CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1. Một số vấn đề về lý thuyết lập luận 1. Khái niệm lập luận Giao tiếp là hoạt động rất quan trọng trong cuộc sống hàng ngày của con người. Giao tiếp là điều kiện tồn tại của mỗi cá nhân và xã hội.
Thông qua giao tiếp, con người gia nhập vào các mối quan hệ xã hội, lĩnh hội nền văn hóa xã hội, đạo đức, chuẩn mực xã hội, từ đó hình thành tư duy, xác lập và điều chỉnh hành vi, tình cảm, thái độ và các mối quan hệ xã hội cho phù hợp. Trong các công cụ giao tiếp, ngôn ngữ là công cụ giao tiếp quan trọng nhất của con người bởi vì có ngôn ngữ thì mới có tư duy, không có ngôn ngữ thì không có tư duy và ngược lại, không có tư duy thì ngôn ngữ không thể phát triển. Trong sử dụng ngôn ngữ, người ta luôn dùng lập luận để thể hiện vấn đề, dùng các lý lẽ để chứng minh vấn đề, hướng người đọc (người nghe) hiểu và đồng tình với vấn đề, tức là dẫn dắt, thuyết phục người đọc (người nghe) hiểu được vấn đề theo cách mình muốn. Có như vậy thì người sử dụng ngôn ngữ mới đạt được mục đích của mình.
Lập luận là cách nói, cách viết, là phương pháp thuyết phục người đọc (người nghe) thông qua việc sử dụng các lý lẽ. Do đó, cùng một nội dung, cùng hướng tới một mục đích nhưng với hai cách nói, hai cách viết, hai phương pháp trình bày khác nhau thì có thể dẫn đến hai kết quả khác nhau. Như vậy, “Lập luận là một hoạt động ngôn từ. Bằng công cụ ngôn ngữ, người nói đưa ra những lý lẽ nhằm dẫn dắt người nghe đến một hệ thống xác tín nào đó; rút ra một (một số) kết luận hay chấp nhận một (một số) kết luận nào đó” [17, tr.
Hay: “Lập luận là đưa ra những lý lẽ nhằm dẫn dắt người nghe đến một kết luận hay chấp nhận một kết luận nào đấy mà người nói muốn đạt tới” [12, tr. 9 Ví dụ 1: “Nói “Đảng của dân tộc” vì Đảng đặt lợi ích của giai cấp công nhân trong lợi ích chung của dân tộc. Từ ngày đất nước ta bị đế quốc Pháp xâm chiếm, trong mấy mươi năm chưa có Đảng, tình hình đen tối như chưa có đường ra. Từ ngày mới ra đời, Đảng ta đã giương cao ngọn cờ cách mạng đoàn kết và lãnh đạo toàn dân tiến lên đấu tranh giải phóng dân tộc, giai cấp.
Khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng, Đảng đoàn kết và lãnh đạo nhân dân ta thi đua, kiến thiết CNXH, xây dựng đời sống vui tươi, no ấm và mỹ tục thuần phong, thực hiện giải phóng con người, làm cho con người phát triển toàn diện” [tr. Tác giả đã đưa ra các lý lẽ: “Đảng đặt lợi ích của giai cấp công nhân trong lợi ích chung của dân tộc”, “Đảng giương cao ngọn cờ cách mạng đoàn kết và lãnh đạo toàn dân tiến lên đấu tranh giải phóng dân tộc, giai cấp”, “Đảng đoàn kết và lãnh đạo nhân dân ta thi đua, kiến thiết CNXH, xây dựng đời sống vui tươi, no ấm và mỹ tục thuần phong, thực hiện giải phóng con người, làm cho con người phát triển toàn diện” nhằm hướng đến cái đích của lập luận là Đảng ta là “Đảng của dân tộc”. Ví dụ 2: “Xã hội dân sự không thể tồn tại ngoài pháp luật. Bằng pháp luật, nhà nước có thể quyết định số lượng, hình thức của các tổ chức xã hội dân sự mà một xã hội cụ thể cần có, mức độ tự quản và những hoạt động, biện pháp của chính phủ để kiểm soát cũng như thúc đẩy sự phát triển của các tổ chức xã hội dân sự.
Bằng pháp luật, nhà nước tạo điều kiện và phát huy tính chủ động tự nguyện, tự quản của xã hội dân sự” [tr. Lập luận trên được diễn đạt theo phương pháp diễn dịch, đích của lập luận chính là: “Xã hội dân sự không thể tồn tại ngoài pháp luật”. Với cái đích 10 đó, tác giả đã dùng các lý lẽ để thuyết phục về vai trò của pháp luật đối với xã hội dân sự: bằng pháp luật, nhà nước có thể quyết định số lượng, hình thức của các tổ chức xã hội dân sự, mức độ tự quản và những hoạt động, biện pháp của chính phủ để kiểm soát cũng như thúc đẩy sự phát triển của các tổ chức xã hội dân sự; bằng pháp luật, nhà nước tạo điều kiện và phát huy tính chủ động tự nguyện, tự quản của xã hội dân sự. Ví dụ 3: “Nhận đồng lương là phải nhớ lương ấy, tiền ấy từ mồ hôi nước mắt của dân làm ra.
Dân nuôi ta. Nếu ta lười biếng, cẩu thả, vô trách nhiệm trong công việc có khác nào chúng ta lừa gạt dân chúng. Cho nên, phát huy dân chủ đòi hỏi mỗi người phải có đạo đức” [tr. Trong ví dụ trên, tác giả đã dùng phương pháp quy nạp để lập luận, thông qua việc sử dụng các lý lẽ về đạo đức (cán bộ nhận lương thì phải nhớ lương ấy là từ mồ hôi nước mắt của dân làm ra; nếu cán bộ lười biếng, cẩu thả, vô trách nhiệm trong công việc thì giống như đi lừa gạt dân chúng) để dẫn dắt người đọc đi đến kết luận “phát huy dân chủ đòi hỏi mỗi người phải có đạo đức”.
Để làm sáng tỏ hơn khái niệm lập luận, chúng ta cần có những sự phân biệt cần thiết sau: 1. Sự lập luận theo diễn từ chuẩn và sự lập luận trong ngôn ngữ Con người có thể dùng nhiều cách khác nhau để hành động bằng lời nói, tức hành vi ngôn ngữ. Trong hành vi ngôn ngữ, sự lập luận được xem như một hoạt động lập luận, hay là một hành vi ngôn ngữ. Hoạt động lập luận được phân biệt thành hai kiểu: lập luận theo diễn từ chuẩn và lập luận đời thường.
Theo nghĩa truyền thống, sơ đồ lập luận cơ sở tạo thành tế bào trong một văn bản lập luận và hai phát ngôn có quan hệ suy diễn logic. Đây là loại lập luận mà từ phát ngôn này sẽ suy ra phát ngôn khác một cách logic. Ở đây, 11 các sự kiện, các cứ liệu làm nên luận cứ của lập luận, hay nói cách khác, các sự kiện và cứ liệu có liên hệ với nhau theo những quy luật logic xác định. Vì vậy, dựa trên sự kiện và quy tắc suy diễn logic, một lập luận được thực hiện sẽ không có vấn đề gì phải tranh luận nữa.
Sự lập luận như thế được gọi là sự lập luận theo diễn từ chuẩn mực. Ví dụ 4: “Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là lãnh tụ vĩ đại của Đảng ta, dân tộc ta, mà còn là người thầy, người sáng lập nền báo chí cách mạng Việt Nam với mốc lịch sử là ngày 21/6/1925 tại Quảng Châu (Trung Quốc), Người đã xuất bản số đầu tờ báo Thanh niên, cơ quan của Hội Việt Nam Thanh niên cách mạng, để chuẩn bị về tư tưởng và tổ chức cho việc ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam 5 năm sau đó” [tr. Lập luận trên luôn luôn đúng, không có gì phải bàn cãi vì lịch sử đã chứng minh điều đó. Đây chính là lập luận theo diễn từ chuẩn mực.
Sự lập luận trong ngôn ngữ có khác: Trong hoạt động ngôn ngữ, có những biểu thức ngôn ngữ định hướng cho một kiểu lập luận nào đó, nghĩa là định hướng cho một lập luận nào đó. Ví dụ 5: (1) Diễn viên đóng vai người vợ ba trong phim “Vợ ba” mới 13 tuổi. (2) Diễn viên đóng vai người vợ ba trong phim “Vợ ba” đã 13 tuổi. (3) /Vì vậy/ cô bé chưa phù hợp với vai diễn.
(4) /Vì vậy/ cô bé phù hợp với vai diễn. Ở ví dụ trên, câu (1) và câu (2) chi khác nhau ở hai từ “mới” và “đã” nhưng nghĩa của chúng lại trái ngược nhau. Ngược lại, câu (2) kết hợp với câu (4) lại tạo ra một định hướng nghĩa dương (tích cực): (5a) Diễn viên đóng vai người vợ ba trong phim “Vợ ba” mới 13 tuổi. Vì vậy cô bé chưa phù hợp với vai diễn.
12 (5b) Diễn viên đóng vai người vợ ba trong phim “Vợ ba” đã 13 tuổi. Vì vậy cô bé phù hợp với vai diễn. Như vậy, qua ví dụ trên cho thấy, một phát ngôn ngoài nghĩa văn bản còn có tiềm năng ngữ nghĩa tạo ra chuỗi liên kết với các phát ngôn khác. Theo nghĩa này, sự lập luận là một hoạt động - một thao tác ngôn ngữ, qua đó người nói đưa ra một hay một số phát ngôn làm luận cứ mà cấu trúc ngôn ngữ và nội dung của chúng đưa người nghe tới những chuỗi liên kết dẫn tới một kết luận nào đó” [17, tr.
Phương pháp hình thức và phương pháp không hình thức trong lập luận Xét về phương pháp, có thể phân chia lập luận thành hai loại: Thứ nhất, những lập luận đi tới cách đánh giá về giá trị chân lý đúng sai của sự kiện. Thứ hai, những lập luận để tạo lập, làm thay đổi hay củng cố lòng tin và nhận thức của người nghe. Loại thứ nhất đòi hỏi phương pháp suy diễn hình thức, theo những khuôn mẫu suy luận chặt chẽ trong logic toán hay các khoa học chính xác. Ở đây, chân lý được khẳng định qua các tiền đề và các quy tắc suy diễn theo một ngôn ngữ hình thức, nhân tạo và phổ quát, hiểu theo nghĩa mọi nơi, mọi người dùng những ngôn ngữ tự nhiên khác nhau cùng lập luận như thế.
Theo nghĩa này, người ta nói tới một sự lập luận là chặt chẽ, chính xác hay không chặt chẽ, chính xác, tùy theo nó có xuất phát từ những tiền đề đúng hay không và sự suy diễn trong đó có hợp quy tắc hay không. Ở đây “sự lập luận” là những thao tác hình thức trong sự chứng minh. Tuy nhiên, chứng minh không đồng nhất với lập luận. Phương pháp ở loại lập luận thuyết phục được gọi là “logic không hình thức”.
Đây là sự lập luận theo những tri thức, lý lẽ, phong tục, tập quán, kinh nghiệm sống, nhân sinh quan … của một xã hội, một dân tộc hoặc một cộng đồng người mà hầu hết các thành viên trong đó đều tôn trọng và thực 13 hiện theo. Với loại thứ hai này, về phương pháp thì: Sự lập luận là thao tác mà người nói biểu hiện những lý lẽ tốt làm cho người nghe chấp nhận một kết luận nào đó hoặc đi tới một xác tín nào đó. Các thành phần của lập luận và vị trí của chúng Các thành phần của lập luận: Trong mỗi lập luận thường có 2 thành phần: luận cứ hay lý lẽ (p) và kết luận (r). Tuy nhiên, trong một lập luận có thể có nhiều luận cứ (lý lẽ).