LỜI MỞ ĐẦU 1. Lý do nghiên cứu đề tài Nền kinh tế toàn cầu trong thế kỷ 21 không ngừng biến động, những sự kiện kinh tế lớn chưa bao giờ đặt ra nhiều cơ hội xen lẫn thách thức như hiện nay. Đơn cử như đối với Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương - TPP đã được ký kết chính thức vào ngày 04/02/2016, dự kiến có hiệu lực từ năm 2018 với mục tiêu chính là xóa bỏ các loại thuế và rào cản cho hàng hóa, dịch vụ xuất nhập khẩu giữa các nước thành viên; đồng thời thống nhất nhiều quy tắc chung về sở hữu trí tuệ, chất lượng thực phẩm hay an toàn lao động,… Xa hơn là Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc (VKFTA) được ký kết vào ngày 05/05/2015 chính thức có hiệu lực ngày 20 tháng 12 năm 2015 tạo điều kiện để Hàn Quốc xóa bỏ cho Việt Nam 11.679 dòng thuế (chiếm 95,44% biểu thuế) và Việt Nam xóa bỏ 8.521 dòng thuế cho Hàn Quốc (89,15% biểu thuế). Nhìn qua những sự kiện kinh tế kể trên, chúng ta có thể thấy sân chơi quốc tế đang được san phẳng hơn bao giờ hết, điều đó có nghĩa là những công ty, tập đoàn trong nước sẽ dễ dàng tham gia vào thị trường nước ngoài.
Nhưng thật không may là chiều ngược lại cũng như vậy, các doanh nghiệp Mỹ, Hàn Quốc hay Trung Quốc với nhiều năm kinh nghiệm cùng trang thiết bị hiện đại, công nghệ tiên tiến cũng sẽ gia nhập nhanh chóng vào thị trường trong nước, từ đó gây sức ép lên doanh nghiệp nội địa về những yếu tố như chi phí sản xuất, giá cả, chất lượng sản phẩm hay thậm chí là chế độ hậu mãi, bảo hành,… Khi cơ hội lớn xuất hiện đồng nghĩa với việc các công ty gia tăng mạo hiểm và chấp nhận rủi ro cao. Như một hệ quả tất yếu, nếu không thể chịu nổi áp lực từ đối thủ cạnh tranh hay bước những bước đi sai lầm thì phá sản dường như sẽ là dấu chấm hết cho các doanh nghiệp yếu kém. Wruck (1990) cho rằng mỗi công ty đều sẽ có 3 giai đoạn 2 phải trải qua trước khi bị xem là đã chết bao gồm: kiệt quệ tài chính, vỡ nợ và phá sản. Do đó, những vấn đề xoay quanh kiệt quệ tài chính luôn là quan tâm hàng đầu trong chiến lược kinh doanh của mỗi công ty, đồng thời cũng là trọng tâm trong bài nghiên cứu này.
Nghiên cứu kiệt quệ tài chính đã được rất nhiều tác giả thực hiện cả ở Việt Nam và trên thế giới. Tuy nhiên các nghiên cứu ở Việt Nam cho tới nay, việc khai thác mối liên hệ giữa kiệt quệ tài chính và mô hình định giá quyền chọn Black-Scholes-Merton của Merton (1974) còn khá mới mẻ, mà điều này đang là một hướng đi mới cho các nhà nghiên cứu về kiệt quệ tài chính. Do đó trong bài nghiên cứu, tôi sẽ áp dụng hướng đi mới này để xác định kiệt quệ tài chính. Trong thực tế, đôi khi việc kiệt quệ tài chính xảy ra là không thể tránh khỏi do những yếu tố từ môi trường vĩ mô, do cạnh tranh khốc liệt từ đối thủ ngoại quốc.
Vậy nên tôi cũng sẽ tập trung vào sự phục hồi khi căn bệnh này xảy ra. Miller và Friesen (1984) chỉ ra rằng mỗi công ty đều trải qua các giai đoạn khác nhau trong vòng đời để tồn tại và phát triển bao gồm: sinh trưởng, phát triển, ổn định và suy thoái. Công ty ở mỗi giai đoạn sẽ có những đặc tính khác nhau, điều này bắt buộc những nhà quản trị phải nắm bắt rõ tình hình trước khi đưa ra quyết định nhằm tránh đưa công ty tới bờ vực phá sản. Một điểm thú vị của bài nghiên cứu này chính là xem xét việc phục hồi của các công ty dựa trên vòng đời để qua đó hy vọng cung cấp thêm giải pháp tổng quát hơn cho các doanh nghiệp tại Việt Nam khi đối mặt với kiệt quệ tài chính.
Đặc biệt hơn, Sudarsanam & Lai (2001) cho rằng quá trình phục hồi của công ty khi gặp kiệt quệ tài chính được thể hiện qua bốn chiến lược liên quan tới quản trị, hoạt động, tài sản và tài chính được gọi là bốn chiến lược phục hồi. Mỗi chiến lược phục hồi phối hợp với từng công ty theo các giai đoạn phát triển khác nhau có lẽ sẽ mang lại 3 những kết quả đáng kể khác nhau, đó cũng là mục tiêu tiếp theo mà bài nghiên cứu theo đuổi. Vì vậy, tôi đã thực hiện nghiên cứu này đối với các công ty niêm yết trên thị trường Việt Nam. Mặc dù dữ liệu được thu thập từ năm 2007 nhưng do phải sử dụng một năm (năm 2007) vào mục đích tính toán, nên khung thời gian của đề tài sẽ trải dài từ năm 2008 đến 2015.
Mục đích chính của bài nghiên cứu là nhằm tìm ra đâu là những chiến lược hiệu quả nhất giúp các doanh nghiệp phục hồi sau kiệt quệ tài chính. Với mô hình hồi quy nhị phân logit cùng phương pháp bootstrap, tôi sẽ trình bày về xác suất các chiến lược được áp dụng cũng như khả năng chiến lược đó mang lại sự hồi phục cho công ty. Nội dung còn lại của đề tài sẽ được cấu trúc như sau: Phần 2 sẽ trình bày tổng quan về lý thuyết vòng đời doanh nghiệp, kiệt quệ tài chính và những chiến lược phục hồi. Phần 3 sẽ trình bày thống kê mô tả về dữ liệu của bài nghiên cứu.
Phần 4 là các kết quả thực nghiệm. Phần 5 trình bày hiệu quả của các chiến lược phục hồi. Phần 6 sẽ là kết luận. Mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu này có ba mục tiêu chính, bao gồm: Xem xét mối quan hệ giữa yếu tố vòng đời (sinh trưởng, phát triển, ổn định, suy thoái) và các chiến lược phục hồi (quản trị, hoạt động, tài sản và tài chính) mà doanh nghiệp sẽ thực hiện khi đối mặt với kiệt quệ tài chính.
Phân tích khả năng hồi phục của doanh nghiệp kiệt quệ khi họ sử dụng các chiến lược phục hồi ở các giai đoạn phát triển khác nhau. 4 Chứng minh rằng việc áp dụng “càng nhiều càng tốt” các chiến lược phục hồi của doanh nghiệp kiệt quệ đôi khi sẽ phản tác dụng. Giả thuyết nghiên cứu Tương ứng với ba mục tiêu kể trên, bài nghiên cứu kiểm định năm giả thuyết sau: H1 : Công ty có giai đoạn phát triển càng trẻ thì càng có xu hướng ít thay đổi CEO khi kiệt quệ tài chính xảy ra. H2 : Yếu tố vòng đời có tác động đến việc công ty lựa chọn các chiến lược hoạt động hay tài sản khi đối mặt với kiệt quệ tài chính.
H3 : Yếu tố vòng đời có tác động đến việc công ty lựa chọn các chiến lược tài chính khi rơi vào kiệt quệ tài chính. H4 : Các chiến lược phục hồi có giúp công ty hồi phục khi đối mặt với kiệt quệ tài chính. o H4A : Các chiến lược quản trị có giúp công ty phục hồi khi bị kiệt quệ tài chính. o H4B : Các chiến lược hoạt động hay tài sản có giúp công ty phục hồi khi bị kiệt quệ tài chính.
o H4C : Các chiến lược tài chính có giúp công ty phục hồi khi bị kiệt quệ tài chính. H5 : Việc áp dụng cùng lúc nhiều chiến lược phục hồi có giúp cải thiện khả năng phục hồi của các doanh nghiệp kiệt quệ. Phạm vi nghiên cứu Bài nghiên cứu sẽ tập trung vào các doanh nghiệp được niêm yết tại Việt Nam trên hai sàn giao dịch chứng khoán lớn nhất của khu vực Hà Nội và Hồ Chí Minh là HNX và HOSE trong giai đoạn 2007-2015. Đối tƣợng nghiên cứu Bài nghiên cứu tập trung vào việc xác định kiệt quệ tài chính dựa trên khoảng cách vỡ nợ (DD) của Merton (1974); xác định các giai đoạn phát triển của doanh nghiệp dựa trên nghiên cứu của Anthony và Ramesh (1992); cùng với đó là các yếu tố thuộc về năng lực nội tại của doanh nghiệp để thực hiện các chiến lược phục hồi.
Phƣơng pháp nghiên cứu Bài nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy nhị phân logit với phương pháp bootstrap. Mô hình nghiên cứu Với ba mục tiêu nghiên cứu ở trên, tôi sẽ phân tích kết quả hồi quy của 3 mô hình như sau: Để xem xét mối quan hệ giữa yếu tố vòng đời và các chiến lược phục hồi doanh nghiệp sẽ thực hiện khi đối mặt với kiệt quệ tài chính, tôi dùng mô hình (1): Restructuringit = α1 + α2Birthit + α3Growthit + α4Matureit + α5FDit + α6Birth*FDit + α7Growth*FDit + α8Mature*FDit + α9TobinsQit + α10LnTAit + α11Instiit + α12Volit + α13Retuit + α14Levit + α15CFit + εi (1) Trong đó, biến phụ thuộc Restructuringit sẽ lần lượt được thay thế bởi các biến đại diện cho các chiến lược phục hồi như: CEO, ASSET, INV, COGS, EMP, DIV, NetD và NetE. Để phân tích khả năng hồi phục của doanh nghiệp kiệt quệ khi họ sử dụng các chiến lược phục hồi ở các giai đoạn phát triển khác nhau, tôi dùng mô hình (2) với biến phụ thuộc là sự hồi phục của doanh nghiệp kiệt quệ: Recoi = α1 + α2BirthiFD + α3GrowthiFD + α4MatureiFD + α5RestructuringsiFD + α6Birth*RestructuringsiFD + α7Growth*RestructuringsiFD + 6 α8Mature*RestructuringsiFD + α9TobinsQiFD + α10LnTAiFD + α11InstituiFD + α12VoliFD + α13RetuiFD + α14LeviFD + α15CFiFD + εi (2) Để chứng minh rằng việc áp dụng càng nhiều càng tốt các chiến lược phục hồi của doanh nghiệp kiệt quệ đôi khi sẽ phản tác dụng, tôi sử dụng mô hình (3) với biến phụ thuộc vẫn là sự hồi phục của doanh nghiệp nhưng trong điều kiện sử dụng cùng lúc nhiều chiến lược phục hồi (biến Numstrategies): Recoi = α1 + α2BirthiFD + α3GrowthiFD + α4MatureiFD + α5NumstrategiesiFD + α6Birth*NumstrategiesiFD + α7Growth*NumstrategiesiFD + α8Mature*NumstrategiesiFD + α9TobinsQiFD + α10LnTAiFD + α11InstituiFD + α12VoliFD + α13RetuiFD + α14LeviFD + α15CFiFD + εi (3) CHƢƠNG 2. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT Như đã trình bày trong phần phạm vi nghiên cứu, bài nghiên này tôi tập trung tìm hiểu về lý thuyết vòng đời doanh nghiệp, cách xác định vòng đời một doanh nghiệp cũng như kiệt quệ tài chính và cách xác định kiệt quệ tài chính; bên cạnh đó là l thuyết về các chiến lược phục hồi được các công ty áp dụng trong những giai đoạn phát triển khác nhau.
Lý thuyết vòng đời doanh nghiệp Trong khoảng 30 năm trở lại đây, l thuyết vòng đời doanh nghiệp đã được áp dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực bởi nhiều tác giả nổi tiếng, cụ thể như: kinh tế vi mô (Mueller, 1972), quản lý (Miller & Friesen, 1984), kế toán (Black, 1998 và Dickinson, 2005) và tài chính (Berger & Udell, 1998 và Rocha Teixeira & Coutinho dos Santos, 2005).