Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE BÌNH ĐĂNG GIỚI TRONG LĨNH VUC LAO ĐỘNG 1.Một số khái niệm cơ bản về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động 1. Một số khái niệm về giới 1. Khai niệm giới Thuật ngữ “giới” theo tiếng Anh là “gender” là một thuật ngữ thường được sử dụng trong lĩnh vực xã hội học, thuật ngữ này mới được du nhập vào Việt Nam khoảng 20 năm trở lại đây và được thê hiện theo nhiều cách khác nhau. Có quan điểm cho rằng “Giới là một thuật ngữ dé chỉ vai trò xã hội, hành vi ứng xử xã hội và những kỳ vọng liên quan đến nam và nie".
Theo định nghĩa của tác giả Lê Thị Chiêu Nghi trong cuốn “giới và dự án phát triển” - nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh năm 2001 thì “Giới bao gỗm các mỗi quan hệ và tương quan về điều kiện xã hội của người phụ nữ và nam giới trong một môi trường xã hội cụ thể hay nói cách khác giới là sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới trong quan hệ xã hội”. Ngoài ra, trong cuốn “xã hội học về giới và phát triển” - nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2000 của hai tác giả Lê Ngọc Hùng và Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì “Giới dùng để chỉ các đặc điểm vị trí vai trò và mối quan hệ xã hội giữa nam và nữ hay nói cách khác giới là khái niệm dùng dé chỉ những đặc trưng xã hội của nam và nữ”. ! Xem “Đưa vấn dé giới vào phát triển thông qua sự bình dang giới về quyên, nguon lực, tiếng nói”.Van hóa - Thông tin Hà Nội 2001. ? Lương Văn Tuấn, “Thuc trạng thi hành Luật Bình đẳng giới ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”, Khóa luận tốt nghiệp, Huế, 5/2009.
3 Lương Văn Tuấn, “Thuc trạng thi hành Luật Bình đẳng giới ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”, Khóa luận tốt nghiệp, Huế, 5/2009. Như vậy, tuy các khái niệm trên có sự khác nhau về câu chữ trong cách diễn đạt nhưng nói chung quan điểm và xã hội học và các tác giả đều cho rằng giới là khái niệm dùng dé chi vị trí, vai trò của nam và nữ trong mỗi quan hệ xã hội. Nội dung khái niệm giới nêu trên đề cập đến những đặc điểm sau: Thứ nhất, tính đa dạng theo vùng miền. Ví dụ như phụ nữ ở các quốc gia Hồi giáo, thường phụ nữ chỉ ở trong nhà làm công việc nội trợ và phụ thuộc hoàn toan vào nam giới.
Nhưng tại các quốc gia châu Á, phụ nữ lại đóng vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất nông nghiệp và đảm đương nguồn thu nhập chính của gia đình. Tại các quốc gia phát triển như phương tây phụ nữ tham gia nhiều vào các hoạt động cộng đồng tham gia quản lý kinh tế hoạt động lãnh đạo. Thứ hai, tính có thé thay đổi được. Giới luôn thay đổi và vận động không ngừng theo thời gian và không gian.
Điều kiện kinh tế - xã hội nào thì quy định sự khác biệt về giới trong xã hội đó, khi điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa, phong tục tập quán, tôn giáo, đạo đức cũng như thê chế xã hội bao gồm pháp luật đường lối chủ trương chính sách thay đổi theo không gian cũng như thời gian thì quan hệ giới được hình thành khác nhau. Ví dụ trước đây ở các nước phương Tây chỉ có nam giới mới tham gia công việc xã hội và làm công tác quản lý còn phụ nữ ở nhà nội trợ. Ngày nay, nam giới và phụ nữ đều tham gia công tác xã hội và san sẻ công việc gia đình làm nội trợ và chăm sóc con cái. Thứ ba, không mang tính di truyền bam sinh mà chịu ảnh hưởng bởi điều kiện sống - xã hội trong bối cảnh cụ thé.
Giới được hình thành từ các quan điểm quan điểm xã hội chứ không tự nhiên sinh ra. Giới là sản phẩm của xã hội và hình thành trong môi trường xã hội. Ví dụ, từ khi sinh ra trẻ nam đã được dạy dỗ theo quan niệm con trai thì phải mạnh mẽ, không được chơi búp bê, phải dũng cảm; con gái phải dịu dàng, phải giúp mẹ làm công việc nội trợ. Như vậy sở dĩ phụ nữ thường làm nội trợ không phải vì họ là phụ nữ mà vì họ đã được dạy bảo đề làm việc đó từ khi còn nhỏ.
Song hành khi nghiên cứu về khái niệm giới là tìm hiểu về vai trò giới. Phụ nữ và nam giới thường có 3 vai trò giới như sau: Vai trò sản xuất: Các hoạt động làm ra sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ được tiêu dùng và trao đôi thương mại, đây là những hoạt động tạo ra thu nhập, được trả công. Cả phụ nữ và nam giới đều có thể tham gia vào các hoạt động sản xuất, tuy nhiên, do những định kiên trong xã hội nên mức độ tham gia của họ không như nhau va gia tri công việc 10 họ làm cũng không được nhìn nhận như nhau. Xã hội coi trọng và đánh giá cao vai trò này.
Vai trò tái sản xuất: Các hoạt động sinh đẻ, chăm sóc, nuôi dưỡng và dạy dỗ con cái.những hoạt động này là thiết yêu đối với cuộc sống con người, đảm bảo sự phát triển bền vững của dân số và lực lượng lao động, tiêu tốn nhiều thời gian nhưng không tạo ra thu nhập. Vì vậy mà ít khi được coi là “công việc thực sự”, được làm miễn phí, không được các nhà kinh tế đưa vào các con tính. Xã hội thường không coi trọng và đánh giá cao vai trò này. Hầu hết phụ nữ và trẻ em gái đóng vai trò và trách nhiệm chính trong các công việc tái sản xuất.
Vai trò cộng đồng: Bao gồm các sự kiện xã hội và dịch vụ. Ví dụ như thăm hỏi, động viên gia đình bị nạn trong thảm họa thiên tai; nấu ăn hoặc bố trí nhà tạm trú cho những gia đình bị mat nha ở; huy động cộng đồng đóng góp lương thực, thực pham cứu trợ người bị nạn. Công việc cộng đồng có ý nghĩa quan trọng trong sự việc phát triển văn hóa tỉnh thần của cộng đồng. Có lúc nó đòi hỏi sự tham gia tình nguyện, tiêu tốn thời gian, không được trả công nhưng cũng có những lúc đó được trả công.
Cả nam và nữ đều có khả năng tham gia vào cả 3 loại vai trò trên. Tuy nhiên, ở nhiều địa phương phụ nữ hau như đều phải đảm nhiệm vai trò tài sản xuất đồng thời cũng phải tham gia tương đối nhiều với các hoạt động sản xuất. Gánh nặng công việc gia đình của phụ nữ cản trở họ tham gia và cách tích cực và thường xuyên và các hoạt động cộng đồng. Kết quả là đàn ông có nhiều thời gian và cơ hội lớn hơn dé đảm nhận vai trò cộng đồng và rất ít khi tham gia vào các hoạt động tái sản xuất.
Sự hiểu biết sâu sắc về vai trò giới giúp chúng ta thiết kế các hoạt động phù hợp cho cả nam và nữ, từ đó thu hút được sự tham gia một cách hiệu quả của họ. Đồng thời góp phần làm giảm sự bất bình đăng trên cơ sở giới trong việc phân chia lao động xã hội. Thực tế cho thấy sự phân công lao động trong xã hội nhất định thường có xu hướng dựa vào đặc điểm giới tính. Theo đó, công việc họ đảm nhiệm có tác động tới vị thế cơ hội và chat lượng sông của môi người.
Khái niệm về giới tính Theo quan diém xã hội hoc trong cuôn “xã hội học về giới và phát triên” của hai tac giả Lê Hoàng Hùng và Nguyễn Thị Mỹ Lộc “Giới tính chỉ có đặc điểm sinh học của nam và nữ trong tát cả các môi quan hệ xã hd’. Với tac giả Lê Thị Chiêu Nghi trong cuôn II “giới và du án phát triển” thì “Giới tinh là sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới về mặt y - sinh hoc*’. Dưới góc độ khoa pháp ly, khái niệm giới tinh cũng lần đầu tiên được quy định cu thé tại khoản 2 Điều 5 Luật Bình dang giới theo đó “Giới tinh chỉ đặc điểm sinh học của nam hoặc nữ” Theo đó, khái niệm thê hiện đặc điểm sinh học của nam và nữ, giới tính có các đặc điểm sau đây: Thứ nhất, giới tính chỉ đặc trưng sinh học của nam, nữ; gắn liền với cá nhân từ khi sinh ra. Thứ hai, giới tính có tính chất đồng nhất.
Giữa nam và nữ ở khắp mọi nơi trên thế giới đều có sự khác biệt như nhau về mặt sinh học. Từ ngàn xưa đến nay về mặt sinh học phụ nữ ở khắp nơi trên thế giới đều có đặc điểm sinh học đồng nhất và đối với nam giới cũng tương tự như vậy. Ví dụ phụ nữ có bộ phận sinh dục nữ và có thê mang thai, nuôi con bang chính sữa me; ngược lại nam giới có bộ phan sinh duc nam va có thể sản xuất ra tinh trùng. Thứ ba, giới tính có tính chất bất biến.
Giới tính là sản phẩm của quá trình tiễn hóa sinh học ở trình độ cao, do vậy các đặc trưng giới tính hầu như không phụ thuộc vào thời gian không gian. Một số khái niệm về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động 1. Khái niệm lao động Lao động là một phạm trù thuộc các van đề xã hội và đây là vấn đề hết sức quan trọng, bởi lao động tạo ra của cải vật chất, phát triển kinh tế - xã hội các quốc gia, địa phương. Chính vì lẽ đó mà lao động là van đề được pháp luật quốc gia và quốc tế quan tâm điều chỉnh trong đó có van đề BĐG trong lĩnh vực lao động.
Một mặt, lao động là quá trình tác động giữa con người với tự nhiên, trong quá trình đó con người cải biến những vật tự nhiên làm cho nó thích ứng với nhu cầu của mình. Mặt khác, lao động luôn luôn được tiễn hành trong xã hội, vì vậy nó đòi hỏi những quan hệ nhất định giữa người với người trong quá trình tác động vào tự nhiên. * Lương Văn Tuan, “7ưực trang thi hành Luật Bình dang giới ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”, Khóa luận tốt nghiệp, Huê, 5/2009.Mác chỉ ra lao động là một điều kiện tồn tại của con người không phụ thuộc vào bat kỳ hình thái xã hội nào, là một sự tất yêu tự nhiên vĩnh cửu làm môi giới cho sự trao đổi chất giữa con người với tự nhiên tức là làm cho bản thân sự sống của con người.