Chương 1: Cơ sở lý luận về giới trong lãnh đạo trường phổ thông Chương 2: Thiết kế và tổ chức nghiên cứu Chương 3: Thực trạng ảnh hưởng của yếu tố giới đến phong cách và hiệu quả lãnh đạo trường phổ thông Chương 4: Giải pháp phát triển đội ngũ lãnh đạo trường phổ thông dựa trên đặc điểm về giới Kết luận và khuyến nghị Tài liệu tham khảo Phụ lục 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIỚI TRONG LÃNH ĐẠO TRƢỜNG PHỔ THÔNG 1. Tổng quan nghiên cứu 1. Những nghiên cứu về lãnh đạo trường phổ thông Lãnh đạo thường được định nghĩa là một mối quan hệ ảnh hưởng xã hội giữa các cá nhân giữa hai hoặc nhiều người phụ thuộc vào nhau để đạt được những mục tiêu chung nhất định trong một tình huống nhóm (E. Lãnh đạo hiệu quả giúp các cá nhân và nhóm đạt được mục tiêu của họ bằng cách tập trung vào các nhu cầu duy trì của nhóm nhu cầu để các cá nhân hòa hợp, làm việc cùng nhau, ví dụ các chuẩn mực chung và nhu cầu nhiệm vụ nhu cầu để nhóm tiến bộ, đạt được mục tiêu đã đưa họ đến với nhau.
2008 đã theo tiếp cận trách nhiệm lãnh đạo để đề xuất cấu trúc năng lực lãnh đạo của hiệu trưởng được xem xét lại và được xác định có 4 nhóm năng lực đảm bảo thực hiện được 4 nhóm trách nhiệm lãnh đạo cốt lõi gồm trách nhiệm đối với người dạy, người học, các nguồn lực và quan hệ bên ngoài trường. Để thực hiện 4 trách nhiệm này, lãnh đạo trường học cần phát triển 4 nhóm năng lực là: i Nhóm năng lực hỗ trợ, đánh giá và phát triển chất lượng giáo viên; ii Nhóm năng lực xác định các mục tiêu học tập và thực thi các hệ thống đánh giá trí tuệ nhằm giúp người học phát triển đầy đủ các tiềm năng của họ; iii Nhóm năng lực sử dụng chiến lược các nguồn lực bao gồm nhân lực và tài chính phù hợp với các mục tiêu giáo dục; iv Nhóm năng lực đối với quan hệ ngoài trường học. Lãnh đạo trường học cần có năng lực hợp tác với các trường học khác, các cộng đồng, các trường đại học, các tổ chức xã hội và các nhà hoạch định 9 chính sách để tạo ra sự tương tác, hỗ trợ lẫn nhau nhằm thực hiện được mục tiêu giáo dục của nhà trường. Nghiên cứu của OECD 2008 về trường hợp ở Australia và đề xuất một bộ tiêu chuẩn tuyển dụng và lựa chọn lãnh đạo nhà trường gồm 5 tiêu chuẩn năng lực lãnh đạo và 1 tiêu chuẩn về nhu cầu cộng đồng.
i Năng lực lãnh đạo kỹ thuật bao gồm năng lực tối ưu hóa hiệu quả các nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất và nhân lực nhằm thực hiện tầm nhìn và mục tiêu của nhà trường. ii Năng lực lãnh đạo con người thể hiện ở khả năng kiến tạo môi trường học tập an toàn, có mục đích và khả năng phát triển các mối quan hệ mang tính xây dựng và tôn trọng với đồng nghiệp, người học, cha m học sinh và các bên liên quan. iii Năng lực lãnh đạo giáo dục thể hiện ở khả năng lãnh đạo, quản lý và giám sát quá trình cải tiến trường học thông qua nhận thức có tính phê phán về quá trình học tập và áp dụng các giải pháp nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập trong tất cả các lớp học của nhà trường. iv Năng lực lãnh đạo biểu tượng thể hiện ở khả năng tạo ra mô hình các hệ giá trị và các hành vi quan trọng cho nhà trường và cộng đồng bao gồm cả sự cam kết tạo dựng và duy trì các cộng đồng học tập chuyên nghiệp hiệu quả trong trường học trên tất cả các cấp độ của hệ thống.
v Năng lực lãnh đạo văn hóa thể hiện ở khả năng hiểu biết các đặc điểm của trường học hiệu quả và khả năng lãnh đạo cộng đồng trường học trong việc thúc đẩy tầm nhìn vì tương lai phản ánh mục tiêu và giá trị đảm bảo hiện thực hóa sự cam kết và hợp tác của các bên liên quan để hiện thực hóa các tiềm năng của tất cả người học. vi Năng lực nắm bắt các nhu cầu, yêu cầu và bối cảnh của cộng đồng. Một tổng quan của Robinson, V. 2009 đối với 31 nghiên cứu về lãnh đạo trường học ở New Zealand đã đề xuất được một cấu trúc 6 chiều cạnh lãnh đạo nhằm cải thiện dạy và học.
Tương ứng cấu trúc 6 năng lực lãnh đạo trường học bao gồm: i Năng lực 10 xác định mục tiêu giáo dục một cách rõ ràng và phù hợp; ii Năng lực huy động và phân bổ các nguồn lực bền vững nhất là ngân sách theo hướng ưu tiên thực hiện các mục tiêu giáo dục; iii Năng lực tạo dựng các mối gắn kết giáo dục mạnh giữa người học với các hoạt động giáo dục, các chương trình giảng dạy trong các bối cảnh giáo dục; iv Năng lực tạo dựng môi trường học cách nâng cao sự tiến bộ của người học thông qua gắn kết giảng dạy với học tập và quan tâm tới các thành tựu và phúc lợi của người học; v Năng lực thu hút sự tham gia của giáo viên và những người khác vào cuộc nói chuyện mang tính xây dựng để giải quyết vấn đề; vi Năng lực lựa chọn, phát triển và sử dụng các công cụ thông minh smart tools từ công cụ đơn giản đến các công cụ phức tạp gắn với công nghệ truyền thông hiện đại. Trong các loại năng lực này, cần đặc biệt chú trọng năng lực liên quan đến các công cụ thông minh đặc trưng cho lãnh đạo trường học của thời kỳ số. Công cụ thông minh cần được sử dụng không chỉ trong giảng dạy mà còn dùng để học hỏi, thúc đẩy hoạt động học tập của người học. Một nghiên cứu của Townsend, Tony 2011 về lãnh đạo trường học ở Florida, Hoa Kỳ cho biết: 46% trong tổng số 91 kỹ năng cụ thể của lãnh đạo trường học là năng lực nhận thức, nắm bắt các quy định pháp luật.
Còn nghiên cứu về lãnh đạo trường học ở Australia chỉ ra người lãnh đạo trường học cần có ba loại năng lực thuộc ba cấp độ là: i Năng lực lãnh đạo bản thân để học tập, ii Năng lực lãnh đạo người khác để học tập và iii Năng lực lãnh đạo tổ chức để học tập. Tác giả Slater, Charles L. 2011 đưa ra mô hình liên văn hóa về lãnh đạo cho biết có thể phân biệt được các cấp độ năng lực lãnh đạo gồm: i Năng lực lãnh đạo bên trong một nền văn hóa intra-cultural , ii Năng lực lãnh đạo xuyên văn hóa cross-cultural và iii Năng lực lãnh đạo siêu văn hóa (meta- cultural với năng lực khó có thể tìm thấy ở một nền văn hóa cụ thể nào. 11 Tác giả Lê Kim Long và cộng sự 2021 đã tiến hành khảo sát 290 hiệu trưởng ở sáu tỉnh miền núi Tây Bắc Việt Nam về các yếu tố ảnh hưởng tới năng lực lãnh đạo của hiệu trưởng.
Theo nhóm tác giả này, vị trí địa lý, quy mô trường học và kết nối Internet là một trong những yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đáng kể đến năng lực hiệu trưởng, đặc biệt tại các trường thuộc miền núi ở các tỉnh Tây Bắc. Phân tích cho thấy rằng vị trí địa lý của một trường học và khả năng tiếp cận trường học về mặt địa lý có ảnh hưởng tương quan với bốn năng lực lãnh đạo của hiệu trưởng, bao gồm: phát triển bản thân; tổ chức và hoạt động của trường; phát triển nguồn nhân lực; đảm bảo chất lượng giáo dục, kế hoạch chiến lược của nhà trường Long et al. Như vậy, các nghiên cứu về năng lực lãnh đạo trường học đã tập trung vào vai trò đứng đầu trường phổ thông của hiệu trưởng để xác định cấu trúc của năng lực lãnh đạo nhà trường, trong đó nhấn mạnh đến năng lực lãnh đạo chuyên môn, lãnh đạo tổ chức, xây dựng văn hóa nhà trường và năng lực kết nối cộng đồng. Những nghiên cứu liên quan đến vấn đề giới Ngày nay, vấn đề giới mà trung tâm là bình đẳng giới trở thành một trong các ưu tiên toàn cầu của Liên hợp quốc và cũng là chương trình nghị sự thường niên của UNESCO và của hầu hết các quốc gia trên thế giới nhằm hướng đến những giá trị nhân bản chung của nhân loại.
Nghiên cứu các vấn đề liên quan đến giới cũng được sự quan tâm rất lớn và đạt được nhiều thành tựu đáng kể đóng góp cho học thuật và trong các hoạt động thực tiễn. Kể từ sau Jean Jacques Rousseau với triết học Khai sáng, vấn đề giới được đặt ra và nhận được sự quan tâm rất lớn của các nhà nghiên cứu mà khởi đầu với Mary Wollstonecraft 1759-1797 , nhà văn, nhà triết học người Anh, người được coi là tiền thân cho “Phong trào nữ quyền” trên thế giới. Năm 1792, Wollstonecraft, đã xuất bản chuyên luận: A Vindication of the Rights of 12 Women (Sự minh oan về quyền của phụ nữ , trong đó bà ủng hộ sự bình đẳng về mặt xã hội và đạo đức giữa các giới. Bà cho rằng phụ nữ phải có một nền giáo dục tương xứng với vị trí của họ trong xã hội, đồng thời khẳng định phụ nữ có vai trò thiết yếu đối với quốc gia vì họ là người trực tiếp giáo dục con cái.
Những quan điểm của bà là cơ sở lý luận cho các làn sóng nữ quyền ở phương Tây và nhiều công trình nghiên cứu liên quan. Chủ nghĩa nữ quyền ở phương Tây với làn sóng thứ nhất bắt đầu từ thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20 tập trung vào việc đảo ngược bất bình đẳng pháp lý, đặc biệt giải quyết các vấn đề về quyền bầu cử của phụ nữ. Làn sóng thứ hai từ những năm 1960-1980 đã mở rộng cuộc tranh luận bao gồm những bất bình đẳng về văn hóa, chuẩn mực giới và vai trò của phụ nữ trong xã hội. Làn sóng thứ ba những năm 1990-2000 đề cập đến những hoạt động nữ quyền đa dạng mà mục tiêu chính là thiết lập sự bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới trong mọi khía cạnh của xã hội bằng cách xóa bỏ các rào cản đối với sự tham gia của phụ nữ trong các công việc, không tìm cách thay đổi cấu trúc của xã hội mà là mang lại cơ hội bình đẳng cho phụ nữ trong xã hội hiện có Susan Ehrlich, 2003).
Đồng thời và tiếp sau đó, cuối thập niên 70, Chủ nghĩa nữ quyền sinh thái Ecofeminism) là một phong trào chính trị - xã hội ở phương Tây ra đời và phát triển thành cao trào vào thập niên 90 mà tiêu biểu là Françoise d’Eaubonne 1974 , nữ học giả người Pháp.