Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Những nghiên cứu về cây Khởi tử trên thế giới 1. Nguồn gốc Chi Lycium L. trên thế giới có khoảng hơn 100 loài, phân bố rải rác khắp vùng nhiệt đới và á nhiệt đới của châu Mỹ, châu Phi và châu Á [4]. Khu vực Đông Á thường được trồng ở miền nam Trung Quốc, Hàn Quốc, Malaysia, Indonesia và Việt Nam.
Riêng ở Trung Quốc có 7 loài [6]. Các loài này chủ yếu được trồng để lấy quả làm thuốc. Trong cuốn Quần xã thực vật Trung Hoa [7] đã mô tả chi tiết 7 loài thuộc chi này, đáng chú ý nhất là tên gọi Khởi tử. Bởi vì cùng có tên gọi là Khởi tử có 2 loài: + Khởi tử quả đỏ (Lycium chinensis Mill.), có nguồn gốc từ vùng tây Á.
Mọc hoang và được trồng nhiều ở Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Malaysia, Indonesia…[4] + Khởi tử quả tím đen (Lycium ruthenium Murray), cũng có nguồn gốc Tây Á hoặc Nam Á. Cây được trồng ở Ấn Độ, Malaysia và một số nơi khác. Phân loại Cây khởi tử có tên khoa học là: Lycium chinense Mill, thuộc họ Cà (Solanaceae). Cây khởi tử còn có tên khác là: Củ khởi, Câu kỷ tử, Rau khởi, Khủ khởi, Phại khau khỉ (Tày).
Tên nước ngoài: Chinese box – thorn, Chinese desert thorn, Chinese wolfberry, Chinese matrimony vine (tiếng Anh) và Lyciet (tiếng Pháp). Có hai loài Khởi tử đáng chú ý là: Khởi tử quả đỏ (Lycium chinense Mill.), có nguồn gốc từ vùng Tây Ắ. Mọc hoang và trồng nhiều ở vùng Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Malaysia, Indonesia…. Khởi tử quả tím đen (L.
ruthenicum Murray) cũng có nguồn gốc ở vùng tây Á hoặc Nam Á. Cây được trồng ở Ấn Độ, Malaysia và một số nơi khác. hiện nay có cả hai loài, nhưng không rõ được nhập trồng từ bao giờ. Cây trồng ở Đà Lạt, Lâm Đồng, Hà Nội và một số nơi khác chủ yếu là lấy lá và ngọn non để ăn.
Từ năm 1996, Trạm Nghiên Cứu Dược liệu Thanh Hóa đã nghiên cứu trồng loài L. thành công và hàng năm có thu hoạch được quả. Đặc điểm thực vật học Thân: Cây nhỏ, mọc đứng thành bụi sum sê, phân cành nhiều, cao 0,5 – 1m. Cành cứng đôi khi có gai ngắn ở kẽ lá.
Lá: Lá nguyên mọc so le hoặc tập tụ 4 – 5 cái, hình mũi mác, hẹp dần ở gốc, đầu tù hoặc nhọn,mép uốn lượn, hai mặt nhẵn, mặt trên màu lục sẫm bóng, mặt dưới nhạt , cuống lá ngắn. Hoa: Hoa nhỏ, mọc đơn độc hoặc 2 – 3 cái ở kẽ lá, màu tím nhạt hoặc tím đỏ; đài nhẵn hình chuông, có 3 – 5 thùy; tràng hình phễu, 5 cánh có lông ở mép, nhị 5 dính ở đỉnh của ống tràng. Bầu có 2 ô, vòi nhụy nhẵn dài bằng nhụy, đầu nhụy chẻ đôi. Quả: Quả mọng, hình trứng thuôn, khi chín màu đỏ sẫm hoặc vàng đỏ; hạt nhiều, hình thận dẹt.
Hạt: Hạt nhiều hình thân dẹp, ra hoa từ tháng 6-9, có quả từ tháng 7-10. Yêu cầu điều kiện ngoại cảnh Nhìn chung cả hai loài khởi tử quả đỏ (Lycium chinense Mill.) và khởi tử quả tím đen (L. ruthenicum Murray) đều là cây ưa sáng và ưa ẩm. Cây sinh trưởng tốt trong vụ Xuân - Hè, có hoa quả vào cuối mùa Hè và đầu mùa Thu.
Về mùa Đông có hiện tượng rụng lá. Đối với loài Khởi tử quả đỏ, muốn có hoa quả không được thu hoạch ngọn và lá làm rau. Khởi tử có khả năng tái sinh cây chồi mạnh sau khi chặt, từng đoạn thân, cành đem vùi xuống đất cũng có khả năng tái sinh. Yêu cầu đất đai: Khởi tử có khả năng thích ứng rộng, có thể trồng được ở cả miền núi, trung du và đồng bằng.
Cây thích ứng với đất pha cát, thoát nước không bị úng ngập, có tầng canh tác sâu. 5 Yêu cầu về ánh sáng: Là cây sống nhiều năm, khởi tử chịu bóng lúc còn nhỏ, từ năm thứ 3 trở đi, cây cần được chiếu sáng đầy đủ. Yêu cầu nhiệt độ: Cây Khởi tử có khả năng thích ứng rộng, có thể sinh trưởng tốt trong điều kiện nhiệt độ từ 15 – 350C nhiệt độ tối ưu là 200 - 270C. Với cây Khởi tử lấy rau thì yêu cầu nhiệt độ thấp, cây phát triển rất tốt trong mùa Đông và mùa Xuân tại Sa Pa.
Đối với Khởi tử lấy dược liệu là quả, cần đòi hỏi có biên độ nhiệt độ ngày đêm cao và đất đai phù hợp, cây Khởi tử lấy dược liệu cho thu hoạch quả tốt nhất tại các vùng Tân Cương và Tứ Xuyên của Trung Quốc. Bộ phận sử dụng làm thuốc và thành phần hoá học Quả chín phơi khô cửa cây khởi tử (câu kỷ tử). Quả được thu hái khi quả chuyển sang màu đỏ da cam. Sau khi phơi âm can để vỏ quả se lại thì đem phơi nắng cho đến khi vỏ quả khô lại và cứng, còn thì ruột vẫn xốp.
Vỏ rễ phơi hay sấy khô (địa cốt bì) Thành phần hóa học Quả khởi tử chứa tinh dầu, trong đó 36 thành phần trung tính đã được nhận dạng bằng các sắc khí liên hợp với phổ khối. Hai sesquiterpen được nhận dạng là dehydro - α - cypenron và solavetivon. Methyl linoleat chiếm tỉ lệ cao (18%) trong phân đoạn trung tính. Các ester của các axid béo C14, C16,C18 cũng có với tỉ lệ cao.
Ngoài ra, quả còn có betain, zeaxanthin, physalien. Hạt chứa nhiều sterol: 4,4 – dimethylsterol, cycloartanol, cycloartenol, 24 – methylen, cycloartanol (các chất này chiếm tỉ lệ cao) một số dẫn chất của lanosterol (các chất này chiếm tỷ lệ thấp). Trong số các sterol này có gramisterol (44%), citrostadienol (18%), lophenol (9%), cycloeucalenol (8%), nor - cycloartenol (6%), obtusifoliol (6%). Hai chất còn được chiết tách từ quả và nhận dạng là β - sitosterol và acid melissic.
6 Vỏ cây cũng chứa β - sitosterol và acid melissic. Ngoài ra, còn có acid linoleic, 5α - stigmastan – 3,6 – dion, sugiol. Vỏ rễ chứa một alcaloic gọi là kukoamin và một dipeptid gọi là lyciumamid (N – benzoyl – L – phenylalanyl – L – phenylalaninol acetat). Lá chứa betain các lycinumwithanolid A và B, tinh dầu trong đó có hydroxydehydro - β - ionol.
Khởi tử còn được ghi là có scopoletin, acid vanilic, betain, nicotinamin. Quả khởi tử hiện đang bán trên thị trường phần lớn được nhập khẩu từ Trung Quốc, lấy từ loài Lycium barbarum L, một loài được dùng rất phổ biến trong y học cổ truyền của Trung Quốc. Trong 100 quả chứa 3,1g protein, 1,9g lipid, 9,1g cacbohydrat, 1,6g chất xơ, 22,5mg Ca, 56mg P, 1,3mg Fe, 19,6mg carotene….leung và cs, 1996, quả chứa 8 -10 % acid amin trong đó chừng một nửa ở dạng tự do: acid aspartic 1,2%, prolin 0,65%, acid glutamic 0,63%, alanin 0,37%, serin 0,14% và 9 acid anin khác. Tác dụng dược lý, công dụng và một số đơn thuốc có chứa Khởi tử.
Tác dụng dược lý: các nghiên cứu trên động vật cho thấy: Khởi tử có tác dụng tăng cường miễn dịch: Nước sắc khởi tử 50% với liều 2,5g/kg/ngày, dùng với đường uống trong 3 ngày liên tục, làm tăng khả năng thực bào của đại thực bào trong khoang bụng chuột nhắt, đồng thời làm tăng cường hoạt động của men lysozym trong huyết thanh và làm tăng hiệu quả kháng thể kháng hồng cầu cừu của huyết thanh và tăng số lượng tế bào có kháng thể hình thành trong tổ chức lách. Quan sát trên lâm sàng của những người già mà chức năng miễn dịch giảm, dùng dạng chiết từ cây khởi tử hoặc ăn quả cây khởi tử tươi thì hệ thống miễn dịch đã bị giảm của họ đã được điều chỉnh, tỉ lệ chuyển hóa của nguyên bạch cầu, globulin miễn dịch trong huyết thanh như IgG, IgA và Igm đều tăng. 7 Hạ cholesterol huyết, đường huyết, bảo vệ gan. Dạng chiết nước từ khởi tử dùng cho chuột cống trắng và thỏ có tác dụng làm giảm cholesterol và có tác dụng bảo vệ gan.
Nuôi chuột dài ngày (75 ngày) bằng thức ăn có trộn dạng chiết từ khởi tử (0,5% và 1%) hoặc betain (0,1%), có tác dụng bảo vệ gan chống lại những tổn thương do tetraclorua cacbon gây nên. Dạng chiết từ quả L. barbarum dùng cho chuột cống trắng có tác dụng hạ đường huyết rõ rệt, kéo dài và đồng thời khả năng dung nạp đường tăng cao. Trên lâm sàng, những người già trên 60 tuổi uống dạng chiết khởi tử 100mg liên tục trong 4 tuần lễ thì cholesterol huyết, β - lipoprotein và triglycerid đều giảm.
Tác dụng làm chậm sự suy lão: dạng chiết nước từ khởi tử cho vào thức ăn cho ruồi giấm (2%) làm cho sức ăn của ruồi giấm tăng lên 47% và ức chế sự tích lũy fuscin của ruồi. Người già mỗi ngày dùng 5g quả khởi tử trong 10 ngày liên tiếp thì hoạt độ của men superoxid dismutase tăng 48%, hemoglobin tăng 12% và lipid peroxyd giảm 65%. Tác dụng đối với hệ thống máu: Nước sắc khởi tử (10%) dùng cho chuột nhắt trắng với liều 0,5ml/ chuột liên tục trong 10 ngày làm tăng lượng bạch cầu. Dạng đông khô khởi tử có tác dụng làm ngăn ngừa hiện tượng giảm bạch cầu do cyclophosphamid gây nên trong điều trị ung thư thực nghiệm trên chuột cống trắng.
Người bình thường hoặc bệnh nhân ung thư ăn quả khô khởi tử 5g/ ngày liên tục trong 10 ngày thì lượng bạch cầu tăng lên rõ rệt. Các tác dụng khác: Betain làm tăng trọng lượng gà nuôi thịt so với lô dối chứng,và làm tăng lượng trứng đẻ ở gà mẹ. Dịch chiết cây khởi tử tác dụng trực tiếp lên tuyến yên của chuột cống trắng kích thich rụng trứng. Đặc tính cây khởi tử có tính độc, nhưng rất thấp.
Tác dụng hạ sốt: Dạng chiết nước, chiết cồn từ địa cốt bì trên thỏ gây sốt thực nghiệm có tác dụng hạ sốt rõ rệt, còn dạng chiết bằng ether không có tác dụng hạ sốt. 8 Tác dụng hạ đường huyết: Trên thỏ, nước sắc địa cốt bì bằng đường uống với liều 8g/kg có tác dụng hạ đường huyết, tác dụng xuất hiện tối đa sau khi dùng từ 4 – 5 giờ, trung bình hạ 14 %. Tác dụng hạ cholesterol trong máu: Trên thỏ, cao lỏng địa cốt bì bằng đường uống làm giảm cholesterol trong máu một cách rõ rệt, còn đối với triglycerid thì ảnh hưởng không lớn lắm. Chất betain có tác dụng bảo vệ gan và giúp gan chống nhiễm mỡ.
Tác dụng hạ huyết áp : trên chó, mèo, thỏ gây mê và trên chuột cống trắng không gây mê, nước sắc và cao lỏng địa cốt bì có tác dụng hạ huyết áp. Tác dụng hạ huyết áp ở mức trung bình, thời gian hạ áp ngắn. Tác dụng kháng khuẩn: nước sắc địa cốt bì có tác dụng ức chế rõ rệt các khuẩn gây bệnh đường ruột như Bacilustphi, B.paratiphi, Shigella shigae, Sh. Ngoài ra nước địa cốt bì còn có tác dụng ức chế virus cúm.