ĐẶT VẤN ĐỀ Hóa chất bảo vệ thực vật (HCBVTV) là hóa chất độc hại được sử dụng trong nông nghiệp. Nếu sử dụng một cách hợp lý thì HCBVTV sẽ góp phần đáng kể trong bảo vệ mùa màng, cải thiện chất lượng nông sản. Tuy nhiên, nếu sử dụng một cách bừa bãi, thiếu ý thức, thiếu các biện pháp an toàn thì sẽ là nguy cơ lớn cho sức khoẻ con người và hệ sinh thái [5]. Tại Việt Nam từ 2000 - 2011 số lượng HCBVTV sử dụng tăng 2,5 lần, số loại hóa chất nhập khẩu tăng khoảng 3,5 lần.
Trong năm 2010 lượng hóa chất Việt Nam sử dụng bằng 40% mức sử dụng trung bình của 4 nước lớn dùng nhiều HCBVTV trên thế giới (Mỹ, Pháp, Nhật, Brazin) trong khi GDP của Việt Nam chỉ bằng 3,3% GDP trung bình của những nước này [33]. Danh mục HCBVTV được phép sử dụng ở Việt Nam đến năm 2013 đã lên tới 1.643 hoạt chất, trong khi các nước trong khu vực chỉ có khoảng từ 400 đến 600 loại hoạt chất, như Trung Quốc 630 loại, Thái Lan, Malaysia 400-600 loại [11]. Theo thống kê của Cục Y tế dự phòng Việt Nam năm 2008 có 6.807 vụ nhiễm độc hóa chất bảo vệ thực vật với 7.572 trường hợp được cứu sống và 137 trường hợp tử vong, đa số trường hợp này là do nhiễm độc HCBVTV vì không sử dụng trang thiết bị BHLĐ, có một số ít là do uống nhầm[13]. Tính bình quân cứ 1 tấn thuốc BVTV sử dụng có 1,3 người bị nhiễm độc nặng và cứ 21,42 tấn thuốc BVTV sử dụng thì có 1 người tử vong [7].
Mặc dù trong những năm qua công tác chăm sóc sức khoẻ người lao động ở Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả đáng kể nhưng sức khoẻ người lao động nông nghiệp thực sự là vấn đề còn bỏ ngỏ. Chăm sóc và nâng cao sức khoẻ người lao động trong lĩnh vực này là một trong những vấn đề cấp bách hiện nay [13]. Tỉnh Đắk Lắk là một tỉnh vùng cao nguyên, có diện tích tự nhiên 13.125 km2, trong đó đô thị chiếm 22,5%, còn lại là nông thôn chiếm 77,5%. Đắk Lắk là một tỉnh giàu tiềm năng phát triển nông nghiệp, với tổng diện tích đất tự nhiên trên 1.500 ha, trong đó chủ yếu là loại đất đỏ Bazan trù phú rất thuận lợi cho việc phát triển sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là các loại cây công nghiệp lâu năm như: Tiêu, điều, cà phê, cao su.
và các loại cây công nghiệp ngắn ngày, rau màu và cây lương thực. Trong đó cây cà phê chiếm 57% diện tích đất nông nghiệp ở Đăk Lăk 2 và 86% diện tích các cây công nghiệp lâu năm của tỉnh, đây là địa bàn trọng điểm và chiến lược về sản xuất nông nghiệp của khu vực Miền trung - Tây Nguyên nên hầu hết các Doanh nghiệp kinh doanh HCBVTV trên lãnh thổ Việt Nam đều có sản phẩm cung ứng trên địa bàn Đắk Lắk. Theo thống kê chưa đầy đủ hiện nay trên địa bàn Đắk Lắk có mặt trên 100 chủng loại HCBVTV với nhu cầu tiêu thụ hàng năm từ 1.200 tấn HCBVTV các loại [31]. Báo cáo tình hình tai nạn thương tích năm 2014 của tỉnh Đăk Lăk có tổng cộng 1.598 ca ngộ độc và tự tử có liên quan đến HCBVTV trên toàn tỉnh [29].
Tính đến 9 tháng năm 2015 trên toàn tỉnh có 1.393 ca ngộ độc và tự tử có nguyên nhân do HCBVTV[30]. Xã Pơng Đrang huyện Krông Búk là một trọng điểm thực hiện chương trình phòng chống bệnh ung thư, theo thống kê của Trung tâm y tế huyện cho thấy trong 2 năm 2014 - 2015 có 25 ca mắc và 17 ca tử vong [28]. Thực tế các nhà khoa học cũng đề cập đến mối liên quan giữa bệnh ung thư trong cộng đồng và sử dụng HCBVTV [7], [37]. Chúng tôi đã tổ chức 1 đợt đánh giá nhanh ban đầu 10 người nông dân trồng cà phê trên địa bàn xã và kết quả thu được cho thấy: người nông dân trồng cà phê thường sử dụng HCBVTV cho cây cà phê trong mùa mưa, đây là thời gian mà quả cà phê bắt đầu phát triển, điều kiện khí hậu ẩm thấp thuận lợi cho dịch bệnh và cỏ phát triển nhanh, để đối phó với dịch bệnh và kích thích trái phát triển người dân đã sử dụng rất nhiều loại HCBVTV để phun cho cây cà phê như hóa chất diệt cỏ, hóa chất trừ sâu, rệp sáp, hóa chất tăng trưởng… Mỗi năm phun từ 1 đến 3 lần tùy theosâu bệnh và sự phát triển của cây (bình quân 22 lít các loại HCBVTV /1ha/năm).
Vậy việc sử dụng HCBVTV và thực trạng hiểu biết,thái độ của người nông dân canh tác cây cà phê về HCBVTV như thế nào? Đó là lý do chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Kiến thức, thái độ, thực hành và một số yếu tố liên quan đến sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật của người trồng cà phê tại xã Pơng Đrang, huyện Krông Búk, tỉnh Đăk Lăk năm 2016”. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả kiến thức, thái độ và thực hành về sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật trong trồng cà phê của người dân tại xã Pơng Đrang, huyện Krông Búk, tỉnh Đăk Lăk năm 2016. Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành về sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật của người dân trồng cà phê tại xã Pơng Đrang, huyện Krông Buk, tỉnh Đăk Lăk năm 2016.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan chung về HCBVTV và thực trạng sử dụng HCBVTV trên thế giới và Việt Nam 1. Hóa chất bảo vệ thực vật 1. Khái niệm: Thuốc trừ sâu hay hoá chất bảo vệ thực vật xuất phát từ thuật ngữ tiếng anh “Pesticide” có nghĩa là chất để diệt loài gây hại.
Hóa chất bảo vệ thực vật là những chất độc có nguồn gốc từ tự nhiên hay hóa chất tổng hợp được dùng để bảo vệ cây trồng và nông sản, chống lại sự phá hoại của những sinh vật gây hại[18], [19], [53]. Phân loại Có nhiều cách phân loại HCBVTV, tùy theo yêu cầu nghiên cứu và sử dụng [18]. Tuy nhiên để dễ dàng thu thập thông tin và đối tượng nghiên cứu dễ hiểu, tác giả chọn phân loại theo đối tượng phòng chống để áp dụng cho nghiên cứu này. Đối tượng phòng chống gồm thuốc trừ sâu (insecticide), thuốc trừ cỏ (herbicide), thuốc trừ bệnh (fungicide: trừ nấm, vi khuẩn), trừ chuột (rodenticide), trừ nhện (acricide, miticide), trừ tuyến trùng (nematicide), điều hòa sinh trưởng,…; Theo đường xâm nhập gồm tiếp xúc, vị độc, xông hơi, thấm sâu và nội hấp; Nguồn gốc hoá học: nguồn gốc thảo mộc, sinh học, vô cơ, hữu cơ; Cơ chế tác động: thuốc kìm hãm men cholinesterase, kìm hãm hô hấp…; Phương thức tác động: thuốc điều khiển sinh trưởng côn trùng, thuốc triệt sản, chất dẫn dụ, chất xua đuổi hay chất gây ngán; Theo các dạng thuốc: thuốc bột, thuốc nước…; Phương pháp sử dụng: thuốc dùng để phun lên cây, thuốc xử lý giống… Phân loại nhóm độc theo tổ chức Y tế thế giới (WHO): Các chuyên gia về độc học đã nghiên cứu ảnh hưởng của chất độc lên cơ thể động vật ở cạn (chuột nhà) và đã đưa ra 5 nhóm độc theo tác động của độc tố tới cơ thể qua miệng và da như sau [18]: 5 (LD50 mg/kg chuột nhà) Qua miệng Qua da Phân nhóm độc Thể rắn Thể lỏng Thể rắn Thể lỏng I.
Độc trung bình 50– 500 200– 2000 100– 1000 400– 4000 III. Độc rất nhẹ, hiếm khi gây độc (Unlikely to present a >2000 >3000 hazard in normal use) Ghi chú: LD50 là ký hiệu chỉ độ độc cấp tính của thuốc qua đường miệng hoặc qua da. Trị số của nó là liều gây chết trung bình được tính bằng miligam (mg) hoạt chất có thể gây chết 50% số động vật thí nghiệm (tính bằng kg) khi tổng lượng thể trọng của số động vật trên bị cho uống hết hoặc bị phết vào da. Giá trị LD50 càng nhỏ thì hoá chất đó càng độc.
Có thể nhận biết tính độc của thuốc bảo vệ thực vật theo dấu hiệu màu trên bao bì thuốc như sau: Vạch màu đỏ trên bao bì là thuốc độc nhóm I, thuộc loại rất độc và độc; Vạch màu vàng trên bao bì là thuốc độc nhóm II, thuộc loại độc trung bình; Vạch màu xanh trên bao bì da trời là thuốc độc nhóm III, thuộc loại ít độc; Vạch màu xanh lá cây trên bao bì là thuốc độc nhóm U, thuộc loại độc rất nhẹ [18].3 Mức độ độc của các loại HCBVTV sử dụng cho cây cà phê Nhóm và tên HC Độc mạnh Độc Độc TB Độc ít Nhóm diệt sâu: - Bi 58 0,2% x - Subatox 0,2% x - Suprathion (Supracide) x 6 0,2% - Pyrinex 0,2% x -etc Nhóm trừ bệnh: - Tilt super 300ec x -Sumi - Eight 12.5WP x - Bayleton nồng độ 0,1% x - Alvil nồng độ 0,2% - Bendazol nồng độ 0,4- x 0,5% x - Carbenzim 0,2% x -etc Nhóm diệt cỏ: - Becano 500SC x - Glyphosan 480SL x - Kanup 480SL x - Roundup 480SC x - BM – Glyphosate 41% x -etc Nhóm kích thích tăng trưởng: - RIC 10WP x - Atonik 1.8 DD - etc Nguồn: Chi Cục bảo vệ thực vật tỉnh Đăk Lăk 2015 [2] 1. Thực trạng sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật trên thế giới HCBVTV khi sử dụng một cách bừa bãi sẽ gây ô nhiễm môi trường và trở thành nguy cơ đối với sức khỏe con người. Về mặt sức khỏe, các sản phẩm này có thể ảnh hưởng đến người sản xuất ra sản phẩm, các thành viên cộng đồng và người tiêu dùng của các loại thực phẩm bị ô nhiễm. Đồng thời, người nông dân không hiểu được tác hại HCBVTV đến sức khỏe có thể đánh giá quá cao lợi ích của nóvàsử dụng liều cao hơn mức cần thiết [40].
Ngộ độc HCBVTV cấp tính có tỷ lệ mắc bệnh và tử vong đáng kể trên thế giới. Đặc biệt là các nước đang phát triển do quản lý lỏng lẻo, thiếu hệ thống giám sát, thực thi kém, thiếu đào tạo và tiếp cận đầy đủ với các hệ thống thông tin [51]. Theo Tổ chức Y tế Thế giới cho thấy trên thế giới mỗi năm có khoảng 1 triệu người bị tai nạn và 2.000 ngộ độc do tự tử liên quan đến HCBVTV phốt pho hữu cơ và hơn 300.000 người tử vong [54]. Châu Âu hiện nay dùng HCBVTV lớn nhất trên thế giới, các nước châu Á đứng thứ 2.
Trung Quốc, Hoa Kỳ, Pháp, Brazil và Nhật Bản là những nước sản xuất, tiêu dùng hoặc buôn bán thuốc trừ sâu lớn nhất trên thế giới. Hầu hết các HCBVTV trên thế giới được sử dụng trên cây ăn quả và rau. Châu Phi tiêu thụ HCBVTV chiếm khoảng 3% của Thế giới, trong đó có Nam Phi chiếm 2% lượng tiêu thụ HCBVTV của thế giới [56].