Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về nhân sâm và saponin 1. Giới thiệu chung về nhân sâm Nhân sâm (Ginseng) thuộc họ Ngũ gia bì (Araliacaea). Họ Ngũ gia bì bao gồm khoảng 700 loài thực vật, được chia thành 70 chi, một trong số đó là chi Panax, cho đến nay các nhà khoa học đã cập nhật 17 loài sâm trên thế giới (bảng 1.
Theo tác giả Sharma, S. K (2009) [55] trong số các loài thuộc chi Panax, ba loài P. quinquefolius, được trồng rộng rãi để sản xuất thương mại. Môi trường sống của các loài Panax được phân loại thành ba khu vực: Đông Bắc Á, Tây Trung Quốc và Đông Bắc Mỹ.
Panax ginseng sống ở bán đảo Triều Tiên và Đông Bắc Trung Quốc. Panax japonicus và P. notoginseng được tìm thấy ở Nhật Bản và Tây Trung Quốc, tương ứng. quinquefolius mọc tự nhiên ở miền đông Bắc Mỹ.
Bộ phận thường sử dụng là rễ củ đã được phơi hay sấy khô của Nhân sâm. Hầu như tất cả các loài trong chi nhân sâm đều được sử dụng làm thuốc trong Y học cổ truyền ở nhiều nước Á-Âu; đặc biệt là ở các nước Đông - Bắc Á. Hiện nay các nhà khoa học đã tìm ra trong nhân sâm có chứa nhiều thành phần khác nhau, tuy nhiên saponin (ginsenosid), chính là thành phần quyết định tác dụng của nhân sâm, cũng là chất có khả năng tạo ra những ảnh hưởng tích cực đối với sức khỏe. Danh sách các loài sâm trên thế giới STT Tên loài Tên thường gọi 1 P.
ginseng Korean ginseng (Sâm Hàn Quốc) 2 P. quinquefolius American ginseng (Sâm Mỹ) 3 P. notoginseng Chinese ginseng (Sâm Trung Quốc) 4 P. japonicas Japanese ginseng (Sâm Nhật Bản) 5 P.
vietnamensis Vietnamese ginseng (Sâm Ngọc Linh) 6 P. bipinnatifidus Feather-leaf bamboo ginseng 7 P. stipuleanatus Pingpien ginseng 8 P. omeiensis Omei ginseng 9 P.
pseudoginseng Himalayan ginseng 10 P. trifolius Dwarf ginseng 14 P. wangianus Narrow-leaved pseudoginseng 16 P. zingiberensis Ginger ginseng (Nguồn: Byong - Kyu Shin và cộng sự, 2015) [25] Hình 1.
Thân rễ của sâm Ngọc Linh (phải), sâm Trung Quốc, sâm Hàn Quốc (trái) 5 1. Tác dụng đặc trưng của nhân sâm Bên cạnh các loại dược liệu quý như: Cam thảo, bình vôi, nấm lim xanh, đông trùng hạ thảo… chứa hàm lượng các hợp chất có giá trị [5, 30, 38]. Nhân sâm (Ginseng) là một vị thuốc quý mà các tác dụng dược lý tốt cho sức khỏe con người. Thành phần hoạt chất của ginsenosid trong nhân sâm có tác dụng đặc trưng khác nhau được tóm tắt trong bảng 1.
Tác dụng đặc trưng của từng loại ginsenosid Ginsenosid Tác dụng đặc trưng Ro Phân giải rượu, chống viêm gan và phục hồi hư tổn gan Là saponin có thể kiềm chế hệ thống thần kinh trung ương Rb1 làm dịu cơn đau, bảo vệ tế bào gan Ngăn ngừa, hạn chế bệnh tiểu đường, phòng chống xơ cứng Rb2 gan, đẩy nhanh khả năng hấp thụ của tế bào gan Làm dịu cơn đau, tăng tốc độ tổng hợp protein Rc Ức chế sự tăng trưởng của tế bào ung thư, ngăn cản hoặc hạn chế sự phát triển của ung thư vú Rd Đẩy nhanh hoạt động của vỏ tuyến thượng thận Re Bảo vệ gan, làm tăng tốc độ tổng hợp của các tế bào tủy Rf Làm dịu cơn đau trong các tế bào não Khả năng gây hưng phấn thần kinh trung ương, chống và phục Rg1 hồi mỏi mệt, cải thiện trí nhớ, tạo DNA, RNA, kích hoạt protease Hạn chế sự gắn kết các tiểu cầu máu, phục hồi trí nhớ, tăng khả Rg2 năng lưu thông máu lên não, kéo dài thời gian sống của tế bào Rh1 Bảo vệ gan, hạn chế khối u, ngăn chặn gắn kết tiểu cầu máu Rh2 Ức chế các tế bào ung thư, hạn chế khối u phát triển 6 1. Cấu tạo nhóm hoạt chất ginsenosid Thành phần chủ yếu trong rễ sâm là saponin triterpen. Khi thuỷ phân các saponin này thu được 3 loại sapogenin là: acid oleanolic, protopanaxadiol và protopanaxatriol. Các saponin trong nhân sâm gọi là ginsenosid (là từ ghép của Nhân sâm (ginseng) + glicozit (glycosid)).
Các ginsenosid được phân loại dựa vào cấu trúc của ba sapogenin trên. Hầu hết các ginsenosid có cấu trúc với bộ khung gồm bốn vòng steroid cố định. Nhiều gốc đường khác nhau (ví dụ như glucose, rhamnose, xylose và arabinose) gắn ở vị trí C-3, C-6 hoặc C-20. Cấu trúc các Saponin được minh họa trong hình 1.
Cấu trúc saponin có aglycon là protopanaxadiol (A) và protopanaxatriol (B) [26] Bảng 1. Các saponin có aglycon là protopanaxadiol R1= R2 = H: 20(S) - protopanaxadiol Tên R1 R2 Ginsenosid-Rb1 G1c2-G1c G1c6-G1c Ginsenosid-Rb2 G1c2-G1c Glc6-Ara(p) Ginsenosid-Rb3 G1c2-G1c Glc6-Xyl Ginsenosid-Rc G1c2-G1c Glc6-Ara(f) Ginsenosid-Rd G1c2-G1c Glc Ginsenosid Rh1 Glc2-Rha Glc glc = glucose; ara(p) = arabinose trong dạng pyranose; ara(f) = arabinose trong dạng furanose 7 Bảng 1. Các saponin có aglycon là protopanaxatriol R1 = R2 = H: 20(S) - protopanaxatriol Tên R1 R2 Ginsenosid-Re Glc2-Rha G1c Ginsenosid-Rf G1c2-G1c H Ginsenosid Rgl Glc Glc Ginsenosid-Rh1 G1c H Ginsenosid-Rg1 G1c2-G1c Glc6-Xyl rha = rhamnose Hình 1. Cấu trúc saponin với aglycon là acid oleanolic [26] Bảng 1.
Saponin với aglycon là acid oleanolic Tên R1 R2 Ginsenosid R0 Glc A2- Glc G1c glc = glucose 1. Giới thiệu chung về sâm Lai Châu và các tác dụng đặc trưng Sâm Lai Châu (sâm LC - Panax vietnamensis var. fuscidicus) - là một loại sâm đặc hữu mà Việt Nam hiện đang là quốc gia duy nhất trên thế giới sở hữu, có nhiều hoạt chất và tác dụng quý như sâm Ngọc Linh (P. Đây là một thứ (bậc phân loại dưới loài) của sâm Ngọc Linh, còn được gọi là Tam thất hoang Mường Tè, Tam thất đen.
Chúng có vùng phân bố hẹp, được tìm thấy ở độ cao 1.200 m trên dãy núi Pu Si Lung và lân cận (Mường Tè và Tây Sìn Hồ, giáp biên giới với Trung Quốc) và dãy núi Pu Sam Cáp 8 nằm giữa các huyện Sìn Hồ và Tam Đường với thành phố Lai Châu, nhiệt độ trung bình từ 18 - 20C [21]. Sâm Lai Châu có đặc điểm hình thái của sâm Ngọc Linh, củ có mắt đốt so le. Tất cả các bộ phận của cây đều có thể sử dụng làm thuốc dược liệu. Sâm Lai Châu là một vị thuốc quý mà các tác dụng dược lý như: tăng lực, tăng trí nhớ, bảo vệ cơ thể chống stress, bảo vệ và tác động lên hệ miễn dịch giúp chống viêm, bảo vệ tế bào chống lão hóa, tăng sức đề kháng cho cơ thể và điều trị bệnh tim mạch… đã được nhiều nhà khoa học ngoài nước nghiên cứu [27, 32, 46, 50, 66].
Theo kết quả phân tích công bố (Đỗ Thị Hà, 2016) củ sâm Lai Châu có thành phần saponin phong phú với 52 loại hoạt chất quý hiếm tương tự như sâm Ngọc Linh [6]. Đáng chú ý nhất là hoạt chất Majonoside R2 - MR2, một hoạt chất mới đặc trưng, tạo ra giá trị lớn của các loài sâm Việt Nam cũng có trong sâm Lai Châu. Hiện nay, đã phân lập và xác định cấu trúc 06 saponin đặc trưng từ thân rễ sâm Lai Châu. Các hợp chất này đều là các saponin triterpenoid có cấu trúc hóa học đặc trưng cho chi Panax như: khung ocotillol (majonosid R2), khung protopanaxadiol (ginsenoside Rd và ginsenosid Rb1), khung protopanaxatriol (ginsenoside Re và ginsenosid Rg1), và khung oleanolic (silphiosid E).
Nhóm tác giả Trần Thị Kim Hương và cộng sự, (2019) đã tiến hành định lượng saponin bằng phương pháp cân cho thấy hàm lượng saponin tổng số trong các mẫu sâm Lai Châu đạt khoảng 20% [21]. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy hàm lượng saponin tổng số của sâm LC tăng dần khi tăng số tuổi, đồng thời mẫu thu được ở tự nhiên có hàm lượng saponin tổng số (trung bình khoảng 23%) cao hơn mẫu trồng (trung bình khoảng 18,47%). Các kết quả này có giá trị hàm lượng tương đương với kết quả công bố của sâm Ngọc Linh (Đỗ Thị Hà và cộng sự, 2016) [6]. Hình ảnh thân rễ của sâm Lai Châu 1.
Tách chiết và định lượng các saponin 1. Tách chiết saponin Hiện nay các phương pháp chiết xuất Soxhlet, chiết xuất hồi lưu nhiệt, chiết xuất siêu âm, chiết pha rắn, chiết xuất có hỗ trợ vi sóng, chiết xuất có hỗ trợ enzyme. đã được sử dụng để tách chiết saponin từ các loài Panax (P. ginseng…) ở cả dạng nguyên gốc (củ, lá, hoa) lẫn các chế phẩm chứa nhân sâm (Wan và cộng sự, 2012; Yang và cộng sự, 2021) [64, 69].
Năm 1879, Franz von Soxhlet đã phát triển một hệ thống chiết xuất mới cho phép chiết xuất các hợp chất từ vật liệu rắn bằng cách thẩm thấu nhiều lần với dung môi hữu cơ trong quá trình hồi lưu [36]. Chiết xuất Soxhlet đã trở thành một kỹ thuật phổ biến để chiết xuất ginsenosides từ nhân sâm, mặc dù nó có nhược điểm là tốn thời gian và dung môi [67]. Các yếu tố dung môi, thời gian chiết xuất và quá trình xử lý mẫu có ảnh hưởng lớn đến hàm lượng ginsenoside. Wu và cộng sự đã nghiên cứu tác động của các yếu tố này trên P.
Khảo sát các dung môi khác nhau MeOH, n-BuOH bão hòa 10 nước và nước có 10% MeOH, kết quả cho thấy hiệu quả chiết xuất cao nhất của ginsenosides thu được khi sử dụng dung môi n-BuOH bão hòa nước. Về thời gian chiết xuất, tổng lượng saponin nhân sâm tăng tỷ lệ thuận với thời gian chiết xuất tăng (1, 2 và 8 giờ). Sự khác biệt trong quá trình xử lý mẫu cũng ảnh hưởng đến hàm lượng saponin. Wang và cộng sự đã nghiên cứu rễ nhân sâm Mỹ tươi và đã hấp (xử lý nhiệt ở 120°C trong 1 giờ) bằng phương pháp chiết Soxhlet.
Tổng hàm lượng ginsenoside trong nhân sâm Mỹ thu được từ nguyên liệu tươi (8,0%) cao hơn hàm lượng thu được từ nguyên liệu đã hấp (5,9 %) [65]. Chiết xuất hồi lưu nhiệt là một phương pháp chiết xuất rắn-lỏng, được coi là một phương pháp khả thi để chiết xuất saponin bằng cách sử dụng dung môi nóng. Trong quá trình hồi lưu nhiệt, quá trình chiết xuất saponin nhân sâm được thực hiện ở nhiệt độ cao và dung môi được thu hồi bằng cách bay hơi. Dung môi chiết xuất, thời gian và nhiệt độ là những yếu tố quan trọng trong phương pháp này ảnh hưởng đến hàm lượng saponin thu được từ nguyên liệu nhân sâm thô.
Kim và cộng sự đã nghiên cứu tác động của dung môi, thời gian và nhiệt độ của phương pháp đối với hàm lượng ginsenosides [43]. Trong nghiên cứu đó, các dung môi khác nhau (0%, 10%, 30%, 50%, 70% và 100% ethanol), nhiệt độ (40°C, 60°C và 80°C) và thời gian (2, 4, 6 và 8 giờ) đã được nghiên cứu để chiết xuất saponin nhân sâm. Kết quả chỉ ra rằng ethanol 70% là dung môi tối ưu để chiết xuất ginsenosides từ bột nhân sâm. Ngoài ra, lượng ginsenoside trong chiết xuất tăng đáng kể sau 6 giờ khi nhiệt độ là 80°C.