Chương 1: Giới thiệu 1.1 Lý do chọn đề tài: Dự báo kiệt quệ tài chính và phá sản là một vấn đề ngày càng thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư, các chủ nợ và các nhà quản lý. Việc xác định khi nào một công ty rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính là một điều hết sức cần thiết, bởi vì nó giúp cho các nhà quản lý đưa ra các quyết sách phù hợp nhằm duy trì hoạt động và thúc đẩy công ty tiếp tục phát triển. Giúp cho các nhà đầu tư và các chủ nợ có một thước đo đầy đủ đánh giá mức độ rủi ro mà họ đang gánh chịu khi công ty rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính. Các nghiên cứu trước đây về kiệt quệ tài chính đa phần sử dụng dữ liệu được thu thập từ các báo cáo tài chính, nguồn dữ liệu này đại diện cho các yếu tố nội tại của công ty và các dữ liệu từ thu thập từ thị trường niêm yết như: giá, tỷ suất sinh lời cổ phiếu, vốn hóa thị trường… để dự báo xác suất kiệt quệ tài chính của các công ty.
Bên cạnh việc sử dụng các yếu tố nội tại và yếu tố thị trường trong dự báo xác suất kiệt quệ của công ty, một số nghiên cứu gần đây đã sử dụng kết hợp thêm yếu tố kinh tế vĩ mô. Kết quả nghiên cứu và so sánh khả năng dự báo của các mô hình cho thấy sự kết hợp ba nhóm yếu tố: yếu tố nội tại, yếu tố thị trường và yếu tố kinh tế vĩ mô sẽ góp phần nâng cao độ chính xác trong mô hình dự báo khả năng kiệt quệ tài chính của công ty. Hầu hết các nghiên cứu nổi tiếng về kiệt quệ tài chính đều được thực hiện tại Mỹ và các nước châu Âu. Tại Việt Nam, chủ đề nghiên cứu này vẫn còn mới và chỉ được thực hiện bởi một số ít các nhà nghiên cứu trong nước.
Xuất phát từ những thực tại cấp thiết nói trên, tác giả thực hiện nghiên cứu này nhằm tìm ra một mô hình dự báo kiệt quệ tài chính chính xác và phù hợp cho các công ty niêm yết tại thị trường chứng khoán Việt Nam. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Mục tiêu nghiên cứu: Các nghiên cứu về kiệt quệ tài chính trước đây chủ yếu xem xét các nhân tố được thu thập từ dữ liệu sổ sách và dữ liệu thị trường. Bài nghiên cứu của tác giả thực hiện kết hợp các biến sổ sách, biến thị trường và biến kinh tế vĩ mô vào một mô hình dự báo kiệt quệ tài chính. Tác giả thực hiện bài nghiên cứu này nhằm đi tìm một bằng chứng thực nghiệm cho thấy tính hiệu quả của việc kết hợp các biến số tỷ số tài chính, biến số thị trường và biến số kinh tế vĩ mô vào mô hình dự báo tình trạng kiệt quệ tài chính.
Nghiên cứu này phát triển mô hình dự báo tình trạng kiệt quệ tài chính cho các công ty niêm yết tại SGDCK Tp. Hồ Chí Minh (HSX) và SGDCK Hà Nội (HNX). Để làm rõ mục tiêu nghiên cứu nói trên, Tác giả cần giải quyết ba vấn đề như sau: Cách xác định thế nào là một công ty kiệt quệ tài chính ? Các nhân tố nào tác động đến khả năng kiệt quệ tài chính của công ty ? Xây dựng một mô hình phù hợp kết hợp các yếu tố tài chính, yếu tố thị trường và yếu tố kinh tế vĩ mô để dự báo khả năng kiệt quệ tài chính ? 1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Nhằm xây dựng một mô hình dự báo tình trạng kiệt quệ tài chính bằng mô hình hồi quy Logistic với dữ liệu bảng sử dụng kết hợp biến tỷ số tài chính, biến chỉ số thị trường và biến chỉ báo kinh tế vĩ mô cho các công ty niêm yết tại Việt Nam. Tác giả chọn mẫu nghiên cứu là các công ty phi tài chính niêm yết trên Sở GDCK TP.
Hồ Chí Minh (HSX) và Sở GDCK Hà Nội (HNX). Dữ liệu nghiên cứu được lấy theo năm và phạm vi nghiên cứu được giới hạn trong khoảng thời gian từ năm 2008 đến 2013.4 Phương pháp nghiên cứu: Trong nghiên cứu này, tác giả phân loại các quan sát thành hai loại: Các quan sát rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính được gán giá trị biến phụ thuộc là 1 và những quan sát không bị kiệt quệ tài chính được gán giá trị biến phụ thuộc là 0. Để giải quyết TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 vấn đề biến phụ thuộc là biến nhị phân, tác giả sử dụng mô hình hồi quy Logistic trong luận văn này. Bài nghiên cứu xem xét khả năng dự báo kiệt quệ tài chính của các công ty thông qua biến tỷ số tài chính, biến thị trường và biến kinh tế vị mô với các công ty trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Mẫu nghiên cứu bao gồm 573 công ty phi tài chính được niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán Hồ Chí Minh và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội trong giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2013.5 Kết cấu của đề tài: Bài nghiên cứu bao gồm 5 phần: Phần 1 – Giới thiệu. Trong phần này, tác giả trình bày tổng quan các vấn đề của bài nghiên cứu như: lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và bố cục của bài nghiên cứu. Phần 2 – Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu trước đây về kiệt quệ tài chính. Tác giả xây dựng phần này với mục đích cung cấp một cái nhìn tổng quan và xuyên suốt về quá trình phát triển của những nghiên cứu thực nghiệm về dự báo tình trạng kiệt quệ tài chính trên thế giới.
Từ đó có một sự định hướng rõ ràng hơn trong việc xây dựng phương pháp nghiên cứu và lựa chọn các biến số trong mô hình dự báo kiệt quệ tài chính cho trường hợp tại Việt Nam. Phần 3 – Thực trạng kiệt quệ tài chính của các công ty niêm yết tại Thị trường Chứng khoán Việt Nam. Phần này cung cấp một cái nhìn tổng quát về tình trạng của các công ty kiệt quệ tài chính với các trường hợp thực tế tại thị trường chứng khoán Việt Nam. Phần 4 – Mô hình nghiên cứu.
Phần này cung cấp một cách chi tiết về mô hình nghiên cứu, nguồn dữ liệu cho luận văn cũng như cách xác định các biến số và các kỳ vọng về dấu của biến số được sử dụng trong luận văn. Ngoài ra, tác giả cũng tiến hành thống kê mô tả và phân tích tương quan các biến số trong mô hình hồi quy. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 Cuối cùng, Tác giả trình bày các kết quả từ mô hình hồi quy Logistic, các kiểm định liên quan nhằm đánh giá mức độ chính xác trong mô hình dự báo. Phần 5 – Giải pháp và kiến nghị.
Thông qua kết quả nghiên cứu và tình trạng thực tế của các công ty kiệt quệ tài chính tại Việt Nam, Tác giả đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm giúp các nhà quản trị và nhà hoạch định chính sách có những quyết định chính xác hơn. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Chương 2: Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu trước đây về kiệt quệ tài chính 2.1 Tổng quan lý thuyết: 2.1 Các định nghĩa về kiệt quệ tài chính: Thuật ngữ “kiệt quệ tài chính” mang một ý nghĩa tiêu cực, miêu tả tình hình tài chính của công ty đang phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt thanh khoản tạm thời, từ đó gây ra những khó khăn trong việc thực hiện một phần hay toàn bộ các nghĩa vụ tài chính của công ty theo kế hoạch. Kiệt quệ tài chính thường được đánh đồng với các thuật ngữ: không thực hiện nghĩa vụ thanh toán (default), thất bại (failure), mất khả năng thanh toán (insolvency) hay phá sản (bankruptcy). Beaver (1966) là một trong những nhà nghiên cứu đầu tiên chỉ ra rằng kiệt quệ tài chính có thể xuất hiện dưới các hình thức khác nhau như: phá sản, không thực hiện nghĩa vụ thanh toán trái phiếu hay không thanh toán cổ tức cổ phần ưu đãi.
Andrade và Kaplan (1998) xác định hai hình thức của kiệt quệ tài chính: thứ nhất là không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ, và thứ hai là một nỗ lực cơ cấu lại nợ để ngăn chặn tình trạng vỡ nợ. Brown, James và Mooradian (1992) phân loại công ty rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính là khi nó thực hiện các biện pháp tái cơ cấu với mục đích để tránh vỡ nợ. Opler và Titman (1994) định nghĩa kiệt quệ tài chính một cách khái quát hơn như là một sự kiện tốn kém có tác động đến các mối quan hệ giữa chủ nợ với các bên liên quan. Kết quả tất yếu là công ty khó có thể tiếp cận được với nguồn vốn mới và chịu chi phí ngày càng tăng của việc duy trì mối quan hệ này.
Gestel cùng với các đồng sự (2006) mô tả kiệt quệ tài chính là kết quả của sự thua lỗ kéo dài mà nguyên nhân là do sự gia tăng không cân xứng về công nợ kèm theo sự sụt giảm trong giá trị tài sản. Sự phát triển các lý thuyết xem kiệt quệ tài chính như là giai đoạn cụ thể trong một quá trình được bắt đầu bởi nghiên cứu của Gordon (1971). Gordon nhấn mạnh rằng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 kiệt quệ tài chính chỉ là một giai đoạn trong một quá trình mà tiếp theo sau đó là sự thất bại và tái cấu trúc. Vì vậy kiệt quệ tài chính nên được định nghĩa về mặt cấu trúc tài chính và định giá cổ phần.
Công ty rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính khi mà khả năng tạo ra lợi nhuận sụt giảm và giá trị của các khoản nợ vượt quá giá trị tổng tài sản của công ty. Kiệt quệ tài chính được đặt trưng bởi lợi suất của trái phiếu thấp hơn so với lãi suất phi rủi ro và khó khăn trong việc tiếp cận với các nguồn vốn bổ sung khác bên ngoài. Purnanandam (2005) xem xét kiệt quệ tài chính như là một tình trạng về khả năng thanh toán. Ông đã phát triển một mô hình lý thuyết về quản trị rủi ro công ty trong đó có sự xuất hiện của chi phí kiệt quệ tài chính.
Kiệt quệ tài chính được xem như là một giai đoạn trung gian giữa việc còn khả năng thanh toán và mất khả năng thanh toán. Một công ty rơi vào tình trạng kiệt quệ là khi nó không thanh toán lãi vay và vi phạm các điều khoản trên các khế ước nhận nợ.