Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Biến đổi khí hậu toàn cầu đang là vấn đề môi trường nghiêm trọng do sự gia tăng nồng độ khí nhà kính trong khí quyển, bắt nguồn chủ yếu từ hoạt động công nghiệp, nạn phá rừng và chuyển đổi mục đích sử dụng đất. Theo dự báo của Ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC), nhiệt độ trung bình toàn cầu có thể tăng từ 2°C đến 4°C vào cuối thế kỷ XXI nếu không có các biện pháp kiểm soát phát thải hiệu quả. Trong bối cảnh đó, các hệ sinh thái rừng nhiệt đới đóng vai trò là bể chứa carbon quan trọng, cung cấp các dịch vụ môi trường giúp hấp thụ và lưu giữ carbon dioxide ($CO_2$), góp phần giảm thiểu tác động của hiệu ứng nhà kính. Các cơ chế quốc tế như Cơ chế Phát triển Sạch (CDM) và chương trình Giảm phát thải từ mất rừng và suy thoái rừng (REDD) đã mở ra định hướng thương mại hóa tín chỉ carbon và chi trả dịch vụ môi trường rừng.

Trong hệ sinh thái rừng, tầng vật rơi rụng (bao gồm cành, lá, hoa, quả rụng xuống mặt đất và phân giải ở các mức độ khác nhau) là sản phẩm đặc trưng tham gia vào chu trình chu chuyển vật chất và năng lượng, cung cấp chất khoáng, mùn, duy trì độ ẩm đất và đóng vai trò như một bể chứa carbon hữu cơ quan trọng. Tuy nhiên, tại Việt Nam, phần lớn các nghiên cứu về sinh khối và trữ lượng carbon trước đây chủ yếu tập trung vào tầng cây gỗ trên mặt đất hoặc các trạng thái rừng trồng thuần loài, trong khi các nghiên cứu định lượng carbon tích lũy ở tầng vật rơi rụng của rừng tự nhiên phục hồi còn hạn chế.

Đề tài khóa luận tốt nghiệp "Nghiên cứu khả năng tích lũy $CO_2$ của vật rơi rụng dưới tán rừng phục hồi (IIA) tại xã La Bằng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên" của tác giả Nguyễn Lương Lĩnh (Chuyên ngành Nông lâm kết hợp, Khoa Lâm nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, năm 2015) được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống dữ liệu này.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể gồm 3 nội dung:

  1. Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng trạng thái phục hồi (IIA) tại xã La Bằng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
  2. Xác định lượng sinh khối vật rơi rụng dưới tán rừng trạng thái (IIA) tại khu vực nghiên cứu.
  3. Xác định lượng Carbon tích lũy và ước tính lượng $CO_2$ hấp thụ tương đương cùng giá trị thương mại carbon ở tầng vật rơi rụng dưới tán rừng trạng thái (IIA).

Đối tượng nghiên cứu là tầng vật rơi rụng (lá, hoa, quả, cành rụng có đường kính nhỏ hơn 5 cm và chiều dài dưới 50 cm) cùng các đặc trưng cấu trúc tầng cây gỗ và cây tái sinh của trạng thái rừng phục hồi IIA. Phạm vi không gian được thực hiện tại xã La Bằng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên (nơi có diện tích đất lâm nghiệp 1.345,32 ha và 1.518 ha rừng). Thời gian triển khai nghiên cứu thực địa và nội nghiệp từ tháng 01/2015 đến tháng 05/2015.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận dựa trên khung lý thuyết và cơ sở pháp lý quốc tế về biến đổi khí hậu, bao gồm Công ước khung của Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu (UNFCCC, thông qua năm 1992 tại Rio de Janeiro), Nghị định thư Kyoto (1997, có hiệu lực năm 2005) với các cơ chế thị trường như Cơ chế Phát triển Sạch (CDM), Cùng thực hiện (JI), Buôn bán hạn ngạch phát thải (IET), cùng định hướng quản lý rừng bền vững theo Thỏa hiệp Bali (2007) về chương trình REDD và các dự án trồng rừng/tái trồng rừng (AR-CDM). Về mặt sinh học và sinh thái, nghiên cứu vận dụng các lý thuyết về chu trình tuần hoàn vật chất trong hệ sinh thái rừng, chỉ số quan trọng sinh thái ($IVI$) của Thái Văn Trừng (1978), cùng các hướng dẫn kỹ thuật của IPCC về ước tính trữ lượng carbon từ sinh khối khô.

Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa điều tra thực nghiệm ngoại nghiệp và phân tích định lượng trong phòng thí nghiệm:

  • Phương pháp ngoại nghiệp:

    • Sử dụng bản đồ hiện trạng rừng năm 2015 của Trạm Kiểm lâm xã La Bằng để xác định vùng phân bố của rừng phục hồi trạng thái IIA.
    • Thiết lập 12 ô tiêu chuẩn (OTC) ngẫu nhiên điển hình với diện tích mỗi ô là $2.500\text{ m}^2$ ($50\text{ m} \times 50\text{ m}$), phân bố đại diện theo 3 vị trí địa hình: chân núi (4 OTC: 1, 4, 7, 10), sườn núi (4 OTC: 2, 5, 8, 11) và đỉnh núi (4 OTC: 3, 6, 9, 12).
    • Điều tra tầng cây gỗ: Đo đường kính ngang ngực ($D_{1.3}$) của toàn bộ cây có $D_{1.3} \ge 6\text{ cm}$; đo chiều cao vút ngọn ($H_{VN}$), chiều cao dưới cành ($H_{dc}$), đường kính tán ($D_t$) cho khoảng 30 cây mẫu trên mỗi OTC; ghi nhận tên loài để xác định công thức tổ thành theo chỉ số quan trọng $IVI% = \frac{N% + G%}{2}$ ($N%$ là tỷ lệ mật độ, $G%$ là tỷ lệ tiết diện ngang; chỉ các loài có $IVI \ge 5%$ mới được đưa vào công thức tổ thành).
    • Điều tra tầng cây tái sinh: Thống kê số lượng cá thể và xác định thành phần loài cây con tái sinh trên mỗi OTC.
    • Thu thập mẫu vật rơi rụng: Thiết lập 5 ô dạng bản (ÔDB) diện tích $1\text{ m}^2$ ($1\text{ m} \times 1\text{ m}$) tại 5 vị trí theo hai đường chéo của từng OTC. Thu gom toàn bộ vật rơi rụng (lá, hoa, quả, cành gãy mục có đường kính $D < 5\text{ cm}$ và chiều dài $L < 50\text{ cm}$), làm sạch đất đá dính bám, phân loại thành 2 nhóm: "Cành" và "Lá, hoa, quả". Cân xác định khối lượng tươi tại chỗ, sau đó trộn đều vật rơi rụng của 5 ÔDB trên một OTC và rút mẫu đại diện 5% khối lượng mang về phòng thí nghiệm.
  • Phương pháp nội nghiệp:

    • Cân kiểm tra lại sinh khối tươi nhằm xác định mức bốc hơi trong quá trình vận chuyển.
    • Băm nhỏ mẫu vật, trộn đều và lấy 30 g khối lượng tươi cho vào tủ sấy ở nhiệt độ từ 75°C đến 80°C trong khoảng thời gian từ 6 đến 8 giờ. Cân kiểm tra khối lượng định kỳ sau mỗi 2 giờ sấy; khi qua 3 lần cân liên tiếp thấy khối lượng không đổi thì ghi nhận đó là khối lượng khô kiệt.
    • Tính toán hàm lượng Carbon tích lũy ($C$) bằng cách áp dụng hệ số chuyển đổi mặc định của IPCC là 0,5: $\text{Lượng } C = \text{Sinh khối khô} \times 0,5$.
    • Tính lượng $CO_2$ hấp thụ tương đương theo công thức hóa học: $$\text{Lượng } CO_2 \text{ tương đương (tấn/ha)} = \frac{\text{Lượng } C \times 44}{12}$$
    • Ước tính giá trị thương mại carbon: Áp dụng mức giá tham khảo trong ngành lâm nghiệp là 5 USD/tấn $CO_2$.
    • Xử lý và phân tích số liệu: Tổng hợp dữ liệu bằng phần mềm Microsoft Excel.
  • Nguồn dữ liệu: Số liệu sơ cấp thu thập trực tiếp từ 12 ô tiêu chuẩn ($30.000\text{ m}^2$) và 60 ô dạng bản ($60\text{ m}^2$) tại xã La Bằng; tài liệu thứ cấp về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội cung cấp bởi UBND xã La Bằng và Trạm Kiểm lâm xã La Bằng.


Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu và sự phát triển của các cơ chế giảm phát thải như REDD, AR-CDM. Tác giả khẳng định vai trò của thảm vật rơi rụng dưới tán rừng như một bể chứa carbon hữu cơ quan trọng, đồng thời nêu rõ 3 mục tiêu nghiên cứu, đối tượng, phạm vi không gian tại xã La Bằng và ý nghĩa khoa học, thực tiễn của việc xác định giá trị hấp thụ $CO_2$ làm cơ sở định giá dịch vụ môi trường rừng.

Phần 2: Tổng quan nghiên cứu

Phần này hệ thống hóa các cơ sở khoa học và pháp lý quốc tế (UNFCCC, Nghị định thư Kyoto, các cơ chế CDM, REDD, khái niệm lâm nghiệp carbon - Carbon Forestry). Tác giả tổng hợp các công trình nghiên cứu trên thế giới về động thái lượng rơi rụng và tuần hoàn dinh dưỡng (Attiwill & Adam, Daniel & Adam, Levett, Weaver, Enright, Hermansah, Wilcke, Xiaoniu Xu, Adegbidi), cùng các nghiên cứu tại Việt Nam (Bảo Huy, Vũ Tấn Phương, Nguyễn Hoàng Trí, Hoàng Xuân Tý, Hà Văn Tuế, Ngô Đình Quế). Đồng thời, tác giả trình bày chi tiết đặc điểm tự nhiên, địa hình, khí hậu, thủy văn và kinh tế - xã hội của xã La Bằng (xã có 943 hộ, 3.769 nhân khẩu, 1.518 ha rừng với 1.096 ha thuộc Vườn Quốc gia Tam Đảo và 422 ha rừng sản xuất).

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Tác giả mô tả chi tiết quy trình bố trí thí nghiệm: lập 12 ô tiêu chuẩn $2.500\text{ m}^2$ và 60 ô dạng bản $1\text{ m}^2$; phương pháp đo đếm đường kính, chiều cao cây gỗ và cây tái sinh; kỹ thuật thu mẫu, phân loại cành và lá/hoa/quả; quy trình sấy mẫu trong tủ sấy ở 75–80°C đến khối lượng không đổi; và hệ thống công thức tính chỉ số $IVI$, sinh khối khô, trữ lượng carbon, lượng $CO_2$ quy đổi và giá trị kinh tế với đơn giá 5 USD/tấn $CO_2$.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu

Chương này trình bày toàn bộ các phát hiện định lượng thực nghiệm qua 8 bảng số liệu và 4 biểu đồ:

  1. Đặc điểm tầng cây gỗ và cây tái sinh:

    • Tầng cây gỗ có mật độ trung bình 316 cây/ha (dao động từ 288 đến 324 cây/ha, tương đương 72 đến 81 cây/OTC). Độ phong phú loài dao động từ 20 đến 23 loài/OTC (trung bình 22 loài/OTC). Tầng cây cao không có loài ưu thế tuyệt đối ($>50%$), số loài tham gia công thức tổ thành ($IVI \ge 5%$) dao động từ 6 đến 11 loài. Các loài xuất hiện phổ biến gồm: Kẹn, Lim xẹt, Thành ngạnh, Chẹo tía, Mán đỉa, Thẩu tấu.
    • Tầng cây tái sinh có mật độ trung bình 4.720 cây/ha (dao động từ 4.000 đến 5.520 cây/ha). Số loài cây tái sinh trung bình đạt 19 loài/OTC (dao động từ 16 đến 23 loài), trong đó có từ 6 đến 10 loài có triển vọng tham gia tổ thành (chủ yếu là Thành ngạnh, Mỡ, Kháo, Kẹn, Lim xẹt, Chò chỉ).
  2. Sinh khối tươi và sinh khối khô của vật rơi rụng:

    • Sinh khối tươi trung bình của tầng vật rơi rụng đạt 15,50 tấn/ha (dao động từ 10,38 tấn/ha ở OTC 12 đến 22,10 tấn/ha ở OTC 10). Trong đó, bộ phận cành đạt 8,143 tấn/ha (chiếm 52,5%), bộ phận lá, hoa, quả đạt 7,363 tấn/ha (chiếm 47,5%).
    • Sinh khối khô trung bình đạt 8,863 tấn/ha (dao động từ 4,408 tấn/ha ở OTC 5 đến 18,29 tấn/ha ở OTC 10). Trong đó, bộ phận cành khô đạt 4,623 tấn/ha (chiếm 52,2%), bộ phận lá, hoa, quả khô đạt 4,240 tấn/ha (chiếm 47,8%).
Dạng địa hình Số hiệu OTC Sinh khối tươi: Cành (tấn/ha) Sinh khối tươi: Lá, hoa, quả (tấn/ha) Tổng sinh khối tươi (tấn/ha) Sinh khối khô: Cành (tấn/ha) Sinh khối khô: Lá, hoa, quả (tấn/ha) Tổng sinh khối khô (tấn/ha)
Chân núi OTC 1 10,42 11,62 22,04 7,608 7,552 15,160
OTC 4 11,28 8,84 20,12 5,188 5,744 10,932
OTC 7 7,50 8,70 16,20 1,724 2,784 4,508
OTC 10 11,54 10,56 22,10 9,000 9,292 18,292
Sườn núi OTC 2 9,42 7,24 16,66 3,388 5,500 8,888
OTC 5 5,44 6,04 11,48 2,176 2,232 4,408
OTC 8 6,70 5,66 12,36 4,288 2,208 6,496
OTC 11 8,74 8,88 17,62 4,108 4,172 8,280
Đỉnh núi OTC 3 7,08 5,92 13,00 4,528 4,676 9,204
OTC 6 6,76 4,18 10,94 4,732 1,588 6,320
OTC 9 7,16 6,02 13,18 6,012 2,588 8,600
OTC 12 5,68 4,70 10,38 2,724 2,536 5,260
Trung bình 8,143 7,363 15,500 4,623 4,240 8,863
  1. Lượng Carbon, $CO_2$ tích lũy và giá trị thương mại:
    • Lượng Carbon tích lũy trung bình trong tầng vật rơi rụng đạt 4,4315 tấn C/ha (cành tích lũy 2,3115 tấn C/ha; lá, hoa, quả tích lũy 2,1200 tấn C/ha).
    • Lượng $CO_2$ hấp thụ tương đương đạt 16,25 tấn $CO_2$/ha (trong đó cành tương đương 8,48 tấn $CO_2$/ha; lá, hoa, quả tương đương 7,77 tấn $CO_2$/ha).
    • Giá trị thương mại từ dịch vụ lưu giữ carbon của tầng vật rơi rụng tại trạng thái rừng IIA xã La Bằng ước tính đạt trung bình 81,25 USD/ha (tương ứng mức đơn giá 5 USD/tấn $CO_2$).

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đã đưa ra các kết quả định lượng cụ thể về cấu trúc lâm phần và khả năng tích lũy carbon của tầng thảm mục dưới tán rừng phục hồi trạng thái IIA tại xã La Bằng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên:

  • Tầng cây gỗ có mật độ trung bình 316 cây/ha với cấu trúc đa loài (20–23 loài/OTC), không có loài chiếm ưu thế tuyệt đối, đại diện bởi các loài cây tiên phong ưa sáng mọc nhanh xen lẫn cây chịu bóng như Kẹn, Lim xẹt, Thành ngạnh, Chẹo tía. Tầng tái sinh đạt mật độ 4.720 cây/ha với 19 loài/OTC, thể hiện khả năng phục hồi tự nhiên tốt.
  • Sinh khối tươi của vật rơi rụng đạt trung bình 15,50 tấn/ha; sinh khối khô đạt trung bình 8,863 tấn/ha. Trong cấu trúc sinh khối, bộ phận cành chiếm tỷ trọng cao hơn bộ phận lá, hoa, quả (52,2% so với 47,8% ở sinh khối khô).
  • Lượng Carbon tích lũy trong tầng vật rơi rụng đạt 4,4315 tấn C/ha, tương đương với khả năng lưu giữ 16,25 tấn $CO_2$/ha.
  • Giá trị thương mại tiềm năng từ bể chứa carbon vật rơi rụng ước tính đạt 81,25 USD/ha.

Về mặt giải pháp, tác giả đề xuất cần tăng cường công tác quản lý, bảo vệ diện tích rừng phục hồi IIA hiện có tại địa phương; duy trì lớp thảm mục rơi rụng dưới tán rừng nhằm bảo vệ đất, giữ ẩm và bảo tồn bể chứa carbon tự nhiên; đồng thời sử dụng các kết quả tính toán sinh khối và carbon làm căn cứ xây dựng đường carbon cơ sở phục vụ cho các chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (PES) và tham gia các chương trình giảm phát thải (REDD/CDM).

Về mặt đóng góp học thuật, công trình bổ sung cơ sở dữ liệu định lượng thực nghiệm cho bể chứa carbon tầng vật rơi rụng tại vùng rừng tự nhiên nhiệt đới miền núi phía Bắc Việt Nam – một thành phần vốn ít được khảo sát độc lập so với sinh khối thân gỗ cây đứng.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có một số hạn chế gắn liền với phạm vi và điều kiện thực hiện:

  • Thời gian nghiên cứu thực địa diễn ra trong giai đoạn ngắn (từ tháng 01/2015 đến tháng 05/2015, thuộc giai đoạn cuối mùa khô chuyển sang đầu mùa mưa), chưa theo dõi được chu kỳ rơi rụng liên tục 12 tháng trong năm để đánh giá biến động sinh khối theo mùa một cách toàn diện.
  • Hàm lượng Carbon được xác định thông qua việc áp dụng hệ số chuyển đổi mặc định của IPCC (0,5 nhân với sinh khối khô), chưa tiến hành phân tích quang phổ hoặc đốt mẫu trực tiếp trong phòng thí nghiệm để xác định chính xác tỷ lệ C nguyên tố của từng loài cây.
  • Nghiên cứu chưa đo đạc đồng thời tốc độ phân giải của thảm mục cũng như các bể carbon liên quan khác (sinh khối cây đứng, rễ cây ngầm và carbon hữu cơ trong đất).

Hướng nghiên cứu tiếp theo được mở rộng:

  • Mở rộng thời gian quan trắc định kỳ theo từng tháng trong nhiều năm liên tiếp để xác định quy luật rơi rụng và tốc độ phân giải chất hữu cơ của thảm mục.
  • Kết hợp đo đạc đồng bộ toàn bộ 5 bể carbon trong hệ sinh thái rừng phục hồi IIA (cây đứng, cây bụi tái sinh, vật rơi rụng, gỗ chết và đất) nhằm xác định tổng trữ lượng carbon toàn diện của lâm phần.

Giá trị tham khảo

Công trình khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho các đối tượng và mục đích sau:

  • Sinh viên, học viên và cán bộ nghiên cứu chuyên ngành Lâm nghiệp, Quản lý tài nguyên rừng, Nông lâm kết hợp và Khoa học môi trường: có thể tham khảo phương pháp lập ô tiêu chuẩn $2.500\text{ m}^2$, kỹ thuật bố trí ô dạng bản $1\text{ m}^2$ thu mẫu vật rơi rụng theo đường chéo, quy trình sấy mẫu xác định khối lượng khô kiệt và các công thức tính chỉ số $IVI$, chuyển đổi sinh khối thành trữ lượng $CO_2$ tương đương.
  • Cán bộ quản lý lâm nghiệp địa phương, Ban quản lý Vườn Quốc gia Tam Đảo và lực lượng Kiểm lâm huyện Đại Từ: sử dụng số liệu thực tế về mật độ cây gỗ (316 cây/ha), cây tái sinh (4.720 cây/ha) và trữ lượng lưu giữ $CO_2$ của thảm mục (16,25 tấn $CO_2$/ha) làm cơ sở khoa học để xây dựng kế hoạch quản lý bảo vệ rừng và lập hồ sơ tham gia cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận nghiên cứu tại địa điểm nào và trên đối tượng cụ thể nào?
Khóa luận được thực hiện tại xã La Bằng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Đối tượng nghiên cứu là tầng vật rơi rụng (bao gồm lá, hoa, quả và cành cây rụng có đường kính $D < 5\text{ cm}$, chiều dài $L < 50\text{ cm}$) cùng đặc điểm cấu trúc cây gỗ và cây tái sinh của trạng thái rừng phục hồi IIA.

2. Mật độ cây gỗ và cấu trúc tổ thành loài của trạng thái rừng phục hồi IIA tại khu vực khảo sát như thế nào?
Mật độ cây gỗ trung bình đạt 316 cây/ha (dao động từ 288 đến 324 cây/ha). Độ phong phú loài trung bình đạt 22 loài/OTC. Cấu trúc tầng cây cao không có loài chiếm ưu thế tuyệt đối ($>50%$), số loài tham gia công thức tổ thành dao động từ 6 đến 11 loài với các loài chủ yếu như Kẹn, Lim xẹt, Thành ngạnh, Chẹo tía, Mán đỉa, Thẩu tấu.

3. Sinh khối tươi và sinh khối khô của vật rơi rụng dưới tán rừng IIA tại La Bằng đạt bao nhiêu?
Sinh khối tươi trung bình đạt 15,50 tấn/ha (dao động từ 10,38 đến 22,10 tấn/ha), trong đó cành chiếm 52,5% (8,143 tấn/ha) và lá/hoa/quả chiếm 47,5% (7,363 tấn/ha). Sinh khối khô trung bình đạt 8,863 tấn/ha (dao động từ 4,408 đến 18,29 tấn/ha), trong đó cành khô chiếm 52,2% (4,623 tấn/ha) và lá/hoa/quả khô chiếm 47,8% (4,240 tấn/ha).

4. Khả năng tích lũy Carbon, lượng $CO_2$ hấp thụ tương đương và giá trị thương mại ước tính của tầng vật rơi rụng là bao nhiêu?
Áp dụng hệ số mặc định IPCC (0,5), lượng Carbon tích lũy trung bình đạt 4,4315 tấn C/ha. Lượng $CO_2$ hấp thụ tương đương quy đổi đạt 16,25 tấn $CO_2$/ha. Với đơn giá tham khảo trong lâm nghiệp là 5 USD/tấn $CO_2$, giá trị thương mại carbon của tầng vật rơi rụng ước tính đạt 81,25 USD/ha.

5. Quy trình thu thập và xử lý mẫu vật rơi rụng được tiến hành như thế nào?
Trên mỗi ô tiêu chuẩn $2.500\text{ m}^2$, tác giả lập 5 ô dạng bản $1\text{ m}^2$ theo đường chéo để thu gom toàn bộ vật rơi rụng, phân loại thành 2 phần (cành và lá/hoa/quả), cân tươi tại chỗ, trộn đều và lấy mẫu đại diện 5%. Tại phòng thí nghiệm, mẫu được băm nhỏ, cân 30 g tươi rồi sấy trong tủ sấy ở nhiệt độ 75–80°C trong 6–8 giờ đến khi khối lượng không đổi để xác định sinh khối khô kiệt.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Lương Lĩnh đã cung cấp bức tranh định lượng chi tiết về cấu trúc lâm phần và năng lực lưu giữ carbon của tầng vật rơi rụng dưới tán rừng phục hồi trạng thái IIA tại xã La Bằng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Kết quả xác định sinh khối khô trung bình của vật rơi rụng đạt 8,863 tấn/ha, tích lũy 4,4315 tấn C/ha, tương đương 16,25 tấn $CO_2$/ha và có giá trị kinh tế thương mại ước đạt 81,25 USD/ha. Công trình là tài liệu tham khảo có giá trị phương pháp luận và cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm quan trọng phục vụ công tác quản lý rừng bền vững và chi trả dịch vụ môi trường rừng tại địa phương.