ĐẶT VẤN ĐỀ Do Việt Nam nằm gần khu vực “Tam giác Vàng”, đường biên giới dài và địa hình 3/4 là đồi núi gây khó khăn cho công tác phòng chống ma túy nên tình hình tội phạm ma túy vẫn luôn diễn biến rất phức tạp. Khi các hoạt động của lực lượng chức năng ở khu vực Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan tích cực đấu tranh thì các đối tượng tăng cường hoạt động sản xuất, mua bán, vận chuyển từ các nước vào khu vực giáp biên giới Việt Nam như Lào, sau đó "tuồn" vào Việt Nam để vận chuyển đi nước thứ ba tiêu thụ [8]. Theo báo cáo của Cơ quan phòng chống Ma túy và Tội phạm Liên hợp quốc (UNODC) số lượng thuốc ma túy bị bắt giữ ở Việt Nam tăng mạnh trong giai đoạn năm 2018 đến 2020, sau năm 2020 do tình hình Covid-19 diễn ra phức tạp nên số lượng ma túy giảm đến năm 2022 [33]. Đầu năm 2024, toàn quốc có 229.265 người sử dụng trái phép chất ma túy, người nghiện ma túy và người bị quản lý sau cai nghiện ma túy, trong đó có 43.748 người sử dụng trái phép chất ma túy; 170.521 người nghiện ma túy trong đó có hơn 71.000 người đang ở ngoài xã hội chiếm 42% [6].
Để xây dựng được các chính sách y tế công cộng nhằm bảo vệ người dân khỏi tình trạng lạm dụng ma túy điều quan trọng là phải thống kê được kịp thời và chính xác về tỷ lệ sử dụng các loại thuốc trên trong cộng đồng [12]. Trong những thập kỷ gần đây, phương pháp dịch tễ học nước thải (Wastewater-Based Epidemiology) đã và đang được nghiên cứu và áp dụng rộng rãi trên thế giới nhằm cung cấp thông tin về việc tiêu thụ hoặc phơi nhiễm với các hóa chất bao gồm thuốc, sản phẩm chăm sóc sức khỏe, ma túy, rượu và thuốc lá. Nguyên lý cơ bản của phương pháp WBE là ước tính lượng tiêu thụ của các chất gây nghiện trong cộng đồng dựa vào nồng độ các chất chuyển hoá của chúng trong nước thải, hệ số thải trừ, lưu lượng xả thải và dân số của khu vực khảo sát [35]. Để xác định dư lượng các chất gây nghiện trong nước thải, điều cần thiết cần có một phương pháp có độ chính xác và độ nhạy cao.
Hướng nghiên cứu về WBE là một hướng nghiên cứu mới ở Việt Nam đã được triển khai gần đây. Đến nay, có một nghiên cứu ước tính lượng tiêu thụ một số chất gây nghiện tại Hồ Chí Minh thực hiện trên cỡ mẫu nhỏ và đánh giá hiệu quả của nhà máy xử lý nước thải [31] và nghiên cứu Xiu Liu và cộng sự (2021) thực hiện việc lấy mẫu tại Hà Nội để phân tích dư lượng và so sánh 2 phương pháp lấy mẫu [25]. Gần đây là nghiên cứu của Trần Thị Thanh Huế và cộng sự (2022) đã sử dụng phương pháp WBE để ước tính tỷ lệ tiêu thụ trái phép chất ma túy tại Hà Nội từ giữa năm 2018 đến 2020 [20]. Tuy nhiên tại Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng, việc đánh giá dư lượng ma túy sử dụng có sự khác biệt giữa các mùa trong năm do có sự thay đổi về yếu tố môi trường (nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng) mà các nghiên cứu trước đây chưa đánh giá được sự khác biệt này.
1 Do đó, đề tài “Xác định nồng độ một số ma tuý nhóm opiat và chất chuyển hóa của nó trong nước thải bằng LC-MS/MS và bước đầu đánh giá dịch tễ học dựa trên phân tích nước thải’’ được thực hiện với các mục tiêu sau : 1. Xây dựng phương pháp định lượng các chất chuyển hóa chính: morphin, codein, benzoylecgonin trong nước thải bằng LC-MS/MS. Bước đầu ước tính mức độ sử dụng 1 số ma túy nhóm opiat (heroin và cocain) trong cộng đồng dân cư Hà Nội ở các mùa trong năm bằng phương pháp dịch tễ học nước thải (WBE). Tổng quan về ma túy 1.
Định nghĩa Theo Tổ chức Liên Hợp Quốc: Ma túy là “Các chất có nguồn gốc tự nhiên hay tổng hợp, khi xâm nhập vào cơ thể sẽ làm thay đổi trạng thái tâm sinh lý của người sử dụng”. Theo tổ chức y tế thế giới: Ma túy theo nghĩa rộng nhất là “Mọi thực thể hoá học hoặc là những thực thể hỗn hợp khác với tất cả những cái được đòi hỏi, để duy trì một sức khoẻ bình thường, việc sử dụng những cái đó sẽ làm biến đổi chức năng sinh học và có thể cả cấu trúc của vật” [4]. Theo Luật Phòng, chống ma tuý số 73/2021/QH14 của Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 30/3/2021, có hiệu lực từ ngày 01/01/2022, cũng đưa khái niệm về chất ma túy như sau: Chất ma tuý là các chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong danh mục chất ma túy do Chính phủ ban hành. Chất gây nghiện là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh, dễ gây tình trạng nghiện đối với người sử dụng.
Chất hướng thần là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác, nếu sử dụng nhiều lần có thể dẫn tới tình trạng nghiện đối với người sử dụng [7]. Phân loại ma túy Dựa trên nguồn gốc, tác dụng trên hệ thần kinh trung ương người ta đưa ra các cách phân loại ma tuý như sau: 1. Phân loại theo nguồn gốc Ma túy tự nhiên: Đây là các chất ma tuý có sẵn trong tự nhiên, là alcaloid của một số thực vật như cây thuốc phiện (anh túc), cây cần sa (cây gai dầu), cây coca (cocain)… Ma túy bán tổng hợp: Là các chất ma túy được tổng hợp một phần từ một số loại ma tuý có sẵn trong tự nhiên, có tác dụng mạnh hơn chất ma túy ban đầu. Ví dụ: morphin, heroin… Ma túy tổng hợp: Là nhóm các chất ma túy không có trong tự nhiên.
Ma túy tổng hợp được tổng hợp nên từ các loại hóa chất (các hóa chất này được gọi là tiền chất). Ví dụ: amphetamin (AMP), 3,4-methylenedioxy methamphetamin (MDMA), ecstasy, ma túy đá. Phân loại theo tác động lên thần kinh trung ương Nhóm gây ức chế hệ thần kinh trung ương: Nhóm này khi sử dụng gây ra trạng thái buồn ngủ, an thần, giảm nhịp tim, ức chế hô hấp. Nhóm này gồm thuốc phiện, nguồn gốc thuốc phiện (morphin, heroin, cocain.), các thuốc an thần gây ngủ (seduxen, phenobarbital).
3 Nhóm gây kích thích thần kinh trung ương: Nhóm này gồm AMP và các dẫn xuất, khi sử dụng gây tăng hoạt động, tăng sinh lực, tăng nhịp tim, tăng hô hấp. Nhóm gây ảo giác: Nhóm này gây thay đổi về nhận thức và môi trường xung quanh, nghe thấy những âm thanh không có thực. Bao gồm các loại như lysergic acid diethylamid (LSD), thuốc lắc, cần sa. Một số ma túy và chất chuyển hoá nghiên cứu 1.
Công thức hóa học HER có công thức phân tử là C21H23NO5, khối lượng phân tử là 369,4 g/mol. Danh pháp IUPAC của HER là [(4R,4aR,7S,7aR,12bS)-9-acetyloxy-3-methyl-2,4,4a,7,7a, 13-hexahydro-1H-4,12-methanobenzofuro[3,2-e]isoquinolin-7-yl] acetate [30]. Công thức cấu tạo của Heroin b. Tính chất vật lý HER có dạng bột kết tinh hoặc tinh thể màu trắng, không mùi, nhiệt độ sôi là 272 – 274 ºC, điểm nóng chảy 173oC, ít tan trong nước, tan tốt trong cloroform, alcohol, benzen.
Giá trị logP là 1,58. Giá trị pKa là 7,96 [30]. Cơ chế tác dụng Khi dùng đường uống/tiêm, HER bị chuyển hóa bước đầu bằng cách khử acetyl để tạo ra các chất chuyển hóa có hoạt tính 6-MAM và morphin, sau đó các chất này sẽ qua hàng rào máu não. Do đó dù theo đường dùng nào thì chất chuyển hoá cuối cùng của nó cũng là morphin.
Morphin là một chất chủ vận của thụ thể µ-opioid, morphin kích hoạt các con đường ức chế của hệ thần kinh trung ương cũng như ức chế các tế bào thần kinh cảm giác của hệ thần kinh ngoại vi, dẫn đến giảm tổng thể sự truyền dẫn cảm giác đau [30]. Chất gốc và quá trình chuyển hoá tạo morphin HER bị thủy phân nhanh chóng thành 6-MAM, sau đó, được thủy phân thành morphin. HER và 6-MAM hòa tan trong lipid hơn morphin và đi vào não dễ dàng hơn. HER được bài tiết chủ yếu qua nước tiểu dưới dạng morphin tự do và liên hợp [30].
Công thức hoá học Hình 1. Công thức cấu tạo của Cocain COC có công thức phân tử là C17H21NO4, khối lượng phân tử là 303,35 g/mol. Danh pháp IUPAC của Cocain là Methyl (1R,2R,3S,5S)-3-benzoyloxy-8-methyl-8- azabicyclo[3. Tính chất vật lý COC có dạng bột kết tinh không màu đến màu trắng hoặc dạng bột màu trắng, nhiệt độ sôi là 187 ºC ở 0,1 mmHg, nhiệt độ nóng chảy 98ºC, độ tan trong nước là 1800 mg/L (ở 22ºC), tan tốt trong cloroform, alcohol, ether, dầu.
Giá trị logP là 2,3. Giá trị pKa là 8,7 [26]. Cơ chế tác dụng COC gây tê bằng cách ức chế sự kích thích của các đầu dây thần kinh hoặc bằng cách ngăn chặn sự dẫn truyền ở các dây thần kinh ngoại vi. Điều này đạt được bằng cách liên kết thuận nghịch với các kênh natri và làm bất hoạt các kênh natri.
Dòng natri qua các kênh này cần thiết cho quá trình khử cực của màng tế bào thần kinh và sự lan truyền xung động sau đó dọc theo đường đi của dây thần kinh [26]. Chất gốc và quá trình chuyển hoá tạo benzoylecgonin Quá trình chuyển hóa COC diễn ra chủ yếu ở gan và có 3 con đường biến đổi sinh học. Con đường chính là thủy phân COC bởi các esterase tạo ra ecgonin methyl ester. Con đường thứ hai là quá trình thủy phân tạo ra BEN bằng cách khử methyl.
N-demethyl hóa COC là một con đường thứ ba dẫn đến norcocain. Do đó, các chất chuyển hóa của COC là BEN, ecgonin methyl ester và bản thân ecgonin là những chất không hoạt động và norcocain có hoạt tính [26]. Công thức hóa học COD có công thức phân tử là C18H21NO3, khối lượng phân tử là 299,4 g/mol. Danh pháp IUPAC của Codein là (4R,4aR,7S,7aR,12bS)-9-methoxy-3-methyl- 2,4,4a,7,7a,13-hexahydro-1H-4,12-methanobenzofuro[3,2-e]isoquinolin-7-ol [28].
Công thức cấu tạo của Codein b. Tính chất vật lý COD có dạng chất rắn hoặc bột kết tinh màu trắng không màu đến trắng, không mùi, vị đắng. Thăng hoa ở 140oC, nhiệt độ nóng chảy 154 đến 156oC (sau khi sấy ở 80oC). Dung dịch nước bão hòa pH=9,8.
Ít tan trong nước, tan trong ethanol, benzen, cloroform, toluen. Giá trị logP là 1,39 [28]. Cơ chế tác dụng Mặc dù cơ chế hoạt động chính xác của COD vẫn chưa được biết rõ, nhưng nhìn chung người ta cho rằng nó được điều hòa thông qua cơ chế chủ vận của các thụ thể opioid, đặc biệt là các thụ thể µ-opioid. Morphine được cho là góp phần vào tác dụng giảm đau của COD do quá trình O-demethyl hóa COD thành morphine bởi CYP2D6.