mở đầu cho các mạng không dây ra đời và phát triển rất nhanh.Ban đầu các nhà cung cấp các thiết bị không dây đùng cho mạng LAN như Proxim và Symbol ở Mĩ đều phát triển các sản phẩm độc quyền, không tương thích với các sản phẩm của các công ty khác. Điều này dẫn đến sự cần thiết phải xác lập 1 chuẩn không dây chung. Năm 1997, một tiểu ban đã tiễn hành thương lượng hợp nhất các chuẩn và đã ban hành chuẩn chính thức IEEE 802.Sau đó là chuẩn 802.11a lần lượt được phê duyệt vào các năm 1999 và năm 2000. Tháng 8 năm 1999 sáu công ty gồm Intersil, 3Com, Nokia, Aironet, Symbol và Lucent liên kết tạo thành liên minh tương thích Ethernet không dây VECA.
Thuật ngữ WiFi ra đời, là tên gọi thống nhất dé chỉ công nghệ kết nối cục bộ không dây đã được chuẩn hóa.2 Sự du nhập và phát triển của internet tại việt Nam s%* Bước đầu du nhập: Rob Hurle, giáo sư tại Đại học Quốc gia Australia (ANU), được xem là người đầu tiên đặt nền móng cho sự phát triển Internet tại Việt Nam với việc trình bày ý tưởng của 10 mình với các sinh viên Việt Nam đã từng du học tại Úc và mang một chiếc "modem" to băng "cục gach" sang Việt Nam năm 1991 dé thứ nghiệm. Sau đó, ông Rob Hurle cùng với ông Trần Bá Thái, Viện Công nghệ thông tin tại Hà Nội (IOIT) tiến hành thí nghiệm kết nối các máy tính ở Úc và Việt Nam thông qua đường dây điện thoại, ông cũng viết một phần mềm mới cho hệ thống UNIX để có thể sử dung modem liên lạc sang Việt Nam. Thí nghiệm thành công và năm 1992, IOIT Hà Nội có hộp thư điện tử riêng với "đuôi" ở tận Úc (.au) để trao đối e-mail với ông Rob và có lẽ đó là lần đầu tiên người ở Việt Nam gửi e-mail ra nước ngoài. Tháng 9 năm 1993, ông Rob và một đồng nghiệp Việt kiều ở Đại học Tasmania tới Hà Nội dự hội thảo dé bàn về kế hoạch phát triển Internet tại Việt Nam”.
Năm 1994, với tiền tài trợ của Chính phủ Úc, ông Rob và các đồng nghiệp tại ANU mua tặng Khoa Lịch sử Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội 1 chiếc máy tính đầu tiên tại Việt Nam và modem và thực hiện việc kết nỗi Internet qua cổng “. Ông Rob cũng là một trong những người đầu tiên nghĩ tới và được ủy quyền việc đăng ký tên miền .vn cho VN thay cho tên miền “. Đến năm 1995, nhu cầu sử dụng Internet tại Việt Nam tăng quá lớn và tiền tài trợ từ Chính phủ Úc không còn đủ chi dung, nên bắt đầu thu tiền của người VN sử dụng Internet và thương mại hóa Internet, ông Rob và các đồng nghiệp ở IOIT bắt đầu hợp tác với Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) dé phát triển dịch vụ. Như vậy, sau 2 năm thử nghiệm cung cấp dịch vụ điện thư, vào năm 1994, Viện Công nghệ thông tin IOIT (qua công ty NetNam được họ thành lập) trở thành nhà cung cấp dịch vụ Internet đầu tiên tại Việt Nam, với dịch vụ thư điện tử đưới tên miền quốc gia.
Các dịch vụ dựa trên thư điện tử như diễn đàn, liên lạc nội bộ, thư viện điện tử. được cung cấp cho hàng ngàn khách hàng chỉ sau 1 năm giới thiệu. Các địch vụ khác như thiết kế Web, FTP, TelNet. được NefNam cung cấp đầy đủ khi Internet được chính thức cho phép hoạt động tại Việt Nam từ 1997.
Tháng 11 năm 1997, VNPT, NetNam, va 3 công ty khác trở thành những nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP) đầu tiên tại Việt Nam. Trước đó, việc thứ nghiệm Internet ở Việt Nam xảy ra ở bốn địa điểm như sau”: * Vị giáo sư Úc và thuở hoang sơ của Internet Việt Nam — Báo điện tử Dân trí, số ra ngày 04/01/2006 Link: https://dantri.vn/xa-hoi/vi-giao-su-uc-va-thuo-hoang-so-cua-internet-viet-nam-1136369916.htm ? Người mang internet vào Việt Nam — Báo điện tử Công an nhân dân, số ra ngày 13/01/2007 Link: http://cand.vn/Phong-su-tu-lieu/Nguoi-mang-Internet-vao-Viet-Nam-34856/ 3 Nhân chứng lịch sử Internet và những dấu ấn khó quên — Báo điện tử VnExpress — Số ra ngày 24/5/2007 Link: https://web.org/web/20080918170435/http://vnexpress.net/gl/vi-tinh/2007/05/3b9f6373/ 11 Viện Công nghệ thông tin thuộc Trung tâm Khoa học tự nhiên và Công nghệ quốc gia hợp tác với Đại học Quốc gia Australia để phát triển thử nghiệm mạng Varenet vào năm 1994. Trung tâm thông tin Khoa học công nghệ Quốc gia thuộc Bộ Khoa học công nghệ và Môi trường liên kết với mạng Toolnet thuộc Amsterdam (Hà Lan) vào năm 1994. Trung tâm Khoa hoc và công nghệ thuộc Sớ Khoa học công nghệ và Môi trường TP HCM liên kết với nút mạng ở Singapore vào năm 1995 với tên gọi là mạng HCMCNET.
Công ty Điện toán và Truyền số liệu (VDC) thuộc Tổng công ty Buu chính Viễn thông (VNPT) tại hai địa điểm Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh thông qua hai cổng quốc tế 64 Kb/giây kết nối Internet Sprintlink (Mỹ) vào năm 1996. Internet Việt Nam cũng nhận được nhiều trợ giúp từ nước ngoài để phát triển, như năm 2010, Bill Gates, giúp đỡ Việt Nam 30 triệu đôla Mỹ để phát triển Internet tại vùng thôn quê" s* Qua trình phát triển: + Giai đoạn 2000 — 2010: Vào ngày 17/10/2000, Chi thi số 58-CT/TW được phê duyệt bởi ông Phạm Thế Duyệt, thường trực Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về việc "Đẩy mạnh ứng dung và phát tiễn công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoa". Khoáng thời gian từ thang 1 đến tháng 2 năm 2001, lần đầu tiên ở Việt Nam, cơ quan an ninh bắt hai hacker là Phan Quang Trung và Nguyễn Đắc Thuận ở Thành phố Hồ Chí Minh vì hành vi đánh cắp mật khẩu và phát tán trên mạng." Ngày 14/7/2005, ký kết thông tư liên tịch 02/2005/TTLT về quản lý đại lý Internet đo Bộ Bưu chính Viễn thông, Bộ Văn hóa- Thông tin, Bộ Công an và Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành." * Bill Gates đổ tiền phát triển Internet công cộng ở Việt Nam — Báo điện tử VnEconomy - số ra 11/11/2011 Link: http://vneconomy.vn/cuoc-song-so/bill-gates-do-tien-phat-trien-internet-cong-cong-o-viet-nam- htm Š 10 năm Internet, những mốc thời gian — Báo điện tử VTC, số ra ngày 25/4/2007 Link: https://ictnews.vn/vien-thong/10-nam-internet-nhung-moc-thoi-gian-1233.ict 6 https://thuvienphapluat.vn/archive/Thong-tu-lien-tich/Thong-tu-lien-tich-02-2005-TTLT-BCVT-VHTT-CA-KHDT- quan-ly-dai-ly-Internet-vb2591t24.aspx 12 Ngày 09/10/2010, Đại hội thành lập Hiệp hội Internet Việt Nam (VIA) diễn ra tại Hà Nội nhằm lập ra ban lãnh đạo nhiệm kỳ đầu tiên và đồng thời ra mắt Ban chấp hành của Hiệp hội chính thức số lượng thành viên là 33.” + Giai đoạn 2011 - đến nay: Số người dùng tại Việt Nam tính đến thời điểm cuối tháng 7 năm 2011 đã vượt 31 triệu người, trong đó có tới 4 triệu người ding Internet băng rộng. Số lượng người dùng Internet đông đảo được xem là nền tang tiém nang, tao ra cơ hội va nhiều thách thức dé phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam.
Theo thống kê của Tổng cục Thống kê vào tháng 3 năm 2012, số người sử dụng Internet ở Việt Nam đã đạt đạt 32,1 triệu người với số thuê bao Internet trên cả nước ước tính đạt 4,2 triệu thuê bao (so sánh với 134 triệu thuê bao điện thoại, bao gồm: 15,3 triệu thuê bao cố định và 118,7 triệu thuê bao di động). Internet ở Việt Nam năm 2018 tiếp tục phát triển và có một số biến chuyển nhỏ theo hướng tích cực dựa trên những thành tựu đã đạt được từ năm 2017 và các năm trước. Với dân số 96.02 triệu người và tỉ lệ đô thị hóa là 35%, lượng người sử dụng Internet ở Việt Nam năm 2018 đạt 64 triệu người dùng, chiếm đạt 67% dân số 1. Hoạt động thương mại: 1.
Định nghĩa: + Theo nghĩa rộng: Đó là mọi hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, đồng nghĩa với hoạt động kinh doanh. “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng địch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi” (K2 Ð4 Luật Doanh nghiệp 2005). Hoạt động kinh doanh thực hiện trong nhiều lĩnh vực sản xuất, lưu thông hàng hóa và dịch vụ. Như vậy, hoạt động thương mại bao gồm không chỉ các hoạt động mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ mà còn là các hoạt động đầu tư cho sản xuất đưới các hình thức đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp, được điều chỉnh bằng Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp 2005 Luật Kinh doanh bất động sản , Luật Chứng khoán và các Luật chuyên ngành khác.
+ Theo nghĩa hẹp: ? Hiệp hội Internet Việt Nam được thành lập — Tạp chí công nghệ thông tin, số ra 10/10/2010 Link: http://www.vn/articles/quan-ly/nguon-luc/2010/10/1221559/hiep-hoi-internet-viet-nam-duoc- thanh-lap/ ® https:;//www.com/2018/10/08/cac-so-lieu-thong-ke-internet-viet-nam-nam-2018 13 Theo Luật thương mai , “Hoạt động thương mai là hoạt động nhằm mục đích sinh _ lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác“ (K1 D3 Luật thương mại). Hoạt động thương mại được định nghĩa theo Luật thương mại chỉ tập trung vào các hoạt động kinh doanh trong 2 khâu lưu thông và dịch vụ, không bao hàm khâu đầu tư cho san xuất. Hai lĩnh vực chủ yếu của hoạt động thương mại là thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ — Mua bán hàng hoá (Thương mại hàng hóa) là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo thỏa thuận (K8 D3 Luật thương mai) — Cung ứng dịch vụ (Thương mại dịch vụ) là hoạt động thương mại, theo đó một bên (gọi là bên cung ứng dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác và nhận thanh toán; bên sử dụng dịch vụ (gọi là khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận (K9 D3 Luật thương mai) Đối với hoạt động mua bán hàng hóa, có những thương nhân chuyên kinh doanh mua bán hàng hóa và có những thương nhân đồng thời là nhà sản xuất, cung ứng dịch vụ. Vì vậy, pháp luật thương mại cũng có một số nội dung liên quan đến quá trình đầu tư san xuất hàng hóa, cung ứng địch vụ như tiêu chuẩn, chất lượng sản phẩm, hàng hóa, quyền sở hữu trí tuệ.