ĐẶT VẤN ĐỀ Họ gừng bao gồm khoảng 47 chi và hơn 1.000 loài, phân bố ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, chủ yếu ở nam và đông nam Châu Á. Ở Việt Nam hiện biết gần 20 chi và gần 100 loài [5]. Từ lâu đời người ta đã biết sử dụng gừng với nhiều công dụng. Nhà y học nổi tiếng đời Minh Trung Quốc, Lý Thời Châu đã viết trong cuốn “Bản thảo Cương mục” như sau: “gừng đắng mà không hôi tanh có thể xua tà, đuổi ác, có thể ăn sống, ăn chín, ngâm giấm, làm tương, ngâm muối, xào với mật, đường.
Cũng có thể làm rau, làm kẹo, làm thuốc rất có lợi”. Nước gừng tính hơi ôn có công dụng chữa long đờm, chữa ho. Vỏ gừng tính mát có công dụng hòa tì vị, tiêu viêm, sưng. Gừng khô tính nhiệt, dùng ấm có công dụng giải hàn, trừ tỳ vị hư hàn.
Lá gừng tính ôn có công dụng hỗ trợ tiêu hóa, hoạt huyết, tiêu nhỏ, có thể chữa nhiều thịt không tiêu, làm tiêu vết bầm tím khi ngã…[4] Ngày nay, gừng được biết đến với rất nhiều công dụng như: chống oxi hóa và kháng khuẩn, có hoạt tính kháng virut, tăng cường nhận thức tiềm năng cho phụ nữ trung niên. Tuy nhiên, nguồn gen cây họ gừng đang có nguy cơ mất mát rất nhanh, rất cần có định hướng bảo tồn đúng đắn để phục vụ xã hội trong tương lai. Ở Việt Nam, mới chỉ có một số nghiên cứu lẻ tẻ về phân loại thực vật và bảo tồn tại các gia đình, còn các nghiên cứu sâu về những loài họ gừng thì hầu như rất ít. Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn và được sự đồng ý của ban chủ nhiêm khoa Lâm Nghiệp - Trường ĐH Nông Lâm Thái Nguyên đồng thời dưới sự hướng dẫn trực tiếp của Th.S Mai Quang Trường tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tìm hiểu kỹ thuật gây trồng và thử nghiệm trồng Gừng núi đá trên một số loại đất tại huyện Na Rì - tỉnh n 2 Bắc Kạn”.
Kết quả nghiên cứu là để góp phần hoàn thiện quy trình nhân giống các loài gừng nói chung và gừng núi đá nói riêng để bảo tồn và tạo ra số lượng cây giống lớn, phục vụ cho sản xuất về lâu dài, với tiềm năng cũng như sự chủ động về nguồn giống thì tính toán xây dựng thị trường tiêu thụ để đưa cây gừng núi đá trở thành đặc sản mang lại giá trị kinh tế cao là điều cần thiết và hết sức khả thi. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU - Tìm hiểu kinh nghiệm gây trồng cây gừng núi đá của người dân trong vùng dự án trồng gừng trên cơ sở đó rút ra quy trình gây trồng tạm thời phục vụ cho nhu cầu trồng và nhân rộng diện tích loài cây quý hiếm này. - Thử nghiệm một số loại đất trồng cây Gừng núi đá nhằm mục đích lựa chọn loại đất trồng thích hợp cho loài cây Gừng núi đá. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU - Xây dựng được quy trình gây trồng tạm thời cho loài cây Gừng núi đá để áp dụng sản xuất nhân rộng diện tích loài cây này cho các vùng lân cận.
- Xác định được loại đất trồng thích hợp cho loài cây Gừng núi đá sinh trưởng phát triển, phát triển tốt. Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI * Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học: Thông qua thời gian tiến hành nghiên cứu đề tài nhằm trang bị thêm về phương pháp nghiên cứu và kiến thức thực tế cho bản thân, vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn sản xuất. * Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất: Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể là tài liệu tham khảo quý giá cho quá trình xây dựng quy trình kỹ thuật gây trồng cây dược liệu quý giá này góp phần mở rộng diện tích và nâng cao năng suất, chất lượng cây Gừng núi đá. n 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Các loài thực vật mọc hoang dã được con người sử dụng phục vụ cuộc sống. Nhưng hiện nay những tài nguyên thiên nhiên đó đang trở lên rất khan hiếm, chính vì vậy việc tìm kiếm ngoài tự nhiên ngày thêm khó khăn và hiện nay đặt ra thách thức cho những người không biết quý trọng và bảo tồn nguồn tài nguyên đó. Hiện nay trên thế giới cũng như ở nước ta đa dạng sinh học đang bị khai thác từng ngày từng giờ làm cho số lượng loài không ngừng suy giảm, bên cạnh đó là các loài đã và đang bị đe dọa nghiêm trọng và có nguy cơ bị tuyệt chủng.Vấn đề cấp thiết đặt ra hiện nay là đòi hỏi chúng ta phải hành động ngay trên phạm vi toàn cầu. Như chúng ta đã biết việc trồng rừng, thâm canh rừng lấy gỗ, trồng rừng phòng hộ, trồng rừng đặc dụng, trồng rừng đối với các loài cây lâm sản ngoài gỗ.
đã được tiến hành từ lâu với nhiều phương thức trồng khác nhau nhưng cho đến nay việc trồng cây cảnh, cây đặc sản, cây dược liệu và nhất là các loài cây dược liệu quý, trồng cây để bảo tồn tránh tuyệt chủng thì mới bắt đầu được quan tâm nghiên cứu và thử nghiệm vào những năm gần đây. Đặc biệt là các loài cây thuốc sử dụng làm dược liệu. Hiện nay nhiều loài cây dược liệu đang trong tình trạng suy giảm, bị đe dọa nghiêm trọng trước sự khai thác quá mức của con người, cho nên việc nghiên cứu các đặc tính sinh học, cách gây trồng loài cây này là rất cần thiết, nhằm tránh khỏi sự suy giảm, mất đi nguồn gen quý hiếm này. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 2.
Tình hình nghiên cứu trên thế giới Cây gừng núi đá là loài mới, chưa được nghiên cứu nhiều. Tài liệu hạn chế, không tìm được các nghiên cứu trên thế giới, bởi vậy phần tổng quan tài liệu tình hình nghiên cứu trên thế giới còn thiếu. Tình hình nghiên cứu trong nước Cây gừng đá đã được xếp vào nhóm giống cây thực phẩm quý hiếm cần được bảo tồn theo Quyết định 80/2005/QĐ- BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn từ năm 2005. Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bắc Kan cùng Viện Di truyền nông nghiệp đã tiến hành điều tra tình hình sản xuất gừng đá tại Liêm Thủy và Xuân Dương huyện Na Rì tỉnh Bắc Kạn.
Tại mỗi xã lựa chọn 50 hộ dân tham gia mô hình trồng gừng đá. Từ đó, tiến hành đánh giá kiểu hình, kiểu gen; nhân nhanh giống gừng đá bằng công nghệ nuôi cấy mô tế bào thực vật (In vitro). Qua 01 năm triển khai, dự án đã hoàn thành điều tra, khảo sát tình hình sản xuất giống gừng đá tại xã Liêm Thủy và Xuân Dương huyện Na Rì tỉnh Bắc Kan; đánh giá, chọn lọc các cá thể gừng đá trên đồng ruộng; nhân giống thành công giống gừng đá Bắc Kạn bằng phương pháp In vitro; phân tích các thành phần chính của giống gừng đá Bắc Kạn nhằm đánh giá giá trị nguồn gen của giống tại vùng nghiên cứu. Mô hình trồng 500m2 diện tích gừng tại núi đá trong đó 200m2 trồng từ củ của địa phương và 300m2 trồng từ cây nuôi cấy bằng phương pháp In vitro cho thấy cây sinh trưởng phát triển tốt.
Chiều cao cây trồng từ cây nuôi cấy mô đạt 15 - 18 cm, được 8-10 lá và đã đẻ 3-5 nhánh. Gừng trồng từ củ của địa phương cây sinh trưởng phát triển tốt, mỗi khóm từ 6-10 nhánh [6] n 5 Hình 1.1: Mô hình trồng thử nghiệm cây gừng núi đá tại xã Liêm huỷ huyện Na Rì 2. Tổng quan về điều kiện tự nhiên - Kinh tế xã hội khu vục nghiên cứu 2. Tổng quan về điều kiện tự nhiên Khu vực nghiên cứu: • Phía Bắc giáp xã Xuân Dương, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn • Phía Nam giáp xã Sảng Mộc, huyện Võ Nhai, tỉnhThái Nguyên.
• Phía Đông giáp xã Tân Hoà, huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn. • Phía Tây giáp xã Đổng xã, huyện Na Rì và xã Yên Cư, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn. n 6 Xã có 6 thôn gồm các thôn: Bản Cải, Nà Bó, Nà Pì, Lũng Danh, Khuổi Tấy A, Khuổi Tấy B.1 Đặc điểm địa hình Xã có địa hình đồi núi cao, giữa là những cánh đồng nhỏ hẹp chạy dọc theo các con suối và các khe núi. Độ dốc lớn và chia cắt mạnh bởi núi cao và sông suối độ cao trung bình từ 300m đến 800m.
Độ dốc trung bình từ 15 - 350. Khí hậu thuỷ văn • Khí hậu Xã Liêm Thuỷ mang đặc điểm chung của khí hậu miền núi vùng cao phía Bắc, nhiệt đới gió mùa, mỗi năm chia thành 2 Mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô: Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau. - Nhiệt độ trung bình năm 21,50C, nhiệt độ cao nhất lên đến 370C, nhiệt độ thấp nhất xuống tới 50C. - Lượng mưa trung bình năm 1084 mm, lượng mưa cao nhất vào tháng 5, 6,7, trung bình khoảng từ 186,2 mm/tháng đến 242,0 mm/tháng, lượng mưa thấp nhất vào tháng 11 - 12.
- Tổng số giờ nắng trung bình năm là 1483 giờ, tháng có số giờ nắng cao nhất là tháng 7,8,9 trung bình khoảng 185 giờ, tháng có số giờ nắng thấp nhất là tháng 1, trung bình khoảng 61giờ. - Độ ẩm không khí trung bình khoảng 82%, thấp nhất là 78% vào tháng 2, 3, cao nhất 87% vào tháng 8 tháng 9. - Lượng bốc hơi trung bình hàng năm 840mm, thấp nhất là 65,4mm vào tháng 2, cao nhất 77m vào tháng 4. - Gió, bão: Là xã miền núi được bao bọc bởi những dãy núi cao nên xã không có hướng gió nhất định.
Trên địa bàn xã chịu ảnh hưởng của khí hậu vùng Đông - Bắc Bộ nên có gió mùa Đông - Bắc và gió Tây - Nam. n 7 Nhìn chung khí hậu thời tiết của xã tương đối thuận lợi cho cuộc sống sinh hoạt và sản xuất nông - lâm nghiệp. Tuy nhiên, là xã vùng cao chịu ảnh hưởng của núi đá nên vào mùa đông có sương mù, mưa phùn. Thời tiết hanh khô có khi phải chịu hạn hán, vào mùa mưa do địa hình cao, độ dốc lớn, có mưa nhiều dễ gây ra lũ cuốn, lũ quét làm xói mòn, lở đất của các dãy đồi, núi.
• Thủy văn Do điều kiện địa hình đồi núi dốc, lượng mưa lớn và tập trung. Hệ thống khe suối khá dày đặc, có tốc độ dòng chảy lớn và lưu lượng nước thay đổi theo từng mùa. Mùa khô nước cạn, mùa mưa dễ gây lũ lụt, sạt lở tại vùng ven và thượng nguồn khe suối. Xã Liêm Thuỷ có suối Nà Pì là suối chính và là phụ lưu của sông Na Rì có lưu lượng nước chảy tương đối lớn, cùng với mật độ thuỷ văn đa dạng và phong phú.