Nghiên cứu khoa học cấp trường: Bảo đảm bình đẳng giới trong tố tụng hình sự Việt Nam

Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường tập trung phân tích bảo đảm bình đẳng giới trong tố tụng hình sự tại Việt Nam, đề xuất giải pháp hiệu quả.

Chuyên ngành

Luật hình sự

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

nghiên cứu khoa học cấp trường

2023

273
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

DANH SÁCH CÁC THÀNH VIÊN THAM GIA

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

1.1. Khái niệm bình đẳng giới và bảo đảm bình đẳng giới trong tố tụng hình sự. Đặc điểm của bảo đảm bình đẳng giới trong tố tụng hình sự. Nội dung của bảo đảm bình đẳng giới trong tố tụng hình sự. Ý nghĩa của bảo đảm bình đẳng giới trong tố tụng hình sự

1.2. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: CHUẨN MỰC QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT MỘT SỐ QUỐC GIA VỀ BẢO ĐẢM BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

2.1. Bảo đảm bình đẳng giới trong các văn kiện quốc tế

2.2. Bảo đảm bình đẳng giới trong tố tụng hình sự một số quốc gia trên thế giới

3. CHƯƠNG 3: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VÀ THỰC TRẠNG THI HÀNH QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

3.1. Quy định pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về bảo đảm bình đẳng giới

3.2. Thực tiễn thi hành quy định pháp luật về bảo đảm bình đẳng giới trong tố tụng hình sự

3.3. Tiểu kết chương 3

4. CHƯƠNG 4: YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

4.1. Một số yêu cầu cụ thể khi hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự nhằm bảo đảm bình đẳng giới

4.2. Một số giải pháp bảo đảm bình đẳng giới trong tố tụng hình sự Việt Nam

4.3. Tiểu kết chương 4

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHẦN THỨ HAI: NỘI DUNG CÁC CHUYÊN ĐỀ CỦA ĐỀ TÀI

1. CHUYÊN ĐỀ 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

2. CHUYÊN ĐỀ 2: CHUẨN MỰC QUỐC TẾ VỀ BẢO ĐẢM BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

3. CHUYÊN ĐỀ 3: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VÀ THỰC TRẠNG THI HÀNH QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

4. CHUYÊN ĐỀ 4: YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

Tóm tắt

I. Giới thiệu và tính cấp thiết của nghiên cứu

Nghiên cứu khoa học về bình đẳng giới trong tố tụng hình sự tại Việt Nam là một đề tài có tính cấp thiết cao. Việc bảo đảm quyền bình đẳng giới không chỉ là yêu cầu của pháp luật hình sự mà còn là cam kết quốc tế của Việt Nam. Nghiên cứu này nhằm phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật, đặc biệt trong lĩnh vực tố tụng hình sự, để đảm bảo quyền bình đẳng giữa các giới. Đây là bước đi quan trọng trong việc thực hiện các chính sách bình đẳngcông bằng xã hội.

1.1. Bối cảnh và mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện trong bối cảnh Việt Nam đang nỗ lực hội nhập quốc tế và thực hiện các cam kết về bình đẳng giới. Mục tiêu chính là phân tích các quy định pháp luật hiện hành, đánh giá thực tiễn thi hành, và đề xuất giải pháp nhằm bảo đảm bình đẳng giới trong tố tụng hình sự. Nghiên cứu cũng hướng đến việc nâng cao nhận thức về giới tính trong pháp luậtquyền lợi phụ nữ.

1.2. Phương pháp tiếp cận

Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích pháp lý và so sánh với các chuẩn mực quốc tế. Các dữ liệu được thu thập từ các văn bản pháp luật, báo cáo thực tiễn, và các công trình nghiên cứu liên quan. Phương pháp này giúp đánh giá toàn diện các quy định về bình đẳng giới trong hệ thống tư pháp Việt Nam.

II. Cơ sở lý luận và pháp lý

Nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận về bình đẳng giới và các nguyên tắc pháp lý quốc tế. Bình đẳng giới được hiểu là sự công bằng trong việc hưởng thụ các quyền và nghĩa vụ giữa nam và nữ. Trong tố tụng hình sự, điều này đòi hỏi sự bảo đảm quyền lợi của các bên tham gia tố tụng, đặc biệt là phụ nữ. Nghiên cứu cũng phân tích các quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn thi hành tại Việt Nam.

2.1. Khái niệm và ý nghĩa của bình đẳng giới

Bình đẳng giới là một nguyên tắc cơ bản trong pháp luật Việt Nam và các chuẩn mực quốc tế. Nó đảm bảo rằng mọi cá nhân, không phân biệt giới tính, đều có quyền bình đẳng trước pháp luật. Trong tố tụng hình sự, điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền con ngườicông bằng xã hội.

2.2. Quy định pháp luật hiện hành

Các quy định về bình đẳng giới trong luật hình sự Việt Nam hiện nay chủ yếu tập trung vào việc bảo vệ quyền lợi phụ nữ. Tuy nhiên, các quy định này còn thiếu tính hệ thống và chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của các chuẩn mực quốc tế. Nghiên cứu chỉ ra sự cần thiết phải hoàn thiện các quy định này để đảm bảo bình đẳng giới một cách toàn diện.

III. Thực trạng và đánh giá

Nghiên cứu đánh giá thực trạng thi hành các quy định về bình đẳng giới trong tố tụng hình sự tại Việt Nam. Kết quả cho thấy, mặc dù đã có những tiến bộ nhất định, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế trong việc thực thi các quy định này. Đặc biệt, quyền lợi phụ nữ chưa được bảo đảm đầy đủ trong quá trình tố tụng.

3.1. Thực tiễn thi hành

Thực tiễn cho thấy, các cơ quan tiến hành tố tụng chưa thực sự nhạy cảm với các vấn đề về giới tính. Điều này dẫn đến việc quyền lợi phụ nữ bị xâm phạm trong một số trường hợp. Nghiên cứu đề xuất cần nâng cao nhận thức và kỹ năng cho các cán bộ tư pháp về bình đẳng giới.

3.2. Đánh giá hiệu quả

Nghiên cứu đánh giá hiệu quả của các quy định hiện hành và chỉ ra những điểm còn thiếu sót. Cần có sự điều chỉnh và bổ sung các quy định để đảm bảo bình đẳng giới một cách toàn diện, đặc biệt là trong việc bảo vệ quyền lợi phụ nữ.

IV. Giải pháp và kiến nghị

Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi các quy định về bình đẳng giới trong tố tụng hình sự. Các giải pháp bao gồm việc sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật, nâng cao nhận thức và kỹ năng cho các cán bộ tư pháp, và tăng cường giám sát việc thực thi các quy định này.

4.1. Hoàn thiện pháp luật

Cần sửa đổi, bổ sung các quy định trong Bộ luật Tố tụng Hình sự để đảm bảo bình đẳng giới một cách toàn diện. Đặc biệt, cần có các quy định cụ thể về việc bảo vệ quyền lợi phụ nữ trong quá trình tố tụng.

4.2. Nâng cao nhận thức và kỹ năng

Cần tổ chức các khóa đào tạo và tập huấn cho các cán bộ tư pháp về bình đẳng giớigiới tính trong pháp luật. Điều này sẽ giúp nâng cao nhận thức và kỹ năng của họ trong việc thực thi các quy định này.

21/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE BAO DAM BÌNH DANG GIỚI TRONG TO TUNG HINH SỰ 1. Khái niệm bình dang giới và bao đảm bình dang giới trong tô tụng hình sự 1. Khái niệm bình đẳng giới Thuật ngữ “giới” (tiếng Anh là “gender”) là một thuật ngữ được sử dụng trong lĩnh vực xã hội học và hiện có nhiều cách tiếp cận khác nhau. Theo từ điển Tiếng Việt thì: “Giới là lớp người trong xã hội phân theo một đặc điểm rat chung nào đó, về nghề nghiệp, địa vị xã hội”'.

Một quan điểm khác lại định nghĩa: “Giới bao gom các mối quan hệ và tương quan về địa vị xã hội của phụ nữ và nam giới trong một môi trường xã hội cụ thể, hay nói cách khác, giới là sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới trong quan hệ xã hội”. Hoặc có quan diém lại cho rằng: “Giới dùng để chỉ các đặc điểm, vị trí, vai trò và moi quan hệ xã hội giữa nam và nữ. Hay nói cách khác, giới là khái niệm dùng dé chỉ những đặc trưng xã hội của nam và nữ ”°. Mặc dù các quan điềm trên có sự khác nhau về cách diễn đạt khái niệm “giới” nhưng tác giả đều cho rằng giới là khái niệm không thé tách rời các môi quan hệ xã hội.

Trong khoa học pháp lý, khái niệm “giới” được qui định tại khoản 1 Điều 5 Luật Bình dang giới năm 2006 như sau: “Giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các môi quan hệ xã hội”. Như vay, khái niệm giới một phan được quy định bởi các yêu tô sinh học của giới tính (nam và nữ) kết hợp VỚI Các yếu tố bên ngoai được quyết định bởi các mối quan hệ xã hội (đặc điểm, vị trí, vai trò của giới tính). ' Trung tâm Từ điền học, Tir điển Tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, Hà Nội - Đà Nẵng, 2006, trợ.

> Lê Thị Chiêu Nghỉ, Giới và dự án phát triển, Nxb. Thành phô Hồ Chi Minh, 2001, trợ. 3 Lê Ngọc Hùng, Nguyễn Thị Mĩ Lộc, Xã hội học về giới và phát triển, Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội, 2000, trợ.

15 Như vậy, khái niệm “giới” và “giới tính” là không đồng nhất. Theo từ điển Tiếng Việt thì: “Giới tinh là những đặc điểm chung phân biệt nam với nữ, giống duc với giống cái””. Theo quan điểm xã hội học thì “giới tính là sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới về mặt y - sinh học ””. Khoản 2 Điều 5 Luật Bình dang giới năm 2006 cũng khang định rằng: “Giới tính chỉ các đặc điểm sinh học của nam, nữ”.

Giới tính là bam sinh, sẵn có từ lúc con người lọt lòng, trở thành một đối tượng trong xã hội (sinh ra đã mang giới tính nam hoặc nữ). Ngoài ra, giới tính là sản phẩm của quá trình tiến hóa sinh học ở trình độ cao, do vậy các đặc trưng giới tính hầu như không phụ thuộc vao thời gian, không gian. Từ ngàn xưa đến nay, về mặt sinh học, phụ nữ ở khắp nơi trên thế giới đều có đặc điểm sinh học đồng nhất và đối với nam giới cũng tương tự như vậy. Đề phân biệt các giới tính, các đặc điểm về mặt thể chất có thể được quan sát, xác định trong cầu tạo, giải phẫu, sinh lý người (giữa nam và nữ có những đặc điểm khác nhau về gen, cơ quan nội tiết, hoócmôn, co quan sinh dục.

Đồng thời, giới tính gan liền với một số chức năng sinh học, đặc biệt là chức năng sinh sản của con người. Vi dụ: nam giới có khả năng thụ thai còn phụ nữ có khả năng mang thai, đẻ con và cho con bú. Chính những đặc điểm trên cho chúng ta thấy sự phân biệt giữa khái niệm giới với khái niệm giới tính. Giới tính do yếu t6 sinh học quy định, còn giới do quan niệm xã hội và sự phân công lao động xã hội tạo nên (trên cơ sở phân biệt giới tính).

Dưới góc độ khoa học pháp lý, giới là các đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong các mối quan hệ xã hội, do đó giới có đặc điểm sau: Thứ nhất, giới được hình thành từ các quan điểm, quan niệm xã hội chứ không tự nhiên sinh ra. Giới là sản phẩm của xã hội và hình thành trong môi trường xã hội. Giới không mang tính bam sinh, di truyền mà bị quy định bởi điều kiện và môi trường sống của cá nhân, được hình thành và phát triển qua hàng loạt các cơ chế bắt chước, học tập, ám thị. Ví dụ: từ khi sinh ra, trẻ nam đã được dạy dỗ theo quan niệm nam giới thì phải mạnh mẽ, không được chơi búp * Trung tâm Từ điển học, Tldd, trợ.

> Lê Thị Chiêu Nghi, Tldd, trợ. 16 bê, phải dũng cảm; nữ giới phải dịu dàng, phải giúp mẹ làm công việc nội trợ. Như vậy, sở dĩ phụ nữ thường làm nội trợ không phải vì họ là phụ nữ, mà vì họ đã được dạy bảo dé làm việc đó từ khi còn nhỏ. Thứ hai, giới có tính đa dạng, phong phú cả về nội dung và hình thức, tinh chất.

Tính đa dạng, phong phú này thường bộc lộ qua suy nghĩ, tình cảm và hành vi của mỗi cá nhân, nhóm người. Ví dụ: nữ giới ở các quốc gia Hồi giáo thường chỉ ở trong nhà làm công việc nội trợ và phụ thuộc hoàn toàn vào nam giới. Nhưng tại các quốc gia châu Á, nữ giới lại đóng vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất nông nghiệp và đảm đương nguồn thu nhập chính của gia đình. Tại các quốc gia phát triển phương Tây, nữ giới tham gia nhiều vào các hoạt động cộng đồng, tham gia quản lý kinh tế, hoạt động lãnh đạo.

Thứ ba, giới luôn thay đổi và vận động không ngừng theo thời gian và không gian. Điều kiện kinh tế - xã hội nào thì quy định sự khác biệt về giới trong xã hội đó. Khi điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa, phong tục, tập quán, tôn giáo, đạo đức cũng như thể chế xã hội (bao gồm pháp luật, đường lối, chủ trương, chính sách) thay đổi (theo không gian và thời gian) thì quan hệ giới cũng được hình thành khác nhau. Ví dụ: Trước đây, ở các nước phương Tây chỉ có nam giới mới tham gia công việc xã hội và làm công tác quản lý, còn nữ giới ở nhà nội trợ, ngày nay nam giới và nữ giới tại các quốc gia này đều tham gia công tác xã hội và san sẻ công việc gia đình, làm nội trợ và chăm sóc con cái.

Thứ tw, giới có thé thay đổi dưới tác động của các yêu tố bên trong và bên ngoài, đặc biệt là về điều kiện xã hội. Giới nam (đặc điểm, vị trí, vai trò của nam trong quan hệ xã hội) và giới nữ (đặc điểm, vị trí, vai trò của nữ trong quan hệ xã hộn) có thể thay đôi vai trò trong một quan hệ xã hội cụ thể. Ví dụ: nam giới và nữ giới có thé đối vai trò cho nhau trong gia đình (nam giới đảm nhận công việc nội trợ, chăm sóc con cái thay cho nữ giới); hoặc thay đôi vai trò cho nhau trong xã hội (nữ giới giữ các cương vị như tổng thống, chủ tịch nước hay chủ tịch hội đồng quản trị trong doanh nghiệp thay vì đóng vai trò là cấp dưới và là người thừa hành). 17 Những phân tích trên cho thấy, muốn đạt được mục tiêu bình đăng gidi tỨC là bình dang xã hội giữa nam giới và nữ giới thì van đề không phải là thay đôi các đặc điểm sinh học về giới tính, mà cần phải thay đổi quan niệm, thế giới quan về vị trí, vai trò của nữ giới và nam giới cũng như thay đổi cách phân công lao động trong gia đình và xã hội.

Nội dung này cũng đã được thể tại khoản 3 Điều 5 Luật Bình dang giới năm 2006: “Binh đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phat huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đông, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó”. Theo nghĩa chung nhất, bình đăng được đề cập như một sự so sánh mang tinh xã hội giữa hai hay nhiều đối tượng cụ thé. Thông qua sự so sánh đó cho thấy giữa các đôi tượng này ngang hàng nhau vé dia vị và quyên lợi (bình: déu nhau; dang: thứ bậc)". Như vậy, bình đăng giới không phải là “cào băng” số lượng của nữ giới và nam giới, hay trẻ em trai và trẻ em gái tham gia vào các hoạt động xã hội.

Bình đắng giới có nghĩa là nam giới và nữ giới được công nhận và hưởng các vị thé ngang nhau trong xã hội. Đồng thời, sự tương đồng và khác biệt giữa nam và nữ được công nhận. Từ đó nam và nữ có thể trải nghiệm những điều kiện bình dang khác nhau trong quan hệ xã hội. Bình đăng giới khởi nguồn từ quyền bình đắng của con người và được xem xét thông qua lăng kính về giới.

Trên thế giới, quyền bình dang nói chung - cùng với quyên tự do - đã được đề cập như một trong những trụ cột chính trong hệ thống quyền con người theo khăng định tại Điều 1 của Tuyên ngôn thế giới về quyền con người (UDHR) đã được Liên hiệp quốc thông qua vào năm 1948: “Tat cả mọi người sinh ra déu tự do và bình dang về phẩm giá và các quyên ”. Nêu như các quyền tự do như tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo đều được bảo vệ thì việc bảo vệ các quyền con người nảy cũng phải bảo đảm sự bình đăng. Chang hạn như bảo vệ quyền bình đăng bằng cách chống lại mọi hình thức phân biệt đối xử trong hưởng thụ tất cả các quyên con người, bao gôm quyên bình đăng đây đủ giữa nam và nữ. Bình ° Hoàng Phê (chủ biên), Tir điển Tiếng Việt, Viện ngôn ngữ học, Nxb.

18 đăng giới là quyền con người”. Hiến pháp của Nhà nước ta qua các thời kỳ đều ghi nhận quyên bình đăng trước pháp luật nói chung và quyên bình đăng giới nói riêng”. Như vậy, bình đẳng giới là tư tưởng Hiến định, cốt lõi và xuyên suốt cho việc điều chỉnh các mối quan hệ trong xã hội. Bình đăng giới có các đặc điểm sau: Một là, tính ngang quyền: dé đạt được bình dang giới, nam giới và nữ giới cần được tạo điều kiện và cơ hội ngang băng nhau mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình.

Đặc điểm này cũng đã được quy định trở thành hai nguyên tắc cơ bản về bình đăng giới tại khoản 1, 2 Điều 6 Luật bình đăng giới năm 2006.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu khoa học cấp trường về bình đẳng giới trong tố tụng hình sự Việt Nam là một tài liệu quan trọng tập trung vào việc phân tích và đánh giá thực trạng bình đẳng giới trong quá trình tố tụng hình sự tại Việt Nam. Nghiên cứu này không chỉ làm rõ những thách thức mà phụ nữ phải đối mặt trong hệ thống tư pháp hình sự mà còn đề xuất các giải pháp nhằm đảm bảo sự công bằng và bình đẳng giới. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho các nhà nghiên cứu, luật sư và những người quan tâm đến lĩnh vực pháp lý, đặc biệt là vấn đề giới trong pháp luật hình sự.

Để hiểu sâu hơn về các khía cạnh liên quan đến pháp luật hình sự, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ luật học áp dụng pháp luật trong giải quyết vụ án hình sự của viện kiểm sát nhân dân từ thực tiễn tỉnh lạng sơn, Luận văn thạc sĩ luật học thủ tục xét xử vụ án hình sự đối với người dưới 18 tuổi, và Luận văn thạc sĩ luật học tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của nhà nước cơ quan tổ chức doanh nghiệp trong bộ luật hình sự 2015. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức về các vấn đề pháp lý cụ thể và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam.