Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình nghiên cứu về Sâm bố chính trên thế giới 1. Tên gọi và phân loại Chi Vông vang (Abelmoschus) thuộc họ Bông (Malvaceae) có khoảng 87 loài khác nhau. Trong đó, có 10 loài được định danh tên khoa học là các loài Vông nem (Abelmoschus angulosus Wall.
ex Wight & Arn.), Abelmoschus crinitus Wall.), (Abelmoschus hostilis (Wall.Hussain), (Abelmoschus magnificus Wall.), (Abelmoschus moschatus Medik.Feng), Đậu bắp (Abelmoschus esculentus (L.) Moench), Sâm bố chính (Abelmoschus sagittifolius (Kurz) Merr. Dựa vào các đặc điểm khác nhau về hình thái lá, màu sắc, kích thước, cách sắp xếp cánh hoa để phân loại thành các loài. Bên cạnh đó, cũng có khoảng 18 thứ thuộc chi Abelmoschus hoặc tên đồng nghĩa với 10 loài nói trên. Trong đó, loài Sâm bố chính (Abelmoschus sagittifolius (Kurz) được biết đến là loài đặc hữu của Việt Nam, có giá trị cao về dược liệu và đặc điểm phân bố, sinh thái.
Các loài trong chi Abelmoschus phân bố hầu hết các nước trên thế giới. Loài sâm bố chính (Abelmoschus sagittifolius (Kurz) Merr.) có phân bố ở khu vực châu Á và Đông Nam Á, phân bố ở Trung Quốc (Guangdong, Guangxi, Guizhou, Hainan, Yunnan), Campuchia, Ấn độ, Lào, Malaysia, Myanmar, Thái Lan và Việt Nam. Loài Sâm bố chính được tìm thấy nhiều nơi ở Đông Á (Trung Quốc, Campuchia, Ấn Độ, Lào, Malaysia, Thái Lan, Việt Nam) và phía Bắc nước Úc trải dài tới Thái Bình Dương. Chúng thường mọc ở độ cao khoảng 450m so với mực nước biển.
Môi trường sống đồi núi, bìa rừng, đồn điền, ruộng lúa, dọc những con đường mòn (Kurz, 2010). h 4 Sâm bố chính Abelmoschus sagittifolius (Kurz) Merr. Lần đầu tiên được xuất bản trong Lingnaam Agric. 2: 40 (1924), loài được mô tả phân bố ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới châu Á đến đông bắc châu Úc.
Đây là loài cây bụi có củ và phát triển trong các quần xã sinh vật cận nhiệt đới. Các loài thuộc chi Abelmoschus: • Abelmoschus brevicapsulatus (Hochr., Candollea 2: 86 (1924) • Abelmoschus coccineus S. 153: 39 (1955) • Abelmoschus coccineus var. 153: 40 (1955) • Abelmoschus moschatus subsp.) Bân & Xuyen, Checkl.
Vietnam 2: 557 (2003) • Abelmoschus moschatus var. ex Wight & Arn., Candollea 2: 86 (1924) • Abelmoschus moschatus subsp., Blumea 14: 93 (1966) • Abelmoschus rhodopetalus F. 2: 113 (1861) • Abelmoschus rugosus Wall. ex Wight & Arn.
1: 43 (1834) • Abelmoschus sagittifolius var. Group Hainan Island Taihoku Imp. 1: 94 (1942) • Abelmoschus sharpei Copel. 17: 29 (1904) • Abelmoschus todayensis Elmer, Leafl.
8: 2752 (1915) • Abelmoschus vanoverberghii Merr., C 13: 29 (1918) Sâm bố chính còn có tên đồng nghĩa: Hibiscus sagittifolius Kurz, J. Các loài thuộc chi Hibiscus bao gồm: h 5 • Hibiscus abelmoschus var. ex Wight & Arn. Genève 4: 152 (1900) • Hibiscus bellicorus H.
Kouy-Tchéou: 273 (1915) • Hibiscus bodinieri var. 12: 184 (1913) • Hibiscus brevicapsulatus Hochr. Genève 20: 160 (1917) • Hibiscus esquirolii H. 12: 184 (1913) • Hibiscus hirtus Buch.
• Hibiscus longifolius var., Linnaea 15: 170 (1841) • Hibiscus moschatus Roxb. ex Wight & Arn. 1: 53 (1834), not validly publ. 1: 209 (1863) • Hibiscus rhodopetalus var.
angustisectus Domin, Biblioth. angustisectus Domin, Biblioth. 22(89): 402 (1928) • Hibiscus rhodopetalus var. chillagoensis Domin, Biblioth.
typica Domin, Biblioth. 22(89): 402 (1928), not validly publ. • Hibiscus rugosus (Wall. ex Wight & Arn.
India 1: 342 (1874) • Hibiscus sagittifolius var. Indo-Chine 1: 385 (1907) • Hibiscus sagittifolius var. 1: 435 (1910) h 6 • Hibiscus sharpei (Copel. Genève 20: 161 (1917) • Hibiscus subnudus Craib, Bull.
Đặc điểm hình thái Trong thời gian gần đây, đã phát hiện được nhiều người dân trồng thuốc tại các khu vực Lishui, Jinyun, Longquan và các quận khác ở tỉnh Chiết Giang đã trồng "Nhân sâm" trong cây Malvaceae Abelmoschus Sagittifolius (Kurz) Merr. Loài cây này có nhiều nét tương đồng với nhân Sâm đặc biệt là bộ rễ, người ta thường gọi là “nhân sâm năm ngón” hay còn gọi là “safflower maning”, là một loại dược liệu trong dân gian ở Quảng Đông, Quý Châu và một số tỉnh khác. Với loại này chưa phát hiện và chưa thấy xuất hiện việc làm giả sâm từ nó. Để đạt được mục tiêu này, tác giả đã đến khu vực trồng để thu thập mẫu vật, đồng thời cố gắng nghiên cứu sơ bộ về dược lý từ hình thái cây ban đầu, tính trạng rễ, kính hiển vi và hóa lý để tham khảo xác định.
Nguồn là rễ khô của cây Abelmoschus Sagittifolia (Kurz) Merr được thu thập từ làng Muhou, thành phố Lishui, tỉnh Chiết Giang. Hình thái thực vật ban đầu là cây cỏ bụi sống lâu năm, cao 0,3 ~ 1m. Rễ nhiều thịt, hình nón hoặc hình trụ dài, dài 10 - 20 cm, đường kính 0,6 - 3 cm, một số có 2 - 5 nhánh ở dưới giữa, mặt ngoài màu vàng. Thân dày đặc màu trắng hoặc vàng nhạt, mềm và dài (Bir Bahadur, K.
Janardhan Reddy and MLN Rao (2005)). Abelmoschus sagittifolius (Kurz.) Merr hay còn được gọi với tên khác là mộc hoa đỏ, đồng da, sâm núi năm ngón, dâm bụt đỏ nhỏ, petrolatum, chúng đều thuộc họ Abelmoschus Medic (Malvaceae) là những cây thân bụi và sống lâu năm; rễ của nó ngoài việc có thể ăn được còn có thể làm thuốc, có nhiều công dụng như bồi bổ, chữa suy nhược cơ thể, điều trị các triệu chứng hoa h 7 mắt chóng mặt, đau lưng và một số bệnh liên quan đến đường ruột, (Li Shuifu Zhu Xiaofen, 2004). Abelmoschus sagittifolius Kurz là cây thuốc dược tính đặc trưng tương tự cây nhân sâm. Hiện nay số lượng cây ngoài tự nhiên đang bị khan hiếm do khai thác quá mức, khả năng nảy mầm ngoài tự nhiên không cao gây ảnh hưởng lớn đến phát triển nguồn gen vào trong công tác nghiên cứu chế biến dược liệu ở nhiều khu vực.
Sâm bố chính (Hisbiscus sagittifolius Kurz) là một loại thảo dược đặc hữu của Việt Nam, được sử dụng trong nhiều bài thuốc nam. Sâm bố chính thời gian gần đây đã thương mại hóa và xuất hiện nhiều trên thị trường với nhiều công dụng tăng cường sức khỏe, điều trị suy nhược về thần kinh, các vấn đề về hoa mắt chóng mặt, đau thắt lưng, bệnh đường ruột, dạ dày, táo bón. Để có cơ sở trong việc đánh giá về tác dụng của Sâm bố chính về giá trị dinh dưỡng, trong bài viết này chúng tôi sử dụng phương pháp Kjeldahl và phương pháp Bradford để xác định hàm lượng protein trong Củ Sâm bố chính được trồng trên địa bàn tỉnh Quảng Bình. Kết quả phân tích cho thấy, hàm lượng protein tổng số lên tới 9.160%, hàm lượng protein hòa tan là 2.442%, thấy được cao và vượt trội hơn các loại thực phẩm thông thường (Hu Nengbing He Keqin, 2001).
Đặc điểm phân bố • Sâm bố chính có nguồn gốc từ khu vực nhiệt đới ở Châu Phi, Châu Á, miền Bắc Úc. • Sâm bố chính phân bố nhiều ở Trung Quốc, Lào, Campuchia, phía đông của Ấn Độ, phía bắc nước Úc. Tổng quan nghiên cứu về Sâm bố chính ở Việt Nam 1. Tên gọi và phân loại Tên tiếng Việt: Sâm bố chính Tên khác: Sâm thổ hào, Sâm báo, Nhân sâm Phú Yên h 8 Tên khoa học: Abelmoschus sagittifolius L.
Merr hay Hisbiscus abelmoschus hay Hisbiscus sagittifolius Kurz. Sâm bố chính được miêu tả khoa học đầu tiên năm 1924 bởi nhà khoa học (Kurz) Merr. Từ lâu, cây sâm bố chính đã được đánh giá là một vị thuốc quý và ghi nhận trong cuốn sách nổi tiếng - “Những cây thuốc vị thuốc Việt Nam” của giáo sư Đỗ Tất Lợi (Đỗ Tất Lợi, 1991; 2015). Trong tài liệu: Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, Đỗ Tất Lợi (1977) đã mô tả về đặc điểm, công dụng của sâm Bố chính.
Phan Văn Đệ và cs (2005) đã tiến hành điều tra mà mô tả hình thái - giải phẫu và thành phần hóa học cây Sâm bố chính mọc hoang và được trồng Abelmoschus sagittifolius (Kurz) Merr., kết quả cho thấy mẫu cây Sâm bố chính có hình thái là cây thân thảo mọc đứng hay trườn, phân nhánh ít hoặc nhiều, mật độ lông che chở ở các bộ phân của cây), lá rất đa hình, hoa có màu đỏ, màu hồng, màu vàng. Kết quả phân tích cho thấy các mẫu rễ củ nghiên cứu đều có chứa saponin triterpen, coumarin, chất nhầy, acid béo, polyphenol và các nguyên tố đa lượng, … 1. Đặc điểm hình thái Kết quả nghiên cứu so sánh hình thái và giải phẫu Sâm bố chính bằng việc thu thập mẫu cây, củ tươi và khô tại các tỉnh Bình Phước, tỉnh Phú Yên h 9 và tỉnh Thanh Hóa của Trần Công Luận và cộng sự (2005) cho thấy: Sâm bố chính là loài thực vật than thảo sống lâu năm, thân có thể mọc đứng cũng có khi bò lan. Rễ, củ hình trụ có màu vàng nhạt hoặc trắng.
Lá đơn, mọc cách, cuống lá dài 2-3cm. Cây thường có hai dạng lá (lá phía gốc có hình trái xoan, cuối phiến lá hình tim hoặc mũi giáo, đầu phiến lá không nhọn). Lá dài 6- 7cm, rộng 0,7-3cm. Hoa màu hồng hoặc đỏ, mọc đơn độc ở kẽ lá.
Tiểu đài cấu tạo từ 7-10 bộ phận, dài 12-14mm, có nhiều lông. Có 5 cánh tràng, dài 5- 6cm, rộng 3-4cm ở ngọn. Nhị tạo thành bó, có hình trụ. Bầu thường có lông tơ, có 5 vòi nhụy.
Quả hình trứng, khi quả chin nứt theo khía dọc thành năm mảnh vỏ, quả có long. Phan Văn Đệ và cộng sự (2005), đã khảo sát hình thái - giải phẫu và thành phần hóa học cây sâm bố chính mọc hoang và được trồng Abelmoschus sagittifolius (Kurz) Merr đã cho thấy mẫu cây có hình thái ngoài về dạng cây thay đổi (cây thảo mọc đứng hay trườn, phân nhanh ít hoặc nhiều, mật độ lông che chở ở các bộ phân của cây), lá rất đa hình, hoa có màu đỏ, màu hồng, màu vàng. Theo Võ Văn Chi (2012), trong Từ điển cây thuốc Việt Nam, cho rằng còn có loài Sâm bố chính năm thùy (Abelmochus moschatus (L. ssp quinquelobus (Gagnep.) Ban (Hibiscus sagittifolius Kurz var.) phân bố ở Hà Nội, Khánh Hòa, Ninh Thuận cũng được sử dụng như Sâm bố chính.
Nhưng loài cây có tên là Sâm báo, loài này mọc nhiều và chỉ có ở núi Báo, Thanh Hoá và được xem là một đặc sản của Thanh Hoá, trước kia cây mọc hoang thành bụi. Củ giống củ nhân sâm, lá hình mũi tên nhưng không chia thành 5 thùy như ở cây Sâm bố chính, hoa màu vàng và nhỏ hơn, cùng thuộc họ Bông Malvaceae nhưng nó là thứ khác, do đó cây này không phải cây Sâm bố chính. Theo một số tác giả, mặc dù có một số những đặc điểm khác biệt về hình thái ngoài nhưng cây Sâm bố chính ở nước ta chỉ có một loài (Abelmoschus h 10 sagittifolius (Kurz), Merr.), loài này có củ chứa các thành phần hóa học đáp ứng được các chỉ tiêu trong dược điển Việt Nam.