Chương 1 Mạng ad hoc có những khác biệt rõ ràng so với mạng không dây truyền thống thể hiện ở cấu trúc động, chất lượng liên kết và năng lượng pin của các nút mạng hạn chế, độ bảo mật không cao về mặt vật lý. Công nghệ và mô hình mạng này đã có nhiều ứng dụng trong đời sống, kinh tế, xã hội của con người. 12 Do các tính chất khác biệt của mạng ad hoc so với mạng truyền thống, có nhiều thách thức cần được giải quyết từ các nhà nghiên cứu và triển khai công nghệ mạng này. Để góp phần giải quyết những vấn đề là thách thức của mạng ad hoc, giao thức định tuyến sử dụng trong mạng này cần đảm bảo được yêu cầu tối thiếu hoá tải điều khiển và tải xử lý, hỗ trợ định tuyến đa chặng, đáp ứng những thay đổi về topo mạng và ngăn chặn định tuyến lặp.
Để đảm bảo cung cấp thông tin ITS hoặc dữ liệu đa phương tiện một cách nhanh chóng và đáng tin cậy, Chất lượng Dịch vụ (QoS) [1, 8] cũng cần được xem xét trong các mạng ad hoc. Các giao thức định tuyến là trọng tâm của vấn đề đảm bảo chất lượng dịch vụ trong mạng. Mục đích của các giao thức định tuyến có nhận biết QoS là tính toán các tham số QoS và chọn đường từ nguồn đến đích thỏa mãn các yêu cầu QoS của ứng dụng. Lựa chọn và tối ưu hóa giao thức định tuyến đóng vai trò chính trong việc cải thiện QoS trong các mạng ad hoc.
Trong thời gian qua, đã có nhiều nghiên cứu đề xuất các giao thức định tuyến hỗ trợ chất lượng dịch vụ (QoS) truyền thông trong mạng thế hệ mới NGN. Đã có nhiều giải pháp định tuyến QoS dành cho mạng MANET hoặc VANET được đề xuất nhưng vẫn còn tồn tại những vấn đề lớn về mặt kỹ thuật như chưa đánh giá được độ hiệu quả định tuyến, phát sinh chi phí điều khiển, yêu cầu đồng bộ cao dẫn tới tiêu hao năng lượng nguồn lớn. Kỹ thuật định tuyến nhận biết yêu cầu chất lượng dịch vụ cho mạng ad hoc đa tốc độ được đề xuất trong [2] là một giải pháp đưa ra để góp phần khắc phục những tồn tại đã đề cập ở trên. Chương 2 của luận văn sẽ đi sâu vào trình bày các vấn đề chi tiết của kỹ thuật này và Chương 3 sẽ thực hiện việc cài đặt, đánh giá hiệu quả của giải pháp bằng mô phỏng.
KỸ THUẬT ĐỊNH TUYẾN CÓ NHẬN BIẾT YÊU CẦU CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ QoRA Kỹ thuật định tuyến có nhận biết yêu cầu chất lượng dịch vụ (QoS) dựa trên phương pháp Tối ưu hóa kiến trúc QoRA [2] bao gồm 2 thành phần cốt lõi của Thực thể QoRA và Thực thể SNMP. Thực thể QoRA Thực thể QoRA chạy trên mỗi nút để xác định các đường phù hợp với các yêu cầu QoS. Nó bao gồm 5 thành phần: Bộ quản lý gói tin kiến (Ant Management), Bảng láng giềng (Neighbor Table), Bảng Định tuyến (Routing Table), Máy ra quyết định QoRA (QoRA Decision Engine) và Bộ quản lý QoS (QoS Management). Kiến trúc của thực thể QoRA được đưa ra trong Hình 2.
Kiến trúc Thực thể QoRA 14 2. Bộ quản lý gói tin kiến Dựa trên phương pháp ACO, mỗi gói tin điều khiển trong định tuyến có nhận biết yêu cầu chất lượng dịch vụ QoRA được xem như một thực thể kiến. Bộ quản lý kiến có nhiệm vụ tạo ra ba loại gói tin kiến, đó là gói kiến tiến (FANT), gói kiến lùi (BANT) và gói kiến lỗi (EANT). Bộ quản lý Kiến sắp xếp và giải mã những gói tin này khi truyền hoặc nhận chúng.
Các gói tin kiến chứa thông tin cụ thể để cung cấp tính năng định tuyến nhận biết QoS và gửi pheromone trên các con đường mà chúng đã đi qua. Tất cả các gói tin dữ liệu và gói tin kiến đều chứa một định danh FlowID duy nhất. Mỗi FlowID cho phép nó xác định nút nguồn, nút đích và giá trị bộ đếm để xác định luồng dữ liệu hoặc luồng FlowLabel. Ngoài ra, gói tin kiến còn chứa có một số trường cụ thể liên quan đến các tham số QoS của luồng trên đường nó đi qua.
Loại gói tin kiến thứ nhất là gói FANT. Gói này có ba trường đặc biệt là QP, QPdesired và FantStack. Ý nghĩa cụ thể của các trường này như sau: Trường QP: là tham số QoS đại diện cho trễ đầu cuối (𝐷) và tỷ lệ truyền thành công dự kiến (𝑆) được tổng hợp từ tất cả các nút mà gói đã đi qua. Trường QPdesired: đại diện cho các yêu cầu QoS từ người dùng về băng thông tối thiểu (𝐵min), độ trễ tối đa (𝐷max) và tỷ lệ truyền thành công dự kiến tối thiểu (𝑆𝑚in).
Trường FantStack: chứa địa chỉ IP của tất cả các nút đã đi qua. Loại gói tin kiến thứ hai là BANT, cũng có ba trường đặc biệt là QP, QPresidual và BantStack. Ý nghĩa cụ thể của các trường này như sau: Trường QP: là tham số QoS đại diện cho băng thông khả dụng tối thiểu (B), trễ đầu cuối (𝐷) và tỷ lệ truyền thành công dự kiến (𝑆) được tổng hợp từ tất cả các nút mà gói đã đi qua. 15 Trường QPresidual: đại diện cho giá trị còn dư của các tham số QoS bao gồm băng thông còn lại (QB), độ trễ đầu cuối còn lại (QD) và tỷ lệ truyền thành công dự kiến còn lại (QS).
Trường FantStack: chứa địa chỉ IP của tất cả các nút đã đi qua do FANT thu thập. Loại gói tin kiến thứ ba là EANT. Gói này chỉ có một trường là EantStack chứa FlowID cho tất cả các nút đích hoặc luồng bị ảnh hưởng. Bảng láng giềng QoRA Trong bảng láng giềng, mỗi nút láng giềng (lân cận) được lưu trữ cùng với giá trị pheromone tương ứng.
Pheromone ij cho biết mức độ tốt của liên kết từ nút 𝑖 đến nút 𝑗. Từ đó nó cho biết số lượng gói đã chọn liên kết này để di chuyển qua vì khi mỗi gói BANT hoặc gói dữ liệu đi qua một liên kết, nó sẽ tăng lượng pheromone tích lũy theo Công thức (1). 𝜏𝑖𝑗 = (1 − 𝜌)𝜏𝑖𝑗 + ∆𝑖𝑗 (1) Từ thế giới thực, pheromone của loài kiến là một chất hóa học dễ bay hơi nên hiện tượng này đã được mô hình hóa bằng này bằng hệ số phân rã , được định nghĩa là khoảng thời gian gửi một gói dữ liệu tại nút 𝑖 và nhận thành công gói dữ liệu tại nút 𝑗. Bảng định tuyến QoRA Bảng định tuyến QoRA chứa các tuyến đường tới các đích xác định theo một luồng nào đó và được sử dụng để chuyển tiếp gói dữ liệu.
Nhiều đường có thể sử dụng cùng một luồng trong bảng định tuyến. Một điểm truy cập trong bảng định tuyến chứa thông tin về một tuyến đường từ nút 𝑖 đến nút đích 𝑑 qua nút láng giềng 𝑗. Mỗi điểm truy cập dành cho 16 một nút đích được liên kết với một danh sách các nút láng giềng phù hợp. Mục nhập bảng định tuyến chứa các trường sau: FlowID: định danh luồng NextHop: địa chỉ nút láng giềng tiếp theo đi trên đường QP: tham số chất lượng dịch vụ QP QPThreshold: giá trị ngưỡng QoS 𝜂ijd: hệ số heristic, được xác định theo công thức (2) 𝒫ijd: giá trị xác suất phản ánh khả năng gói dữ liệu được chuyển tiếp theo đường này.
𝛽 𝛽 [𝐵𝑖𝑗𝑑 ] 𝐵 ×[𝑆𝑖𝑗𝑑 ] 𝑆 𝜂𝑖𝑗𝑑 = 𝛽 (2) [𝐷𝑖𝑗𝑑 ] 𝐷 Hệ số heuristic được tính theo Công thức 2. Theo đó, quyết định QoRA được xây dựng trên ba ràng buộc QoS là băng thông (𝐵), độ trễ (𝐷) và tỷ lệ truyền thành công dự kiến (𝑆); được tính toán dựa trên sự hợp tác với tác nhân SNMP. Trong đó, βB, βS và βD là các tham số điều chỉnh của băng thông, tỷ lệ thành công dự kiến và độ trễ tương ứng. Xác suất 𝒫ijd được tính toán dựa trên giá trị pheromone và hệ số heuristic theo Công thức (3) 𝛼 𝛽 [𝜏𝑖𝑗 ] ×[𝜂𝑖𝑗𝑑 ] 𝒫𝑖𝑗𝑑 = 𝛼 𝛽 (3) ∑𝑙∈𝑁 [𝜏𝑖𝑗 ] ×[𝜂𝑖𝑗𝑑 ] 𝑖 trong đó 𝑁𝑖 là tập các nút láng giềng của nút 𝑖 và 𝑙 là nút kế tiếp trên con đường từ nút 𝑖 đi tới nút đích 𝑑.
Các tham số 𝛼 và 𝛽 lần lượt là tham số điều chỉnh của pheromone và hệ số heuristic. Xác suất của tất cả các nút láng giềng có đường đi đến nút d có tổng bằng 1. 17 Như vậy, thông tin trong bảng định tuyến này bao gồm thông tin QoS về tuyến đường. Tuy nhiên, mỗi điểm truy cập trong bảng định tuyến cho một đích chỉ được cập nhật tại một nút sau khi nhận được một gói BANT từ nút đích.
Dựa vào bảng định tuyến, lưu lượng dữ liệu sẽ được phân phối theo xác suất cho từng nút láng giềng trong bảng định tuyến. Máy ra quyết định QoRA Khối quan trọng nhất trong thực thể QoRA chính là Máy quyết định QoRA. Nó gửi các gói tin kiến khác nhau qua Bộ quản lý gói tin kiến; cập nhật Bảng định tuyến và Bảng láng giềng dựa trên các tham số QoS và thông tin được thu thập bởi các gói tin kiến; gửi các tham số QoS thu được tới Bộ quản lý QoS để giao tiếp với Đại lý SNMP cục bộ. Bộ quản lý QoS Đây là một mô-đun phần mềm chịu trách nhiệm cho các ứng dụng tạo lệnh và nhận thông báo ứng dụng.
Bộ quản lý này giao tiếp với Tác nhân SNMP để lấy hoặc sửa đổi thông tin quản lý. Bộ quản lý QoS gọi một trong các thao tác SNMP sau: lấy, đặt và nhận thông báo. Ngoài ra, nó chịu trách nhiệm tính toán các thông số QoS cục bộ dựa trên giao tiếp với tác nhân SNMP. Thực thể SNMP Giao thức SNMP là giao thức quản lý mạng được chuẩn hóa lần đầu tiên vào năm 1988 và hiện có sẵn trong phiên bản 3.
Đây là một giao thức ứng dụng nằm trên UDP, được sử dụng để truy xuất thông tin quản lý từ một thực thể quản lý được gọi là tác tử SNMP. Hai thành phần chính của giao thức SNMP là Tác tử SNMP và Cơ sở thông tin quản lý MIB. Tác tử SNMP 18 Tác tử SNMP thường có sẵn trên mọi nút có kết nối mạng. Nó cho phép thu thập thông tin liên quan đến nút này.
Để lựa chọn các liên kết theo yêu cầu QoS, cần có thông tin chi tiết về đặc điểm của các liên kết. Chúng có thể được xác định bằng cách sử dụng các phép đo, nhưng điều này sẽ gây ra thêm lưu lượng truy cập ảnh hưởng đáng kể đến các đặc tính của các liên kết.