CHƯƠNG I. LÝ LUẬN VÉ NGUÒN LỰC 1. Khai quát chung về nguồn lực 1. Khái niệm về nguon lực và phát huy nguôn lực Nguồn lực và phát triển nguồn lực là một trong những vấn đề then chốt quan trọng của sự nghiệp phát triển kinh tế — chính trị, xã hội ở mỗi quốc gia.
Đặc biệt đối với các nước đang phát triển như Việt Nam hiện nay, giải quyết vẫn dé này dang là yêu cầu được đặt ra hết sức bức xúc, vì nó vừa mang tinh thời sự, vừa mang tính chiến lược xuyên suốt quá trình phát triển kinh tế — xã hội đưa đất nước tiến lên Chủ nghĩa Xã hội. TS Đoàn Minh Thạo - Phó Chủ tịch Hội đồng Ly luận Trung ương cho rằng: “Nguồn lực là các yếu tố đã có trong tự nhiên và trong xã hội, ở trong trạng thái sẵn sàng có thé sử dụng. Tuy nhiên, việc có huy động được các nguồn lực đó vào hoạt động hay không, huy động được đến mức nào và đặc biệt là hiệu qua sử dụng các nguồn lực đó thé nào phụ thuộc vào nhiều yếu tố: mức độ khan hiếm của mỗi nguồn lực; khác nhau giữa nguồn lực có tầm quan trọng chiến lược và không có tầm quan trọng chiến lược, giữa nguồn lực có khả năng tái tạo và không có khả năng tái tạo, gitra nguồn lực có số lượng lớn, mức độ khan hiếm thấp và số lượng nhỏ, khan hiếm. Hiện nay, ở hầu hết các nước trên thế giới, việc huy động và sử dụng nguồn lực đều được thực hiện theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước”.
Điều đó cho ta thấy rằng, việc huy động các nguồn lực trong phát triển kinh tế xã hội là thách thức rất lớn của các nhà hoạch định mang tầm vĩ mô, do đó cần phải tính toán tỉ mỉ dé có những chiến lược cụ thé đúng đắn phù hợp với điều kiện cụ thể và giai đoạn lich sử.' Từ đó, có thé hiểu nguồn lực của một nền kinh tế là tổng hợp các yếu tố vật thé và phi vật thể tạo nên nền kinh tế của một đất nước và thúc đây nó phát triển. Vậy Nguon lực là tong thể vị trí địa li, tài nguyên thiên nhiên, hệ thong tài san quốc gia, nguôn nhân lực, đường loi chính sách, von và thị trường.vn/huy-dong-va-su-dung-hieu-qua-cac-nguon-luc-phat-trien-dat-nuoc- 96901.html 13 trong nước và ngoài nước có thé được khai thác nhằm phục vụ cho việc phát triển kinh tế của một lãnh thé nhất định. Khi đã phân tích và đánh giá đúng tình trạng của nguồn lực thì cần phải phát huy tất cả nguồn lực đó nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, nâng cao đời sông kinh tế xã hội. Phát huy nguồn lực chính là quá trình biến đổi cả về số lượng và chất lượng của mọi nguồn lực nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng chúng và tận dung toi da dé đáp tng ngày càng tốt hơn nhu cau phát triển kinh tế- xã hội của đất nước, của từng vùng, của từng cơ quan doanh nghiệp.
Phát triển nguôn lực chính là nâng cao vai trò của nguôn lực trong sự phát triển kinh tế- xã hội, qua đó làm gia tăng giá trị của các nguồn lực đó. Do đó, phát triển nguồn lực đòi hỏi có sự quan tâm và can thiệp của Nhà nước bằng các phương pháp, chính sách và biện pháp phù hợp, cũng như các cơ quan quản lý nhằm phát huy tối đa mọi nguồn lực sẵn có nhằm đáp ứng đòi hỏi về mọi mặt cho sự phát triển kinh té- xã hội trong từng giai đoạn phát triển. PGS, TS Đoàn Minh Huấn, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Tổng biên tập Tạp chi Cộng sản nhắn mạnh: “Dé huy động va sử dụng hop lý, hiệu quả các nguồn lực cho phát triển đất nước đang là vấn đề đặt ra và là yêu cầu quan trọng hang dau đối với quốc gia, ở moi thời đại. Day cũng là van đề cấp bách với nước ta hiện nay để thực hiện mục tiêu phát triển nhanh, bên vững, sớm trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, nâng cao đời sống vật chất và tỉnh thần của nhân dân”.
Phan loại nguon luc Tuy thuộc vào các góc độ tiếp cận, cách nhìn, khía cạnh mà người ta chia các nguồn lực thành các loại khác nhau. Các nguồn lực thường được chia theo hai cách chủ yêu sau: - Dựa vào hình thức biểu hiện người ta chia nguồn lực thành hai loại là nguồn lực hữu hình và nguồn lực vô hình. Hay nói cách khác là nguồn lực vật chất và nguồn lực phi vật chat. 14 + Nhóm nguồn lực vật chất gồm có: nguồn vốn tài chính, tài nguyên thiên nhiên (tài nguyên đất, vị trí địa kinh té.) và cơ sở vật chat kỹ thuật đã tạo dựng (nhà cửa, công trình công cộng, hệ thống viễn thông và truyền thông.
+ Nhóm nguồn lực phi vật chất gắn với tài nguyên trí thức của con người và tài nguyên thông tin. Trí tuệ của con người có giá tri đặc biệt quan trọng va không thể tự nhiên mà có được. Trí tuệ phải được hình thành thông qua quá trình học tập, tìm tòi, khám phá, lao động mới có được. Muốn có trí tuệ, con người phải có thể lực, trí lực và tâm lực.
- Căn cứ vào nguồn gốc của nguồn lực thì người ta có thể chia chúng thành hai nhóm lớn: nguồn lực trong nước (nội lực) và nguồn lực ngoài nước (ngoại lực). + Nguồn lực trong nước (nội lực): bao gồm tat cả các nguồn lực bên trong của một quốc gia. Cụ thể bao gồm 3 nguồn lực chủ yếu sau: Vị trí địa lí và tài nguyên thiên nhiên; Dân cư và nguồn lao động; Đường lối phát triển KT-XH và cơ sở vật chất kỹ thuật. + Nguồn lực bên ngoài (ngoại lực): bao gồm tất cả các nguồn lực bên ngoài của một quốc gia, có ảnh hưởng đến sự phát triển KT — XH của quốc gia đó.
Đó là vốn, thị trường, khoa học kĩ thuật, xu thế phát triển. Vai trò của nguồn lực Sự phát triển kinh tế - xã hội của một đất nước, một khu vực phụ thuộc vào việc đất nước đó, khu vực đó sử dụng như thế nào các nguồn lực: nhân lực, vật lực và tài nguyên. Các nguồn lực này đóng vai trò quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế, chính trị, xã hội giáo dục. Chúng có moi quan hé tac động qua lại lẫn nhau, trong đó, nguồn lực con người đóng vai trò quan trọng nhất quyết định đến sự thành công trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước đó, khu vực đó.
Dé phát triển co quan, tổ chức bền vững cần phải phát huy tối đa các nguồn lực sẵn có, đồng thời phải biết tạo dựng và tận dụng triệt để các nguồn ngoại lực. VỊ trí địa lí thuận lợi sẽ thúc day việc trao đổi, tiếp cận hay cùng phát triên giữa các vùng trong một nước, giữa các quôc gia với nhau và ngược lại. 15 Nguồn lực kinh tế - xã hội nhất là dân cư và nguồn lao động, nguồn vốn, khoa học - kĩ thuật và công nghệ, chính sách toàn cầu hóa, khu vực hóa và hợp tác, có vai tro quan trọng dé lựa chọn chiến lược phát triển phù hợp với điều kiện cụ thể trong từng giai đoạn. Trong giai đoạn hiện nay, công nghiệp hóa hiện đại hóa đã và đang tác động đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Đặc biệt hiện nay cả thế giới đang thực hiện cuộc các mạng khoa học công nghệ 4.0, thì phát triển nguồn lực là nhiệm vụ cấp bách hang dau. Đối với đất nước ta với xuất phát điểm là một nước nông nghiệp nên tất yếu phải tiến hành thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá dé phát triển nền kinh tế, mới bắt kip được su phát triển của các nước trên thế giới. Đó phải là một cuộc cách mạng toàn diện và sâu sắc trong tất cả các lĩnh vực của đời song xã hội, đặc biệt trong lĩnh vực giáo duc dé dao tạo nhân tài, xây dựng nên đội ngũ can bộ giỏi, các chuyên gia trình độ cao tham gia vào tiến trình công nghiệp, hiện đại hóa. Do đó việc xây dựng và phát triển các nguồn lực là hết sức cần thiết và có tính chiến lược lâu dài.
Đặc biệt phải phát huy cao độ các nguồn lực của các trường đại học nhằm xây dựng nên những cơ sở đào tạo uy tín có chất lượng dé từ đó mới đào tạo những con người mới có trình độ cao phục vụ cho sự nghiệp phát triển của đất nước. Nguồn lực trong các trường đại học 1. Nguồn lực phi vật chất Thương hiệu nhà trường' Thương hiệu của trường không những giúp nhà trường thu hút được đội ngũ giáo viên có chất lượng đến giảng dạy và làm việc, thu hút các sinh viên giỏi đến học tập và nghiên cứu, mà còn thu hút các nhà đầu tư từ khắp nơi đến dau tư phát triển. Đứng trước xu thé toàn cầu hóa, giáo dục đại học đang chuyển dần thành một thị trường dich vụ, các trường đại học đang chiu nhiều áp lực cạnh tranh từ các trường đại học khác, dé tồn tại và đứng vững các trường đại học bắt buộc phải xây dựng thương hiệu nhà trường.
Số lượng các trường đại ' https://dantri.vn/giao-duc-khuyen-hoc/tu-chu-dai-hoc-thuong-hieu-la-nhan-to-giup-duy- tri-su-ton-vong-cua-nha-truong- htm 16 học ngày càng tăng với các chương trình học tiên tiến, đội ngũ giáo viên giỏi được mời về giảng dạy, cơ sở vật chất trang thiết bị được đầu tư xây dựng, mua sắm làm cho cuộc cạnh tranh giữa các trường ngày càng gay gắt, khốc liệt. Trong cơ chế thị trường, giáo dục trở thành một loại hàng hóa, do đó, thương hiệu trường đại học có giá tri cũng tương tự như thương hiệu của mọi doanh nghiệp và tổ chức. Thương hiệu một trường dai học gan liền với ban sắc riêng và hình ảnh của nhà trường nhằm gây uy tín đối với người học, đối tác, nhà tuyên dụng và phân biệt với các trường khác trong hoạt động dao tạo. Thương hiệu của nhà trường phải được thể hiện ở chất lượng đầu ra của sinh viên, số lượng sinh viên có việc làm phù hợp với chuyên ngành được đào tạo và có thu nhập cao, đáp ứng đầy đủ các nhu cầu hằng ngày của người lao động.
Doi nett can bộ quan ly Trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, yêu cầu đổi mới giáo dục đòi hỏi phải có những thay đổi căn bản trong phát triển đội ngũ cán bộ quản lý. Điều này đòi hỏi người cán bộ quản lý giáo dục nói chung, cán bộ quản lý trường học nói riêng có những năng lực mới, đáp ứng nhiệm vụ quản lý nhà trường.