Đặt vấn đề Sự biến đổi khí hậu (BĐKH) đang là vấn đề nổi cộm và được ghi nhận trong vài thập kỉ trở lại đây, nó đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng. Tiềm ẩn những tác động tiêu cực tới sinh vật và các hệ sinh thái và ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sống của con người. Biến đổi khí hậu là hiện tượng trái đất nóng dần lên do nhiều yếu tố, và nguyên nhân gây ra biến đổi khí hậu chủ yếu là do các hoạt động liên quan đến con người, nhiều nghiên cứu đã kết luận nạn phá rừng, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, hoạt động công nghiệp là nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng nhanh chóng nồng độ khí nhà kính (KNK) trong khí quyển. Biểu hiện rõ nhất là sự nóng lên của trái đất làm cho nhiệt độ ở các đại dương tăng dần lên, làm tan băng ở các vùng cực đới, dẫn tới khí hậu của trái đất biến đổi.
Hạn hán bão lũ xảy ra ngày một tăng, nước biển ngày càng dâng cao, thời tiết bất thường, bão lũ, sóng thần động đất, dẫn đến thiếu lương thực, thực phẩm và xuất hiện hàng loạt dịch bệnh trên người, gia súc,gia cầm…đây được coi là thách thức lớn của con người trong thế kỷ 21. Nguồn phát sinh KNK là sử dụng năng lượng từ việc đốt cháy nhiên liệu, sản xuất công nghiệp, sản xuất năng lượng, công nghiệp hóa chất, công nghiệp chế tạo (các khu chế xuất,khai thác khoáng sản, sản xuất hóa chất…), sản xuất nông lâm nghiệp (sử dụng phân bón, cháy rừng…) và quản lý chất thải. Theo dự báo của Ban Liên Chính Phủ về biến đổi khí hậu đến cuối thế kỉ XXI, nhiệt độ trung bình toàn cầu sẽ tăng 2-4°C so với cuối thế kỉ XX. Nếu lượng khí thải nhà kính giữ ở mức năm 2000 thì cuối thế kỉ XXI nhiệt độ trung bình toàn cầu vẫn tăng 2°C.
n 2 Khi đó các hệ sinh thái rừng không chỉ đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc cung cấp lâm sản cho sản xuất và đời sống, mà còn quan trọng hơn là việc cung cấp các dịch vụ môi trường rừng, trong đó hấp thụ và lưu giữ carbon là một trong các dịch vụ góp phần vào giảm sự phát thải KNK và biến đổi khí hậu toàn cầu. Nhằm ngăn chặn phát thải KNK, giảm thiểu sự ấm lên toàn cầu và biến đổi khí hậu, Dưới sự chủ tọa của liên hợp quốc tại lima, Peru đã diễn ra Hội nghị lần thứ 20 các bên tham gia công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (COP 20) và hội nghị lần thứ 10 các bên tham gia nghị định thư kyoto (CMP 10) từ ngày 01-12/12/2014. Đây cũng là hội nghị cuối cùng trước thời hạn chót các nước kí kết hiệp định mới thay thế cho Nghị định thư kyoto tại hội nghị năm sau tại Paris (Pháp). Trên cơ sở của nghị định thư kyoto 1997- sẽ thảo luận các biện pháp cũng như đưa ra các cam kết bảo vệ môi trường hiện đang bị hủy hoại nghiêm trọng do tác động của con người.
Hội nghị COP-20 nhằm hướng tới một hiệp định tổng quan mang tính ràng buộc về pháp lý nhằm giảm lượng khí thải gây ra hiệu ứng nhà kính, nguyên nhân dẫn đến trái đất nóng lên, trên cơ sở của nghị định thư kyoto. Hiện nay nhiệt độ toàn cầu đang tăng gây ra những tác động nghiêm trọng, từ băng tan dẫn tới mực nước biển tăng dẫn đến sự diệt vong của các loài sinh vật. Để có thế đảo ngược xu hướng đó, theo lộ trình, thế giới phải cắt giảm lượng khí thải từ 40 đến 70% từ nay tới năm 2050 và lượng khí thải cần trở về 0 vào cuối thế kỉ này. Kết quả tại hội nghị COP-20 tại peru đã có những tín hiệu tích cực ban đầu.Trên cơ sở đó các bên cũng đang tập trung xem xét các giải pháp lâm nghiệp, đặc biệt là bảo vệ và phát triển rừng - giải pháp quan trọng trong giảm thiểu phát thải KNK.
Vào ngày 15 tháng 12 năm 2007, dưới sự chủ toạ của Liên Hiệp Quốc, 187 quốc gia thành viên trên thế giới đã ký một thỏa hiệp gọi là Thỏa hiệp n 3 Bali (Indonesia) trong Hội nghị thay đổi khí hậu(Climate Change Conference). Hội đồng liên chính phủ về biến đổi khí hậu (The Intergovernmental Panel on Climate Change - IPCC) dự báo khoảng 1,5 tỷ tấn carbon sẽ phát thải hàng năm do thay đổi sử dụng đất rừng nhiệt đới, chiếm 1/5 khí CO 2 phát thải trên toàn thế giới – nhiều hơn cả phát thải toàn cầu trong ngành giao thông. Lần đầu tiên, hội nghị đã nêu lên chương trình giúp đỡ việc hạn chế sự phá hủy vùng rừng nhiệt đới trên thế giới để giảm thiểu phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính "Giảm thiểu khí phát thải từ suy thoái và mất rừng" (Reducing Emissions from Deforestation and Degradation - REDD). Hội nghị cũng đã chính thức công bố các dự án thử nghiệm cho phép các nước đang phát triển có thể tham gia chương trình REDD.
Theo đó các nước phát triển sẽ đáp ứng một số mục tiêu giảm phát thải của nước họ bằng cách mua các tín dụng carbon của các nước đang phát triển từ những cánh rừng hấp thụ CO2. Một số dự án REDD đang được thực hiện ở châu Á nhằm mục đích chính thức đưa chương trình này vào nội dung tiếp theo của Nghị định thư Kyoto bắt đầu từ năm 2013. Ở Việt Nam, để chuẩn bị tham gia chương trình REDD, tại Hà Nội từ ngày 3- 6/11/2008, Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã tổ chức hội thảo quốc tế: “Quản lý rừng bền vững ở các quốc gia lưu vực sông MêKông để lưu giữ carbon trong chương trình REDD- chuẩn bị các khía cạnh kỹ thuật cho REDD”. Kết quả hội thảo này cho thấy cần xây dựng hệ thống ước tính carbon lưu trữ quốc gia, bao gồm xây dựng đường carbon cơ sở, giám sát sự thay đổi diện tích rừng, chất lượng rừng, tính toán lượng carbon hấp thụ của rừng tự nhiên và nâng cao năng lực cho cộng đồng trong giám sát hấp thụ CO2 của rừng.
Phương pháp nghiên cứu hấp thụ CO2 của rừng trên thế giới đã được nhiều tổ chức nghiên cứu và xây dựng, tuy nhiên các phương pháp này cần được tiếp tục phát triển đối với hệ sinh thái rừng nhiệt đới để đưa ra giải pháp n 4 xác định, dự báo lượng carbon tích lũy một cách khoa học và có tính thực tiễn khi tham gia chương trình REDD cũng như phục vụ cho sau này. Riêng ở nước ta cho đến nay chưa có nhiều nghiên cứu đầy đủ và hoàn chỉnh về xác định lượng carbon trong hệ sinh thái rừng tự nhiên Việt Nam. Vật rơi rụng như lá, cành, hoa, quả. rơi xuống mặt đất tạo thành lớp thảm dưới tán cây và bị phân giải ở những mức độ khác nhau.
Nó là sản phẩm đặc trưng và là một thành phần của hệ sinh thái rừng giữ vai trò quan trọng trong đời sống của rừng. Thảm mục rơi rụng là một trong những hình thức của quá trình chu chuyển vật chất và năng lượng, trả lại phần nào chất dinh dưỡng khoáng và mùn cho đất. Là môi trường sinh sống và nguồn dinh dưỡng chính cho vi sinh vật đất và một số loài động vật khác. Nó có tác dụng điều hoà nhiệt độ đất rừng, giữ ẩm, điều hoà nguồn nước, ngăn cản dòng chảy trên mặt đất, tăng lượng nước thấm, giảm lượng bốc hơi mặt đất, có ảnh hưởng đến tái sinh, sinh trưởng và phát triển của rừng.
Đồng thời nó cũng là một bể chứa carbon của quần thể rừng. Do vậy việc nghiên cứu lượng carbon tích lũy ở vật rơi rụng dưới tán rừng phục hồi IIA nhằm cung cấp cơ sở khoa học cho việc xác định đường carbon – cơ sở trong việc thiết kế và triển khai các dự án về giảm thải KNK cũng như sự nóng lên toàn cầu là rất quan trọng. Nghiên cứu khả năng cố định CO2 của rừng nhằm định giá kinh tế của rừng, mà các nước có nguồn phát thải khí CO2 lớn phải trả lại phí môi trường nhằm bảo vệ sinh thái toàn cầu. Nghiên cứu hấp thụ CO2 của rừng đã được nhiều tổ chức quốc tế xây dựng phương pháp, tuy nhiên cần chú ý đến rừng tự nhiên nhiệt đới để đưa ra giải pháp các định lượng carbon tích lũy khoa học và thực tiễn hơn.
Xuất phát từ thực tiễn đó tôi đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu khả năng tích lũy CO2 của vật rơi rụng dưới tán rừng phục hồi (IIA) tại Xã La Bằng, Huyện Đại Từ, Tỉnh Thái Nguyên” n 5 1. Mục đích nghiên cứu Góp phần ứng dụng và phát triển để phương pháp ước lượng và dự báo năng lực tích lũy CO2 ở tầng vật rơi rụng rừng phục hồi (IIA), tại xã La Bằng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên làm cơ sở định giá giá trị của rừng. Mục tiêu nghiên cứu - Nghiên cứu được đặc điểm cấu trúc rừng trạng thái (IIA) tại xã La Bằng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. - Xác định lượng sinh khối vật rơi rụng dưới tán rừng trạng thái (IIA) tại xã La Bằng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
- Xác định được lượng C tích lũy ở vật rơi rụng dưới tán rừng trạng thái (IIA) tại xã La Bằng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài 1. Ý nghĩa học tập và nghiên cứu khoa học Thực hiện đề tài này, sinh viên có khả năng lập kế hoạch nghiên cứu hợp lí, tổng hợp, phân tích và đánh giá kết quả, cũng như viết một báo cáo nghiên cứu, một phần việc quan trọng cho công việc trong tương lai. Tích lũy được kỹ năng học tập và quan sát, thực hành.
Hiểu rõ các hoạt động diễn biến xảy ra trong tự nhiên cũng như sự tác động của con người vào tự nhiên. Ý nghĩa thực tiễn sản xuất Ngày nay, đất nước ta đang sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên khoáng sản cũng như chất đốt của con người bừa bãi làm cho nồng độ CO 2 ngày càng tăng nhanh. Nghiên cứu này giúp ta biết được sự ảnh hưởng của CO2 đến môi trường và tác dụng của vật rơi rụng với hấp thụ CO2. Qua nghiên cứu và thực hiện đề tài ta xác định được hàm lượng CO2 được hấp thụ từ đó làm cơ sở để thu phí môi trường và định hướng phát triển sạch (ARCMD) n 6 Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.
Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 2.