ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam là một nƣớc có tỉ lệ thanh niên trong cơ cấu dân số cao nhất khu vực Châu Á, trong đó giới trẻ chiếm khoảng 31,5% dân số [1]. Việt Nam hiện nay đang phải đối mặt với nhiều vấn đề liên quan đến sức khỏe sinh sản (SKSS) và chăm sóc SKSS nhƣ có thai ngoài ý muốn, nạo phá thai, tệ nạn ma túy, các bệnh lây truyền qua đƣờng tình dục (STDs)… [2], [3]. Theo thống kê của Hội kế hoạch hóa gia đình, Việt Nam là một trong ba nƣớc có tỷ lệ phá thai cao nhất thế giới (1,2- 1,6 triệu ca mỗi năm), trong đó khoảng 20% thuộc lứa tuổi vị thành niên/thanh niên (VTN&TN) [4]. Nguyên nhân của thực trạng trên là do lứa tuổi VTN&TN chƣa trƣởng thành về tâm lý, xã hội; ngoài ra, môi trƣờng sống có những ảnh hƣởng tiêu cực đến nhận thức và hành vi của VTN&TN [5].
Bên cạnh đó, kiến thức, thái độ và thực hành của VTN&TN về SKSS nói chung, về việc sử dụng các biện pháp tránh thai (BPTT) nói riêng chƣa đúng, chƣa đầy đủ [6]. Nghiên cứu của Quỹ dân số Liên hợp quốc cho thấy kiến thức về các BPTT của VTN&TN Việt Nam còn hạn chế [7]. Kết quả Điều tra quốc gia về VTN&TN lần thứ 2 (SAVY2) thấy có 03 lý do chính khiến VTN&TN không sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục là: họ cảm thấy xấu hổ khi hỏi mua; sợ bị ngƣời quen nhìn thấy và không sẵn có [6]; Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Phong và cs cho thấy chỉ có 32,1% sinh viên sử dụng BPTT khi quan hệ tình dục [8]. Ngay cả với nhóm đối tƣợng VTN&TN có sử dụng BPTT khi quan hệ tình dục thì vẫn có những trƣờng hợp có thai ngoài ý muốn hoặc mắc các bệnh STDs.
Nguyễn Thanh Phong nghiên cứu tại Bệnh viện Phụ sản Trung ƣơng cho thấy có 14,1% khách hàng có sử dụng bao cao su nhƣng vẫn có thai ngoài ý muốn [9]. Nguyên nhân của sự thất bại khi sử dụng các BPTT theo nghiên cứu của Trần Thị Phƣơng Mai (2004) là do sử dụng BPTT không liên 2 tục (53,3%); sử dụng sai cách (23,8%) [10]. Điều này cho thấy VTN&TN còn thiếu kiến thức, thái độ về KHHGĐ và tránh thai; đặc biệt là những kỹ năng sử dụng các BPTT đúng và an toàn chƣa đƣợc các cán bộ y tế chuyên ngành Sản phụ khoa tập trung tƣ vấn. Vì vậy, đây là một vấn đề rất quan trọng và cấp bách, có ý nghĩa thực tiễn cao mà chuyên ngành Sản phụ khoa cần thực hiện nghiên cứu để nâng cao hơn nữa chất lƣợng các dịch vụ KHHGĐ cho ngƣời dân nói chung và đối tƣợng VTN&TN nói riêng.
Hà Nội là nơi tập trung khoảng 100 trƣờng đại học, cao đẳng, vì vậy, số lƣợng sinh viên sống và học tập tại thành phố là rất lớn. Đây cũng là nơi có sự phát triển mạnh mẽ về văn hóa, kinh tế và xã hội. Vì vậy, sinh viên phải có kiến thức, thái độ và thực hành về các BPTT nói riêng, cũng nhƣ SKSS nói chung tốt hơn. Việc can thiệp nâng cao kiến thức, thái độ và thực hành sử dụng các BPTT cũng nhƣ về SKSS cho sinh viên tại tại Hà Nội là một việc làm hoàn toàn cần thiết và phù hợp với hoàn cảnh xã hội.
Câu hỏi đặt ra là kiến thức, thái độ và thực hành của sinh viên thành phố Hà Nội về các BPTT hiện nay nhƣ thế nào? Những yếu tố nào liên quan đến kiến thức, thái độ và thực hành của sinh viên về các BPTT? Giải pháp nào để có thể nâng cao kiến thức, thái độ và thực hành của sinh viên về các BPTT? Để góp phần trả lời cho những câu hỏi này, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành về các biện pháp tránh thai của sinh viên một số trường Đại học/Cao đẳng thành phố Hà Nội và hiệu quả giải pháp can thiệp” với các mục tiêu nghiên cứu: 1. Đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành về các BPTT và một số yếu tố liên quan của sinh viên 06 trường đại học/cao đẳng thành phố Hà Nội năm 2014. Đánh giá hiệu quả một số giải pháp can thiệp tới kiến thức, thái độ và thực hành về các BPTT của sinh viên trường Cao đẳng Xây dựng số 1. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1.
Các biện pháp tránh thai Tránh thai là một nội dung quan trọng trong chăm sóc SKSS. Theo báo cáo của Liên hợp quốc, trong năm 2015, 64% phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ trên thế giới có sử dụng một BPTT, 57% sử dụng một BPTT hiện đại [11]. Tại Việt Nam, theo tổng cục Dân số- kế hoạch hóa gia đình, tỷ lệ sử dụng BPTT hiện đại và truyền thống năm 2013 lần lƣợt là 67% và 10,2% [12]. Theo báo cáo của Trung tâm nghiên cứu Dân số và sức khỏe nông thôn (2006), dụng cụ tử cung là biện pháp đƣợc nhiều ngƣời sử dụng nhất (32,3%), tiếp đến là thuốc tránh thai (15,2%) và bao cao su (14,4%) [13].
Các BPTT đƣợc chia làm 2 loại chính là: các BPTT hiện đại và các BPTT truyền thống. Các biện pháp tránh hiện đại 1. Bao cao su * Đại cương: Bao cao su (BCS) là BPTT an toàn, có hiệu quả phòng chống HIV/AIDS và STDs. BCS đƣợc dùng nhiều ở các nƣớc phát triển (13%) hơn các nƣớc đang phát triển (3%) [14].
Nếu sử dụng BCS đúng, khả năng có thai khi dùng là 3% (thất bại đặc hiệu của phƣơng pháp). Tuy nhiên, nếu sử dụng không đúng và không thƣờng xuyên, tỷ lệ này lên đến 14% (thất bại do ngƣời sử dụng) [14]. Đa số BCS hiện nay đƣợc làm bằng nhựa latex hoặc polyurethane. BCS bằng polyurethane nhạy cảm hơn BCS bằng latex nhƣng tỷ lệ thủng và tuột cao hơn (lần lƣợt là 7,2% và 3,6% so với 1,1% và 0,6%) [15].
* Cơ chế tác dụng: Bao cao su có tác dụng chứa và ngăn không cho tinh trùng vào âm đạo nên không xảy ra quá trình thụ tinh [15]. Một số loại bao cao su [11] * Chỉ định và chống chỉ định: + Chỉ định: dùng cho tất cả các trƣờng hợp muốn tránh thai; phòng chống HIV/AIDS và STDs; là biện pháp tránh thai hỗ trợ (những ngày đầu sau thắt ống dẫn tinh, quên uống thuốc tránh thai). + Chống chỉ định: dị ứng với latex (đối với loại bao cao su có latex) hoặc các thành phần có trong bao cao su [16], [17]. * Ưu điểm và hạn chế: + Ƣu điểm: hiệu quả tránh thai cao 99%; phòng chống STDs và HIV/AIDS; an toàn, không có tác dụng phụ; dễ sử dụng; có thể sử dụng bất cứ thời gian nào; giúp nam giới có trách nhiệm KHHGĐ; tiện lợi khi muốn tránh thai tạm thời; có sẵn, nhỏ gọn có thể mang theo ngƣời; rẻ tiền [16].
+ Hạn chế: phải luôn sẵn có; có thể bị tuột, rách trong khi đang giao hợp nếu bảo quản không tốt; có một số trƣờng hợp dị ứng với cao su; một số cặp vợ chồng than phiền về mức độ giảm khoái cảm; đối với bao cao su nữ, ngƣời dùng phải biết cách sử dụng tốt thì mới tránh đƣợc thất bại [18], [19]. * Cách sử dụng và bảo quản: - Kiểm tra trƣớc về sự nguyên vẹn của bao cao su và hạn sử dụng. - Mỗi lần giao hợp đều phải sử dụng bao cao su mới. - Bảo quản bao cao su: để nơi thoáng mát và tránh ánh sáng.
- Xé vỏ bao đúng cách, lấy bao ra khỏi vỏ. - Luôn để vành cuộn của bao ra ngoài, lùa khí ra khỏi đầu bao. 5 - Lồng bao cao su vào dƣơng vật đang cƣơng trƣớc khi giao hợp. - Tháo cuộn vành bao lên tới gốc dƣơng vật, không cần kéo căng.
- Sau khi xuất tinh, rút dƣơng vật ra lúc còn cƣơng, giữ chặt vành bao cao su ở gốc dƣơng vật trong khi rút dƣơng vật ra để bao khỏi bị tuột và tinh dịch không trào ra ngoài. - Chỉ sử dụng mỗi bao cao su 1 lần. * Những sự cố khi sử dụng và cách xử trí: + Nếu bao cao su bị rách: Rửa dƣơng vật và âm hộ bằng nƣớc sạch hoặc thuốc diệt tinh trùng (nếu có). Cần áp dụng BPTT khẩn cấp nhƣ sử dụng viên thuốc tránh thai khẩn cấp.
+ Nếu có ngứa hoặc nổi ban tại bộ phận sinh dục: Đi khám để đƣợc các nhân viên y tế tƣ vấn. + Nam giới không duy trì được độ cương khi mang hoặc sử dụng bao cao su: Thƣờng do bối rối, chƣa quen sử dụng. Có thể dùng bao cao su có chất bôi trơn hoặc sử dụng nƣớc/chất bôi trơn bên ngoài bao [20], [21]. Thuốc tránh thai Đây là BPTT đƣợc sử dụng rộng rãi, khoảng 20% phụ nữ sử dụng thuốc tránh thai ở các nƣớc phát triển, 28% ở châu Mỹ và 50% ở Bắc Phi [17].
Cơ chế tác dụng: ức chế phóng noãn; ức chế phát triển nội mạc tử cung; làm đặc chất nhầy cổ tử cung ngăn tinh trùng xâm nhập vào buồng tử cung [22]. * Thuốc viên tránh thai kết hợp: Hình 1. Một số loại viên thuốc tránh thai hàng ngày [11] 6 + Đại cương: Viên thuốc tránh thai (VTTT) có chứa 2 loại nội tiết là estrogen và progestin đƣợc gọi là VTTT kết hợp. Đây là BPTT tạm thời, không giúp ngăn ngừa STDs và HIV/AIDS [20].
+ Chỉ định và chống chỉ định: - VTTT kết hợp đƣợc chỉ định cho phụ nữ muốn sử dụng một BPTT hiệu quả cao và không có chống chỉ định. - Chống chỉ định: có thai hoặc nghi ngờ có thai; đang cho con bú trong vòng 6 tuần sau sinh; lớn tuổi (≥ 35 tuổi) và hút thuốc ≥ 15 điếu/ngày; có nguy cơ bị bệnh mạch vành; tăng huyết áp nặng. + Ưu điểm và hạn chế: - Ƣu điểm: tránh thai theo thời hạn tùy mong muốn; hiệu quả tránh thai cao (khoảng 99%); an toàn cho phần lớn phụ nữ; có thể có thai sau khi dừng thuốc; giảm nguy cơ mắc: ung thƣ phụ khoa, chửa ngoài tử cung; tạo vòng kinh đều; có thể sử dụng ở bất kỳ tuổi nào; không ảnh hƣởng đến tình dục. - Hạn chế: phải phụ thuộc vào việc phải uống hàng ngày; phải có dịch vụ cung cấp thuốc đầy đủ, đều đặn; làm giảm tiết sữa khi cho con bú; có một số tác dụng không mong muốn thƣờng gặp trong 3 tháng đầu; không phòng tránh đƣợc STDs [20], [23].
+ Thời điểm sử dụng: - VTTT kết hợp đƣợc uống trong vòng 5 ngày đầu tiên của chu kỳ kinh hoặc ở bất cứ thời điểm nào nếu biết chắc là không có thai. - Uống mỗi ngày 1 viên, vào giờ nhất định.