên 17,52 - 45,69 Bq/kg), thấp hơn khoảng 18,7% so với phân tích phòng thí nghiệm là 34,12 Bq/kg (khoảng biến thiên 18,13 - 65,24 Bq/kg).

Thứ ba, tại điểm đo điển hình thị trấn Tây Đằng (huyện Ba Vì), suất liều bức xạ gamma hấp thụ tính theo phương pháp hàm G(E) đạt 71,82 nGy/h. Khi bóc tách theo phương pháp diện tích đỉnh, tổng suất liều đạt 53,63 nGy/h, trong đó Th-232 đóng góp lớn nhất với 23,67 nGy/h (chiếm 44,13%), U-238 đóng góp 18,13 nGy/h (chiếm 33,81%) và K-40 đóng góp 11,83 nGy/h (chiếm 22,06%).

Thảo luận kết quả

Sự sai lệch giữa phương pháp đo phổ hiện trường và phân tích mẫu đất trong phòng thí nghiệm bắt nguồn từ bản chất địa hóa môi trường. Đối với họ U-238, sự chênh lệch 18,7% là do hiện tượng thoát khí hiếm Rn-222 từ mặt đất vào khí quyển tự do ngoài thực địa, làm suy giảm nồng độ các hạt nhân phát gamma con cháu như Bi-214 và Pb-214. Ngược lại, mẫu đất phân tích trong phòng thí nghiệm được niêm phong kín 40 ngày, tạo điều kiện tái thiết lập cân bằng phóng xạ hoàn toàn.

So sánh với các nghiên cứu quy mô quốc gia của các nhà khoa học Việt Nam, mức hoạt độ trung bình tại Hà Nội mở rộng (K-40: 450,05 Bq/kg, U-238: 34,12 Bq/kg, Th-232: 50,73 Bq/kg) hoàn toàn tương đồng với phông phóng xạ chung của lãnh thổ Việt Nam (trung bình K-40 là 411,93 Bq/kg, Ra-226 là 42,77 Bq/kg, Th-232 là 59,84 Bq/kg). Suất liều gamma hấp thụ trung bình dao động từ 50 đến 80 nGy/h, thấp hơn nhiều so với các vùng dị thường phóng xạ tại Tuyên Quang hoặc các dải cát đen monazite ven biển miền Trung.

Dữ liệu thực nghiệm được tổng hợp và biểu diễn trực quan qua đồ thị hồi quy tuyến tính với hệ số xác định R² đạt trên 0,85 cho cả ba đồng vị, đồng thời được số hóa thành bản đồ phân bố suất liều bức xạ môi trường tỷ lệ 1:100.000, cung cấp cái nhìn toàn diện về đặc trưng phông bức xạ theo tọa độ địa lý.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Triển khai ứng dụng phổ kế gamma NaI(Tl) trong quan trắc định kỳ: Trung tâm Quan trắc Phóng xạ và Đánh giá Tác động Môi trường (Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam) cần đưa hệ thiết bị NaI(Tl) 3"x3" vào mạng lưới giám sát bán niên với mục tiêu đo đạc 50 đến 100 điểm trọng điểm mỗi năm, giúp cắt giảm 70% chi phí hóa chất và nhân lực so với phương pháp lưu mẫu truyền thống.
  2. Số hóa cơ sở dữ liệu phông bức xạ trên nền tảng GIS: Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Hà Nội cần phối hợp với Viện Khoa học và Kỹ thuật Hạt nhân hoàn thiện bản đồ phông phóng xạ số hóa tỷ lệ 1:100.000 trong giai đoạn 2024-2026, thiết lập ngưỡng cảnh báo tự động khi suất liều hấp thụ vượt quá 100 nGy/h.
  3. Ban hành quy trình chuẩn quốc gia về ứng phó sự cố bức xạ khẩn cấp: Cục An toàn Bức xạ và Hạt nhân cần chuẩn hóa thuật toán hàm G(E) và phương pháp diện tích đỉnh thành tiêu chuẩn kỹ thuật phục vụ các đội cơ động, đảm bảo thời gian phản ứng và đánh giá hiện trường trong vòng 24 giờ kể từ khi phát sinh sự cố bức xạ.
  4. Giám sát hàm lượng phóng xạ tự nhiên trong vật liệu xây dựng: Sở Xây dựng Hà Nội cần tiến hành kiểm định định kỳ chỉ số an toàn bức xạ (Ra-226, Th-232, K-40) đối với các mỏ khai thác đá, cát và nhà máy gạch tại khu vực Ba Vì, Chương Mỹ trước năm 2025, đảm bảo liều hiệu dụng chiếu trong đối với dân chúng không vượt quá giới hạn 1,0 mSv/năm theo khuyến cáo của ICRP.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý an toàn bức xạ và môi trường: Cục An toàn Bức xạ và Hạt nhân, các Sở Tài nguyên và Môi trường sử dụng dữ liệu 42 điểm đo để hoạch định chính sách phân vùng an toàn và xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật địa phương.
  • Các nhà khoa học, chuyên gia vật lý hạt nhân: Nghiên cứu viên thuộc các viện nghiên cứu ứng dụng phương pháp hàm G(E) và thuật toán chuẩn hóa hiệu suất góc cho detector NaI(Tl) trong các đề tài bức xạ môi trường.
  • Doanh nghiệp khai khoáng và sản xuất vật liệu xây dựng: Các đơn vị khai thác đá, sản xuất xi măng và gạch ngói tham khảo quy trình đo nhanh để tầm soát nguyên liệu thô, đảm bảo chỉ số an toàn bức xạ cho sản phẩm thương mại.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành: Giảng viên và sinh viên ngành Vật lý nguyên tử, Kỹ thuật hạt nhân và Khoa học môi trường sử dụng tài liệu làm giáo trình tham khảo chuyên sâu về kỹ thuật đo phổ hạt nhân thực nghiệm.

Câu hỏi thường gặp

1. Phương pháp đo phổ gamma hiện trường bằng detector NaI(Tl) có ưu điểm gì vượt trội?
Phương pháp NaI(Tl) hiện trường cho phép xác định trực tiếp hoạt độ phóng xạ và suất liều chỉ sau 30 phút đo tại chỗ, bao quát thể tích đất rộng lớn (bán kính 10 m), loại bỏ hoàn toàn thời gian 40 ngày xử lý và ủ mẫu trong phòng thí nghiệm mà vẫn duy trì sai số kỹ thuật dưới 15%.

2. Tại sao có sự chênh lệch hoạt độ U-238 giữa đo hiện trường (27,73 Bq/kg) và phòng thí nghiệm (34,12 Bq/kg)?
Sự chênh lệch khoảng 18,7% xuất phát từ sự thất thoát tự nhiên của khí trơ Radon-222 ra ngoài khí quyển tại hiện trường, làm đứt gãy cân bằng chuỗi phân rã. Trong phòng thí nghiệm, mẫu đất được niêm phong kín 40 ngày giúp chuỗi U-238 tái lập cân bằng thế kỷ hoàn toàn trước khi đo phổ HPGe.

3. Mức bức xạ tự nhiên đo được tại khu vực Hà Nội mở rộng có gây nguy hại cho sức khỏe không?
Suất liều gamma hấp thụ trung bình tại khu vực Hà Nội mở rộng dao động từ 50 đến 80 nGy/h, tương ứng với mức liều hiệu dụng chiếu ngoài dưới 0,5 mSv/năm. Mức này nằm hoàn toàn trong ngưỡng nền an toàn sinh thái theo tiêu chuẩn của UNSCEAR và thấp hơn nhiều so với giới hạn an toàn 1,0 mSv/năm của ICRP.

4. Nguyên lý hoạt động cơ bản của phương pháp hàm chuyển đổi phổ - liều G(E) là gì?
Phương pháp hàm G(E) sử dụng một hàm đa thức 16 bậc đặc trưng cho kích thước tinh thể NaI(Tl) 3"x3" để nhân trực tiếp với số đếm xung trên từng kênh năng lượng từ 30 keV đến 3000 keV, cho phép tính toán trực tiếp suất liều hấp thụ nGy/h mà không cần bóc tách từng đỉnh phổ riêng biệt.

5. Cần tuân thủ những điều kiện môi trường nào khi thực hiện phép đo phổ gamma hiện trường?
Vị trí đo đạc phải bằng phẳng trong bán kính tối thiểu 10 m, detector treo cách mặt đất 1 m, đất không bị xới xáo nhân tạo và tuyệt đối phải thực hiện sau khi dứt mưa ít nhất 24 giờ nhằm loại trừ ảnh hưởng của các sản phẩm phân rã Radon bị nước mưa cuốn trôi bám trên mặt đất.

Kết luận

  • Luận văn đã chuẩn hóa thành công quy trình ứng dụng detector nhấp nháy NaI(Tl) kích thước 3"x3" thông qua hai phương pháp xử lý phổ hiện trường hiện đại là hàm G(E) và diện tích đỉnh.
  • Xác định chi tiết hoạt độ phóng xạ tự nhiên trung bình tại 42 điểm thuộc Hà Nội mở rộng với K-40 đạt 458,09 Bq/kg, U-238 đạt 27,73 Bq/kg và Th-232 đạt 44,60 Bq/kg.
  • Chứng minh độ tương quan cao và tính chuẩn xác của phép đo nhanh hiện trường so với hệ phổ kế bán dẫn HPGe trong phòng thí nghiệm với hệ số tương quan đạt trên 85%.
  • Khẳng định môi trường phóng xạ tự nhiên tại khu vực Hà Nội mở rộng nằm trong giới hạn an toàn bức xạ theo tiêu chuẩn quốc tế UNSCEAR và IAEA.
  • Đặt nền móng vững chắc cho việc mở rộng mạng lưới trạm quan trắc tự động và tích hợp hệ thống bản đồ số GIS phóng xạ môi trường trong giai đoạn 2024-2026.

Công trình là tài liệu khoa học giá trị cao dành cho các cơ quan nghiên cứu và quản lý môi trường; bạn đọc quan tâm có thể tiếp tục tra cứu và ứng dụng dữ liệu thực nghiệm để nâng cao hiệu quả giám sát an toàn bức xạ dân chúng.