Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu "Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành nuôi con bằng sữa mẹ của các bà mẹ có con 0 - 25 tháng tuổi tại 3 tỉnh Hà Nam, Quảng Bình, Lào Cai và hiệu quả một số biện pháp can thiệp, 2013-2015" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Đặng Cẩm Tú, bảo vệ năm 2018 tại Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương, thuộc chuyên ngành Y tế công cộng (Mã số: 62 72 03 01), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Khương Văn Duy và PGS. Hoàng Văn Tân.

Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ vai trò tối ưu của nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM) đối với sự sống còn và phát triển thể chất, trí tuệ của trẻ nhỏ. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) ước tính rằng việc cho trẻ bú sớm trong 1 giờ đầu và nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn (NCBSMHT) trong 6 tháng đầu đời giúp giảm 1,3 triệu ca tử vong mỗi năm ở trẻ em dưới 5 tuổi trên toàn cầu. Tuy nhiên, tỷ lệ NCBSMHT tại Việt Nam vẫn ở mức thấp (báo cáo của UNICEF năm 2014 ghi nhận chỉ 26,5% bà mẹ cho con bú sớm và 24,3% cho con bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu). Sự suy giảm này bắt nguồn từ nhiều rào cản: kiến thức chưa đầy đủ của người chăm sóc, các tập quán vắt bỏ sữa non, cho ăn bổ sung quá sớm, sự gia tăng nhanh chóng của các ca sinh mổ dẫn đến việc cách ly mẹ và con, cùng với áp lực quảng cáo tiếp thị sản phẩm sữa thay thế sữa mẹ từ các hãng sữa bột công thức. Khoảng trống nghiên cứu được xác định là sự thiếu hụt các đánh giá can thiệp truyền thông giáo dục sức khỏe dựa vào cộng đồng phối hợp với tổ chức Hội Liên hiệp Phụ nữ trên các địa bàn có điều kiện kinh tế, văn hóa và địa lý đa dạng tại Việt Nam.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm 2 mục tiêu cụ thể:

  1. Mô tả kiến thức, thái độ và thực hành về nuôi con bằng sữa mẹ của phụ nữ có con từ 0 - 25 tháng tuổi tại tỉnh Hà Nam, Lào Cai và Quảng Bình năm 2012.
  2. Đánh giá hiệu quả của biện pháp can thiệp truyền thông giáo dục sức khoẻ đối với kiến thức, thái độ về nuôi con bằng sữa mẹ của các phụ nữ có con dưới 2 tuổi tại tỉnh Hà Nam, Lào Cai và Quảng Bình từ năm 2013 đến 2015.

Đối tượng nghiên cứu là phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ có con từ 0 - 25 tháng tuổi và phụ nữ đã kết hôn đang mang thai. Tiêu chuẩn loại trừ bao gồm: phụ nữ có con trên 25 tháng tuổi, phụ nữ có chồng nhưng vô sinh, phụ nữ chưa kết hôn, phụ nữ mắc bệnh tâm thần hoặc mất khả năng giao tiếp (câm, điếc), và những trường hợp từ chối hoặc không tiếp tục tham gia nghiên cứu. Phạm vi không gian được triển khai tại 12 xã thuộc 3 tỉnh: Hà Nam (vùng đồng bằng sông Hồng), Lào Cai (vùng trung du và miền núi phía Bắc) và Quảng Bình (vùng Bắc Trung Bộ). Phạm vi thời gian nghiên cứu kéo dài từ tháng 11/2012 đến tháng 12/2015.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan y văn của luận án điểm lại các bằng chứng khoa học quốc tế và trong nước về sinh lý học dinh dưỡng, các yếu tố quyết định hành vi nuôi dưỡng trẻ nhỏ và các mô hình can thiệp cộng đồng:

  • Các nghiên cứu quốc tế:

    • Lợi ích sinh học và miễn dịch: Tác giả Bachrach và cộng sự chứng minh trẻ dùng sữa công thức có nguy cơ nhập viện do nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới trong năm đầu cao gấp 3,6 lần so với trẻ bú mẹ hoàn toàn trên 4 tháng. Nghiên cứu của Christopher G. Owen và cộng sự chỉ ra trẻ bú mẹ có nguy cơ béo phì khi trưởng thành chỉ bằng 0,87 lần và nguy cơ mắc đái tháo đường type II chỉ bằng 0,61 lần so với trẻ nuôi bằng sữa công thức.
    • Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành (KAP): Bhutta khảo sát dữ liệu tại 66 quốc gia (2000-2010) ghi nhận tỷ lệ bú sớm trong giờ đầu là 48% và bú mẹ hoàn toàn dưới 6 tháng là 34%. Cesar (2016) tổng hợp dữ liệu tại các nước thu nhập thấp và trung bình cho thấy tỷ lệ bú mẹ hoàn toàn tăng từ 24,9% lên 35,7% giai đoạn 1993-2013. Tác giả Sushma Sriram và cộng sự (2013) tại Ahmedabad (Ấn Độ) ghi nhận 96% bà mẹ có kiến thức bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu; Abiola O. Ogundele và cộng sự (2013) tại Nigeria ghi nhận 71,3% bà mẹ có kiến thức tốt. Ngược lại, RN Chaudhary, T Shah, S Raja (2011) tại Dharan (Nepal) ghi nhận chỉ 10% bà mẹ biết về cho bú sớm và 15% biết về NCBSMHT. Nghiên cứu của Tarek Amin, Hatem Hablas, Ahmed AlAbd Al Qader (2011) tại Al Hassa (Ả Rập Xê Út) cho thấy chỉ 41,5% bà mẹ cho con bú trong 30 phút đầu sau sinh và 12,2% cho bú mẹ hoàn toàn; Ali Mohamed Al-Binali (2012) tại Abha (Ả Rập Xê Út) ghi nhận 31% nữ giáo viên cho bú trong 1 giờ đầu. Howard C. R và cộng sự cùng Kent G. V chỉ ra tác động tiêu cực của tài liệu tiếp thị sữa bột công thức đến thời gian duy trì bú mẹ.
    • Mô hình can thiệp cộng đồng: Dự án LINKAGES (1999-2003) tại Bolivia và Madagascar triển khai truyền thông cộng đồng, câu lạc bộ phụ nữ, vận động sự tham gia của người chồng, giúp nâng tỷ lệ bú sớm ở Madagascar từ 34% lên 78% (2004) và bú mẹ hoàn toàn tháng đầu từ 86% lên 91%. Tại Ấn Độ (1998-2002), chương trình lồng ghép dựa vào cộng đồng qua các câu lạc bộ ông bố bà mẹ giúp giảm tỷ lệ cho trẻ ăn thêm mật ong/nước cháo từ 75% xuống 31% ở 3 tháng tuổi và nâng tỷ lệ bú mẹ hoàn toàn lên 79% (so với 48% ở xã đối chứng, p < 0,001).
  • Các nghiên cứu và chính sách tại Việt Nam:

    • Các khảo sát dịch tễ học: Viện Dinh dưỡng (2010) ghi nhận tỷ lệ bú sớm là 62% và NCBSMHT 6 tháng đầu là 19,6%. Tác giả Trần Thị Phúc Nguyệt và cộng sự (2012 tại Thường Tín, Hà Nội) ghi nhận 42,3% cho bú sớm và 15,5% NCBSMHT; Huỳnh Văn Dũng và cộng sự (2012 tại Tam Nông, Phú Thọ) ghi nhận 46,7% bú sớm và 27,8% NCBSMHT. Vũ Phương Hà (2010) chỉ ra hơn 50% bà mẹ cho con ăn bổ sung trước 6 tháng. Trần Thị Hải Dung (Bệnh viện Phụ sản Hà Nội) ghi nhận không có trường hợp sinh mổ nào cho con bú sớm trong 1 giờ đầu do quy định tách mẹ sau mổ. Dương Văn Đạt và cộng sự ghi nhận 98% bà mẹ tiếp cận quảng cáo sữa bột và 53% quyết định mua sữa ngoài sau khi tiếp nhận thông tin.
    • Các chương trình can thiệp trong nước: Dự án Alive & Thrive (A&T) triển khai mô hình phòng tư vấn dinh dưỡng nhượng quyền xã hội "Mặt trời bé thơ" tại 15 tỉnh/thành (Hà Nội, Thái Nguyên, Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Ngãi, Cà Mau, Thanh Hóa...); mô hình can thiệp tại Hải Dương (CHILILAB, 2010-2011) về sự tham gia của người cha giúp nâng tỷ lệ bú sớm lên 81,4% và NCBSMHT lên 16% (so với 39,4% và 3,9% ở nhóm chứng); mô hình Câu lạc bộ 1000 ngày đầu đời tại Hà Nam (2013-2015).
    • Khung chính sách: Chiến lược Quốc gia Dinh dưỡng giai đoạn 2011-2020, Chiến lược Dân số và Sức khỏe sinh sản 2011-2020, Nghị định số 21/2006/NĐ-CP, Luật Quảng cáo số 16/2012/QH13 và Luật Lao động sửa đổi số 10/2012/QH13 (cho phép nghỉ thai sản 6 tháng).

Khoảng trống nghiên cứu mà tác giả lựa chọn giải quyết là việc đánh giá đồng thời thực trạng kiến thức, thái độ, hành vi nuôi con bằng sữa mẹ trên các nhóm dân cư đại diện cho 3 vùng sinh thái - xã hội khác biệt (Hà Nam, Lào Cai, Quảng Bình) và kiểm chứng hiệu quả thực tế của mô hình giáo dục truyền thông trực tiếp qua Câu lạc bộ Nuôi con bằng sữa mẹ phối hợp liên ngành giữa y tế và Hội Liên hiệp Phụ nữ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng các định nghĩa và khuyến cáo chuẩn hóa của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Bộ Y tế:

  • Nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM): Cách nuôi dưỡng trẻ trực tiếp bằng việc bú vú mẹ hoặc uống sữa mẹ vắt ra.
  • Bú sớm: Cho trẻ bú ngay trong vòng 1 giờ đầu sau khi sinh để tận dụng nguồn sữa non.
  • Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn (NCBSMHT): Trẻ chỉ bú sữa mẹ, không ăn thêm bất kỳ thức ăn, nước uống nào khác kể cả nước lọc (ngoại trừ dung dịch bổ sung vitamin, khoáng chất hoặc thuốc theo chỉ định y khoa) trong 6 tháng đầu.
  • Bú mẹ chủ yếu: Sữa mẹ là nguồn dinh dưỡng chính nhưng có bổ sung một lượng nhỏ nước hoặc dịch lỏng cổ truyền.
  • Cai sữa: Quá trình chuyển giao năng lượng từ sữa mẹ sang thức ăn gia đình, khuyến nghị duy trì bú mẹ đến 24 tháng tuổi hoặc lâu hơn.
  • Sinh lý tiết sữa: Sữa non (tiết trong tuần đầu, giàu kháng thể, bạch cầu, vitamin A, có tính nhuận tràng nhẹ giúp tống phân su và thải bilirubin nhanh); sữa trung gian (ngày 7-14); sữa trưởng thành (sau 2 tuần, gồm sữa đầu giàu đạm, lactose và sữa cuối giàu lipid năng lượng). Phản xạ bú kích thích thùy sau tuyến yên tiết oxytocin giúp co hồi tử cung và giảm mất máu sau đẻ.

Phương pháp nghiên cứu được thiết kế hỗn hợp theo 2 giai đoạn:

Giai đoạn Thiết kế nghiên cứu Cỡ mẫu và Đối tượng Công cụ & Kỹ thuật thu thập
Giai đoạn 1 (1/2013 - 3/2013) Điều tra cắt ngang mô tả kết hợp nghiên cứu định tính • Định lượng: $n = 920$ phụ nữ mang thai và có con 0-25 tháng tuổi.
• Định tính: 12 cuộc thảo luận nhóm tập trung ($n = 96$ phụ nữ) tại 12 xã.
• Bộ câu hỏi cấu trúc phỏng vấn trực tiếp.
• Hướng dẫn thảo luận nhóm trọng tâm.
• Chọn mẫu cụm nhiều giai đoạn kết hợp chọn chủ đích cho định tính.
Giai đoạn 2 (6/2013 - 6/2015) Can thiệp cộng đồng không có đối chứng, đánh giá trước - sau Toàn bộ phụ nữ mang thai và nuôi con dưới 25 tháng tuổi tại 12 xã can thiệp thuộc 3 tỉnh. • Thành lập và duy trì mô hình Câu lạc bộ NCBSM.
• Truyền thông nhóm, tư vấn trực tiếp, tài liệu truyền thông.
• Bộ công cụ đánh giá sau can thiệp (7-8/2015).

Công thức tính cỡ mẫu điều tra cắt ngang định lượng xác định theo ước lượng một tỷ lệ trong quần thể: $$n = \frac{Z_{1-\alpha/2}^2 \cdot p(1-p)}{\epsilon^2 \cdot p^2}$$ Với tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu giả định $p = 0,10$ (theo báo cáo Vụ Sức khỏe Bà mẹ Trẻ em), mức ý nghĩa thống kê $\alpha = 0,05$ ($Z_{1-\alpha/2} = 1,96$), độ chính xác tương đối $\epsilon = 0,265$. Cỡ mẫu tính toán lý thuyết là 492 đối tượng. Áp dụng hệ số thiết kế $DE = 2$, cỡ mẫu nhân đôi thành 984 đối tượng. Thực tế điều tra thu thập được 920 trường hợp phụ nữ (đạt tỷ lệ 97,6% so với cỡ mẫu dự kiến). Đối với định tính, tại mỗi xã chọn 1 nhóm gồm 8 phụ nữ (không trùng với mẫu định lượng) theo sự giới thiệu của cán bộ y tế, tổng cộng 12 nhóm với 96 đối tượng.

Nguồn dữ liệu bao gồm: dữ liệu sơ cấp từ điều tra hộ gia đình, biên bản thảo luận nhóm, dữ liệu thứ cấp từ trạm y tế và Hội Phụ nữ xã. Nghiên cứu thực hiện quy trình khống chế sai số qua việc tập huấn điều tra viên, thử nghiệm công cụ tại thực địa và làm sạch số liệu. Đề tài tuân thủ các chuẩn mực đạo đức nghiên cứu y sinh học, bảo đảm tính tự nguyện và bảo mật thông tin người tham gia.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: TỔNG QUAN

Chương này hệ thống hóa toàn diện các luận điểm khoa học về dinh dưỡng trẻ nhỏ, cơ chế sản xuất sữa mẹ và các bằng chứng dịch tễ học:

  • Thành phần sữa mẹ và cơ chế sinh học: Phân tích chi tiết tỷ lệ protein casein mềm dễ tiêu hóa; lipid chuỗi dài không no chứa DHA và ARA cần thiết cho sự phát triển hệ thần kinh; glucid với hàm lượng lactose 7g/100ml; khoáng chất sắt và kẽm có hoạt tính sinh học cao; các globulin miễn dịch (đặc biệt là IgA) bọc niêm mạc ruột chống vi khuẩn, virus, nấm.
  • Lợi ích lâm sàng: Đối với trẻ, sữa mẹ giúp giảm tỷ lệ tiêu chảy, viêm phổi, hen suyễn, nhiễm trùng tai; giúp trẻ đạt chỉ số IQ cao hơn trung bình 7,5 điểm; giảm nguy cơ thừa cân và đái tháo đường sau này. Đối với mẹ, động tác bú kích thích tiết oxytocin giúp tử cung co hồi tốt, giảm băng huyết sau sinh, hỗ trợ giảm cân, ngừa ung thư vú, ung thư buồng trứng và là biện pháp tránh thai tự nhiên trong 6 tháng đầu (hiệu quả đạt trên 98% nếu chưa có kinh trở lại).
  • Điểm luận thực trạng và can thiệp: Đánh giá tình trạng suy giảm tỷ lệ bú sớm và bú mẹ hoàn toàn trên thế giới và tại Việt Nam. Phân tích nguyên nhân mẹ thiếu tự tin về lượng sữa, quan niệm cổ hủ vắt bỏ sữa non, tác động tiêu cực của việc tiếp thị sữa bột vi phạm Nghị định 21/2006/NĐ-CP và tình trạng sinh mổ gây chậm trễ cữ bú đầu. Đánh giá kinh nghiệm từ các mô hình LINKAGES, can thiệp tại Ấn Độ, dự án Alive & Thrive ("Mặt trời bé thơ"), mô hình 1000 ngày đầu đời tại Hà Nam và can thiệp vai trò người cha tại Hải Dương.
  • Đặc điểm địa bàn: Trình bày thông tin địa lý - nhân khẩu của 3 tỉnh nghiên cứu: Hà Nam (diện tích 860,5 $\text{km}^2$, dân số 811.126 người), Lào Cai (diện tích 6.384 $\text{km}^2$, dân số 665.900 người với 21 dân tộc thiểu số), Quảng Bình (diện tích 8.650,3 $\text{km}^2$, dân số 882.000 người).

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chương này trình bày chi tiết quy trình tổ chức nghiên cứu và các thông số phương pháp luận:

  • Thời gian thực hiện: Bảng 2.1 phân định 7 mốc hoạt động từ chuẩn bị thực địa (11-12/2012), điều tra cắt ngang và định tính ban đầu (1-3/2013), xử lý số liệu (4/2013), tập huấn can thiệp (5/2013), tiến hành can thiệp (6/2013 - 6/2015), điều tra sau can thiệp (7-8/2015) và phân tích viết báo cáo (9-12/2015).
  • Cơ cấu mẫu: Tổng hợp đối tượng nghiên cứu định tính gồm 96 phụ nữ tại 12 xã (Bảng 2.2 và 2.4); danh sách đơn vị hành chính cấp tỉnh, huyện, xã tham gia nghiên cứu (Bảng 2.3); mẫu định lượng gồm 920 phụ nữ đang mang thai hoặc có con 0-25 tháng tuổi.
  • Thiết kế can thiệp: Tổ chức sinh hoạt Câu lạc bộ NCBSM định kỳ tại 12 xã với sự tham gia nòng cốt của cán bộ Hội Phụ nữ và nhân viên y tế thôn bản, kết hợp phát tài liệu truyền thông, thăm hộ gia đình và tư vấn nhóm.

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Chương này phản ánh toàn bộ các phát hiện định lượng và định tính của đề tài:

  • Đặc điểm đối tượng nghiên cứu: Phân bố nhân khẩu học theo nhóm tuổi (Bảng 3.1), nghề nghiệp (Bảng 3.2), trình độ học vấn (Biểu đồ 3.1), thành phần dân tộc (Biểu đồ 3.2), tình trạng con cái (Bảng 3.3) và phân bố trẻ dưới 25 tháng tuổi theo giới tính, tình trạng sinh đẻ thường hay mổ đẻ (Bảng 3.4).
  • Thực trạng kiến thức, thái độ và thực hành trước can thiệp:
    • Kiến thức: Nhận thức về thức ăn tốt nhất cho trẻ sơ sinh (Bảng 3.5), lợi ích của sữa mẹ và sữa non (Bảng 3.6, 3.7), nguồn tiếp nhận thông tin (Bảng 3.8), hiểu biết về thời gian bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu (Biểu đồ 3.3, $n=920$) và thời điểm cai sữa phù hợp (Biểu đồ 3.4).
    • Thái độ: Đo lường mức độ đồng thuận với các quan điểm: sữa mẹ bảo vệ trẻ khỏi bệnh tật và viêm nhiễm (Bảng 3.9), gắn kết tình cảm mẹ con (Bảng 3.10), giúp trẻ khỏe mạnh hơn (Bảng 3.11), cung cấp đủ dưỡng chất (Bảng 3.12), bú mẹ thuận tiện hơn sữa bột (Bảng 3.13), không cản trở công việc gia đình (Bảng 3.14), tiết kiệm chi tiêu (Bảng 3.15), trách nhiệm làm mẹ (Bảng 3.16). Phân tích thái độ đối với các định kiến như sữa bột chống béo phì (Biểu đồ 3.5), không nên cho bú nơi công cộng (Biểu đồ 3.6), cho con bú làm mất thời gian (Biểu đồ 3.7).
    • Thực hành: Tỷ lệ trẻ được bú sớm trong vòng 1 giờ đầu sau sinh (Bảng 3.17), tỷ lệ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu (Biểu đồ 3.8, $n=652$) và thời gian cai sữa thực tế (Biểu đồ 3.9, $n=378$).
  • Hiệu quả can thiệp truyền thông và mô hình Câu lạc bộ (2013-2015):
    • Tổng kết các hoạt động can thiệp đã triển khai tại cơ sở (Bảng 3.18).
    • Chuyển biến về kiến thức: Tăng tỷ lệ hiểu biết đúng về thức ăn tốt nhất sau sinh (Bảng 3.19), thời gian bú mẹ hoàn toàn 6 tháng (Bảng 3.20), thời điểm cai sữa sau 24 tháng (Bảng 3.21) và lợi ích toàn diện của sữa mẹ (Bảng 3.22).
    • Chuyển biến về thái độ: Cải thiện nhận thức về phòng chống bệnh tật (Bảng 3.23), gắn kết mẹ con (Bảng 3.24), phát triển thể chất của trẻ (Bảng 3.25, 3.26), tính thuận tiện và kinh tế (Bảng 3.27, 3.28, 3.29), trách nhiệm người mẹ (Bảng 3.30). Xóa bỏ định kiến về sữa công thức và việc cho bú nơi công cộng (Bảng 3.31, 3.32, 3.33, 3.34).
    • Đánh giá vai trò của các kênh truyền thông trong việc thay đổi kiến thức và hành vi (Bảng 3.35), nổi bật là vai trò của Câu lạc bộ NCBSM, cán bộ y tế và Hội Phụ nữ.

Chương 4: BÀN LUẬN

Chương này tập trung biện giải các phát hiện nghiên cứu trong mối tương quan với y văn:

  • Phân tích các yếu tố nhân khẩu, văn hóa ảnh hưởng đến thực hành NCBSM tại 3 vùng địa lý (đồng bằng Hà Nam, miền núi Lào Cai, duyên hải Quảng Bình).
  • Biện giải nguyên nhân tỷ lệ bú sớm và bú mẹ hoàn toàn còn thấp ở thời điểm điều tra ban đầu: rào cản tập quán vắt bỏ sữa non ở vùng đồng bào dân tộc, thói quen cho ăn sam sớm của gia đình, tỷ lệ mổ đẻ gia tăng đi kèm quy định cách ly mẹ con trong bệnh viện, và sự tiếp cận tràn lan của quảng cáo sữa công thức.
  • Bàn luận về tính ưu việt của mô hình can thiệp truyền thông nhóm qua Câu lạc bộ NCBSM do Hội Phụ nữ phối hợp với y tế cơ sở vận hành so với truyền thông đại chúng đơn thuần. Phân tích sự thay đổi nhận thức của phụ nữ trong việc xóa bỏ các quan niệm sai lầm về sữa bột và thời gian cai sữa.
  • Phân tích các hạn chế nội tại của đề tài về mặt phương pháp luận và kiểm soát biến số gây nhiễu tại thực địa.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học

  • Cung cấp bộ dữ liệu thực chứng có hệ thống về thực trạng kiến thức, thái độ và thực hành nuôi con bằng sữa mẹ trên cỡ mẫu lớn ($n=920$) thuộc 3 vùng sinh thái - xã hội đại diện tại Việt Nam (đồng bằng, miền núi dân tộc thiểu số và duyên hải).
  • Làm rõ các rào cản hành vi đặc thù cản trở việc cho trẻ bú sớm và bú mẹ hoàn toàn trong bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là ảnh hưởng của tình trạng sinh mổ, áp lực lao động và tiếp thị sữa công thức.
  • Khẳng định giá trị thực tiễn của mô hình can thiệp giáo dục truyền thông trực tiếp thông qua mạng lưới Câu lạc bộ NCBSM phối hợp giữa Hội Liên hiệp Phụ nữ và y tế tuyến cơ sở.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  1. Duy trì và mở rộng mô hình: Tiếp tục nhân rộng mô hình Câu lạc bộ Nuôi con bằng sữa mẹ tại các xã nông thôn, vùng sâu, vùng xa và vùng đồng bào dân tộc thiểu số; lồng ghép hoạt động của câu lạc bộ vào các chương trình công tác thường kỳ của Hội Liên hiệp Phụ nữ và Trạm Y tế xã.
  2. Tăng cường quản lý chính sách và truyền thông: Giám sát nghiêm ngặt việc thực thi Nghị định số 21/2006/NĐ-CP và Luật Quảng cáo số 16/2012/QH13, nghiêm cấm các hình thức tiếp thị, quảng cáo sản phẩm thay thế sữa mẹ cho trẻ nhỏ trong các cơ sở y tế và bệnh viện sản nhi.
  3. Cải tiến quy trình y tế đối với các ca sinh mổ: Xây dựng và áp dụng quy trình hỗ trợ tiếp xúc da kề da sớm và cho trẻ bú mẹ trong vòng 1 giờ đầu ngay tại phòng hồi sức sau mổ đẻ, chấm dứt việc cách ly mẹ và con không cần thiết.
  4. Tập trung vào nhóm đối tượng đặc thù: Tăng cường tuyên truyền, phổ biến khuyến cáo nuôi con bằng sữa mẹ đến 24 tháng tuổi cho đối tượng lao động nữ, nữ công nhân tại các khu công nghiệp và doanh nghiệp; tạo điều kiện môi trường làm việc hỗ trợ phụ nữ vắt và trữ sữa mẹ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế được ghi nhận: Thiết kế can thiệp ở giai đoạn 2 là nghiên cứu can thiệp cộng đồng không có nhóm đối chứng song song, do đó khó kiểm soát triệt để các yếu tố gây nhiễu từ các chương trình can thiệp y tế hoặc thông tin đại chúng khác diễn ra đồng thời trên địa bàn. Việc thu thập số liệu thực hành NCBSM hoàn toàn trong 6 tháng đầu dựa vào phương pháp phỏng vấn hồi tưởng của người mẹ, có thể tiềm ẩn sai số nhớ lại (recall bias).
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng áp dụng các thiết kế nghiên cứu can thiệp có nhóm đối chứng ngẫu nhiên theo cụm (cluster RCT) để nâng cao giá trị bằng chứng; nghiên cứu theo dõi dọc thuần tập nhằm đánh giá tính bền vững lâu dài của mô hình Câu lạc bộ NCBSM sau khi kết thúc dự án; đo lường bổ sung các chỉ số nhân trắc học dinh dưỡng (chiều cao, cân nặng, tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi) và bệnh tật của trẻ qua từng giai đoạn phát triển.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho nhiều nhóm đối tượng trong nghiên cứu và thực hành y tế công cộng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Y tế công cộng, Dinh dưỡng, Y học dự phòng: Tham khảo cấu trúc thiết kế nghiên cứu hỗn hợp (kết hợp điều tra cắt ngang định lượng $n=920$ và nghiên cứu định tính 12 nhóm tập trung $n=96$), phương pháp tính cỡ mẫu điều tra cộng đồng và quy trình xây dựng công cụ đánh giá KAP.
  • Giảng viên và cán bộ nghiên cứu: Sử dụng các dẫn chứng, số liệu dịch tễ học và cơ sở sinh lý học dinh dưỡng của sữa mẹ trong giảng dạy chuyên đề chăm sóc sức khỏe ban đầu, sức khỏe sinh sản và dinh dưỡng cộng đồng.
  • Các nhà hoạch định chính sách, cán bộ quản lý y tế và Hội Phụ nữ: Vận dụng khung can thiệp mô hình Câu lạc bộ Nuôi con bằng sữa mẹ tại tuyến xã để xây dựng các chương trình can thiệp giáo dục sức khỏe, triển khai hiệu quả Chiến lược Quốc gia Dinh dưỡng và các quy định về bảo vệ quyền lợi nuôi con bằng sữa mẹ.

Câu hỏi thường gặp

1. Sữa non có những đặc tính sinh học và vai trò miễn dịch nào đối với trẻ sơ sinh theo trình bày của luận án? Theo luận án, sữa non được tiết ra ngay sau khi sinh và trong tuần đầu sau đẻ, có màu vàng nhạt, đặc sánh, số lượng khoảng 40-50 ml trong ngày đầu và tăng dần vào ngày 2-3. Sữa non chứa hàm lượng kháng thể (globulin miễn dịch), protein kháng khuẩn, bạch cầu và vitamin A cao hơn sữa trưởng thành, hoạt động như "liều vác-xin đầu tiên" giúp trẻ chống nhiễm khuẩn và dị ứng. Sữa non còn có tác dụng xổ nhẹ giúp tống phân su nhanh, đẩy nhanh quá trình đào thải bilirubin ra khỏi ruột, làm giảm mức độ và rút ngắn thời gian vàng da sơ sinh.

2. Công thức và thông số nào được tác giả sử dụng để tính cỡ mẫu điều tra cắt ngang ban đầu? Tác giả áp dụng công thức ước lượng một tỷ lệ trong quần thể: $$n = \frac{Z_{1-\alpha/2}^2 \cdot p(1-p)}{\epsilon^2 \cdot p^2}$$ Các thông số bao gồm: tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu $p = 0,10$ (10%), mức ý nghĩa thống kê $\alpha = 0,05$ ($Z_{1-\alpha/2} = 1,96$), độ chính xác tương đối $\epsilon = 0,265$. Cỡ mẫu tính ra là 492 đối tượng. Để bảo đảm hiệu ứng thiết kế, cỡ mẫu được nhân đôi thành 984 đối tượng; số lượng thực tế điều tra thu thập được là 920 phụ nữ mang thai và có con 0-25 tháng tuổi.

3. Tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ tại Việt Nam được ghi nhận như thế nào trước thời điểm nghiên cứu? Theo số liệu của UNICEF năm 2014 được luận án trích dẫn, chỉ có 26,5% bà mẹ Việt Nam cho con bú sớm trong vòng 1 giờ đầu và 24,3% cho con bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu. Khảo sát của Viện Dinh dưỡng năm 2010 ghi nhận tỷ lệ bú sớm là 62% và bú mẹ hoàn toàn là 19,6%. Tại các địa phương cụ thể năm 2012, tỷ lệ bú sớm và bú mẹ hoàn toàn lần lượt là 42,3% và 15,5% tại Thường Tín (Hà Nội), 46,7% và 27,8% tại Tam Nông (Phú Thọ).

4. Tại sao các trường hợp sinh mổ tại bệnh viện lại là nguyên nhân chính làm giảm tỷ lệ cho trẻ bú sớm trong giờ đầu? Luận án dẫn chứng nghiên cứu của Trần Thị Hải Dung tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội và các nghiên cứu tại Kiên Giang, Cần Thơ cho thấy 100% sản phụ sinh mổ không thể cho con bú sớm trong vòng 1 giờ đầu sau sinh do quy định tách mẹ và trẻ sơ sinh sau phẫu thuật. Việc cách ly này dẫn đến hệ quả hầu hết trẻ sinh mổ bị cho ăn sữa công thức trong 3 ngày đầu, không được tận dụng nguồn sữa non quý giá và làm tăng nguy cơ không được nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong tuần đầu lên gấp 6 lần so với sinh thường (theo nghiên cứu tại Sóc Trăng).

5. Mô hình can thiệp trong giai đoạn 2 của luận án được triển khai bằng những hoạt động trọng tâm nào? Can thiệp giai đoạn 2 (2013-2015) tập trung vào mô hình giáo dục truyền thông thông qua việc thành lập và duy trì các Câu lạc bộ Nuôi con bằng sữa mẹ tại 12 xã thuộc 3 tỉnh Hà Nam, Lào Cai, Quảng Bình. Các hoạt động nòng cốt bao gồm: tập huấn cho cán bộ Hội Phụ nữ và y tế thôn bản; tổ chức sinh hoạt câu lạc bộ định kỳ cho phụ nữ mang thai và nuôi con nhỏ; tư vấn trực tiếp cá nhân và nhóm hộ gia đình; phân phát tài liệu truyền thông (tờ rơi, áp phích); và tuyên truyền thay đổi định kiến sai lệch về việc dùng sữa bột thay thế sữa mẹ.

Kết luận

Luận án tiến sĩ Y tế công cộng của tác giả Đặng Cẩm Tú đã phản ánh bức tranh thực trạng về kiến thức, thái độ và thực hành nuôi con bằng sữa mẹ của 920 bà mẹ tại 3 tỉnh Hà Nam, Lào Cai và Quảng Bình giai đoạn 2012-2013. Bằng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp kết hợp định lượng và định tính, tác giả đã chỉ rõ những khoảng trống hiểu biết, các định kiến xã hội và rào cản y tế (đặc biệt là sinh mổ và quảng cáo sữa bột) ảnh hưởng tiêu cực đến hành vi cho con bú sớm và bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu. Kết quả đánh giá giai đoạn can thiệp (2013-2015) khẳng định mô hình truyền thông giáo dục sức khỏe dựa vào cộng đồng qua Câu lạc bộ Nuôi con bằng sữa mẹ phối hợp với Hội Liên hiệp Phụ nữ mang lại hiệu quả rõ rệt trong việc nâng cao nhận thức và thay đổi thái độ của các bà mẹ. Công trình cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc cho việc hoạch định chính sách dinh dưỡng và triển khai các chương trình can thiệp chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em tại Việt Nam.