Tổng quan nghiên cứu

Lúa gạo là nguồn lương thực thiết yếu nuôi sống hơn 3 tỷ người trên toàn cầu và cung cấp khoảng 60% tổng năng lượng trong khẩu phần ăn hàng ngày của người dân châu Á. Tại Việt Nam, cây lúa giữ vị trí đặc biệt quan trọng khi đóng góp tới 90% tổng sản lượng lương thực quốc gia và trực tiếp tạo sinh kế cho 70% dân số khu vực nông thôn. Mặc dù Việt Nam đã khẳng định vị thế cường quốc xuất khẩu gạo đứng thứ hai thế giới với sản lượng xuất khẩu đạt 7,72 triệu tấn vào năm 2012, áp lực từ quá trình đô thị hóa và biến đổi khí hậu đang đặt ra những thách thức lớn đối với an ninh lương thực.

Tại tỉnh Thái Nguyên, tổng diện tích đất tự nhiên là 353.172 ha, nhưng diện tích đất canh tác lúa năm 2013 chỉ đạt khoảng 48.033 ha, chiếm xấp xỉ 13,6% diện tích tự nhiên. Với đặc thù tiểu vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh kéo dài, năng suất lúa bình quân của tỉnh đạt khoảng 56 tạ/ha. Mặc dù diện tích gieo cấy lúa thuần chất lượng cao đã tăng từ 7.600 ha năm 2009 lên trên 8.000 ha năm 2013, địa phương vẫn thiếu các bộ giống lúa có năng suất vượt trội, phẩm chất gạo cao và khả năng chống chịu sâu bệnh tốt thích hợp cho vụ Xuân.

Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá toàn diện khả năng sinh trưởng, phát triển, mức độ chống chịu sâu bệnh và các yếu tố cấu thành năng suất của 6 giống lúa trong điều kiện vụ Xuân 2012 và vụ Xuân 2013 tại Thái Nguyên. Kết quả khảo nghiệm thực địa là cơ sở khoa học quan trọng để tuyển chọn các dòng giống lúa thuần thích ứng tốt, giúp thay thế các giống cũ thoái hóa, nâng cao hiệu quả kinh tế thêm 6 đến 7 triệu đồng trên mỗi hecta canh tác cho bà con nông dân.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Đề tài vận dụng lý thuyết di truyền học số lượng và sinh lý học cây trồng để phân tích mối quan hệ tương hỗ giữa kiểu gen và điều kiện ngoại cảnh. Năng suất lúa được hình thành dựa trên mô hình ba yếu tố cấu thành then chốt: số bông trên đơn vị diện tích, số hạt chắc trên bông và khối lượng 1000 hạt. Theo các nghiên cứu sinh lý thực vật kinh điển, số bông trên một mét vuông đóng góp tới 74% vào sự biến động năng suất tổng thể, trong khi hai yếu tố còn lại chiếm 26%.

Khung lý thuyết của đề tài tập trung vào năm khái niệm cơ bản: thời gian sinh trưởng, khả năng đẻ nhánh hữu hiệu, tính chống đổ ngã, sức sống chịu lạnh giai đoạn mạ và chỉ số chống chịu sâu bệnh hại. Quá trình phát dục của cây lúa chịu sự kiểm soát của hệ thống gen quy định thời gian trỗ và hệ thống gen cảm ứng quang chu kỳ. Chiều cao cây liên quan mật thiết đến khả năng chống đổ thông qua sự hiện diện của gen lùn lặn sdl. Đồng thời, nghiên cứu kế thừa các quy luật di truyền về tính kháng rầy nâu mang gen Bph và gen kháng vi khuẩn bạc lá Xanthomonas oryzae nhằm đánh giá mức độ thích ứng sinh thái của các dòng lúa Japonica và Indica thuần chủng.

Phương pháp nghiên cứu

Thí nghiệm đồng ruộng được triển khai tại Trung tâm thực hành thực nghiệm thuộc Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên trong hai vụ Xuân liên tiếp năm 2012 và năm 2013. Đất thí nghiệm là loại đất thịt nhẹ chuyên canh lúa nước, có hệ thống tưới tiêu chủ động. Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 6 giống lúa: Khang Dân 18 làm đối chứng, DS1, J01, HT1, Séng Cù và Khẩu Nậm Xít. Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp khối ngẫu nhiên hoàn toàn gồm 6 công thức với 3 lần nhắc lại. Tổng diện tích khu thí nghiệm là 216 m2, diện tích mỗi ô tiêu chuẩn là 12 m2 với kích thước 3m x 4m.

Phương pháp chọn mẫu tuân thủ nghiêm ngặt Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia QCVN 01-55:2011/BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Mật độ cấy duy trì 35 khóm trên một mét vuông, cấy 1 dảnh mỗi khóm với khoảng cách 20 cm x 14,2 cm. Quy trình thâm canh áp dụng lượng bón 10 tấn phân chuồng kết hợp 100 kg N, 80 kg P2O5 và 100 kg K2O trên mỗi hecta. Phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên 10 khóm trên hai hàng liên tiếp được áp dụng để theo dõi động thái đẻ nhánh và chiều cao; lấy mẫu 5 khóm mỗi ô để phân tích trong phòng thí nghiệm; gặt toàn bộ ô 12 m2 khi lúa chín 85 đến 90% để xác định năng suất thực thu ở độ ẩm chuẩn 14%. Toàn bộ dữ liệu được phân tích phương sai thông qua phần mềm IRRISTAT 5.0 và Microsoft Excel để so sánh giá trị trung bình theo tiêu chuẩn LSD ở mức xác suất tin cậy 95%.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo nghiệm sinh trưởng giai đoạn mạ trong vụ Xuân 2012 cho thấy giống DS1 và J01 có sức sống mạ vượt trội nhất đạt điểm 1, khả năng chịu rét đạt điểm 1 khi nhiệt độ tháng 1 hạ thấp xuống 12,8°C. Chiều cao cây mạ của DS1 đạt 10,7 cm và J01 đạt 10,0 cm, cao hơn chắc chắn so với giống đối chứng Khang Dân 18 chỉ đạt 7,0 cm với sức sống kém đạt điểm 5 và mức chịu lạnh yếu đạt điểm 9. Giống bản địa Khẩu Nậm Xít đạt chiều cao mạ lớn nhất là 11,3 cm nhưng sức sống chỉ ở mức trung bình đạt điểm 3.

Về thời gian sinh trưởng, giống Khẩu Nậm Xít có chu kỳ dài nhất đạt 159 ngày và DS1 đạt 134 ngày, thuộc nhóm giống dài ngày trong vụ Xuân. Giống J01 đạt 124 ngày, tương đương Khang Dân 18 với 125 ngày thuộc nhóm trung ngày; trong khi HT1 và Séng Cù chín sớm hơn với thời gian sinh trưởng lần lượt là 107 ngày và 113 ngày.

Đặc điểm hình thái và khả năng đẻ nhánh ghi nhận sự phân hóa rõ rệt giữa các kiểu gen. Giống Khẩu Nậm Xít có chiều cao cây cuối cùng lên tới 180,5 cm và 15 lá, cao hơn hẳn so với các giống còn lại dao động từ 103,5 cm đến 110,4 cm. Giống DS1 dẫn đầu về số dảnh hữu hiệu đạt 6,7 dảnh trên khóm và tỷ lệ dảnh hữu hiệu đạt 58,3%, cao hơn có ý nghĩa thống kê ở mức sai số 5% so với đối chứng Khang Dân 18 đạt 6,3 dảnh trên khóm và tỷ lệ 54,8%. Tỷ lệ dảnh hữu hiệu của J01 đạt 56,8% và HT1 đạt 56,5%, trong khi Khẩu Nậm Xít chỉ đạt mức thấp nhất là 45,8%.

Về khả năng chống chịu sâu bệnh, giống DS1 và J01 thể hiện tính kháng hoàn toàn với rầy nâu khi đạt điểm 0 tuyệt đối. Khả năng kháng sâu đục thân của hầu hết các giống đạt điểm 1 với tỷ lệ dảnh héo dưới 10%, riêng giống HT1 không ghi nhận sự xuất hiện của sâu đục thân và đạt điểm 0. Mức độ nhiễm bệnh đốm nâu ở tất cả 6 giống đều ở mức nhẹ với điểm 1, diện tích vết bệnh dưới 4%.

Thảo luận kết quả

Khả năng chống chịu lạnh vượt trội của các giống gốc ôn đới như DS1 và J01 bắt nguồn từ nền tảng di truyền thuộc dòng lúa Japonica có nguồn gốc từ Nhật Bản. Bộ lá dày, phiến lá đanh cứng và hàm lượng chất khô cao giúp cây mạ duy trì quá trình trao đổi chất ổn định trong các đợt rét nàng Bân kéo dài vào tháng 1 và tháng 2 tại miền Bắc. Ngược lại, giống Khang Dân 18 và HT1 thuộc dòng Indica chịu nhiệt nên sinh trưởng chậm, lá ngả vàng khi nhiệt độ môi trường giảm sâu dưới 14°C.

Nếu chuyển tải toàn bộ dữ liệu theo dõi thành biểu đồ cột ghép kết hợp đường biểu diễn, người đọc sẽ thấy rõ mối tương quan nghịch giữa chiều cao cây và tỷ lệ dảnh hữu hiệu. Giống Khẩu Nậm Xít tiêu tốn quá nhiều quang hợp cho việc vươn thân đạt mức 180,5 cm dẫn đến số dảnh vô hiệu tăng cao và nguy cơ đổ rạp khi gặp gió lớn cuối vụ. Trong khi đó, biểu đồ biến thiên số dảnh của DS1 và J01 thể hiện sự đẻ nhánh gọn gàng, tập trung từ ngày thứ 24 sau gieo, tối ưu hóa quá trình quang hợp quần thể. Kết quả này tương đồng với các mô hình thử nghiệm tại Lào Cai và Yên Bái, nơi giống DS1 đạt năng suất trung bình 6,0 đến 6,5 tấn trên mỗi hecta, đem lại giá trị thương phẩm cao hơn 1,5 lần so với các giống lúa thuần đại trà.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, mở rộng quy mô gieo cấy giống lúa thuần Japonica DS1 và J01 trong cơ cấu vụ Xuân muộn tại các vùng thâm canh lúa của tỉnh Thái Nguyên. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Trung tâm Khuyến nông tỉnh đặt mục tiêu nâng tỷ lệ diện tích gieo trồng hai giống lúa chất lượng này lên 25 đến 30% tổng diện tích lúa thuần toàn tỉnh trong giai đoạn 2015 đến 2018, giúp gia tăng giá trị thu nhập từ 6 đến 7 triệu đồng trên một hecta cho các hộ nông dân.

Thứ hai, chuẩn hóa quy trình kỹ thuật gieo cấy vụ Xuân cho các giống lúa mới. Phòng Nông nghiệp các huyện cần hướng dẫn nông dân gieo mạ khay có che phủ nilon từ ngày 18 đến 23 tháng 1 để tránh rét hại, cấy tập trung vào đầu tháng 2 khi mạ đạt từ 2,5 đến 3 lá. Áp dụng nghiêm ngặt mật độ cấy 35 khóm trên một mét vuông và công thức bón phân cân đối gồm 10 tấn phân hữu cơ cùng 100 kg N, 80 kg P2O5 và 100 kg K2O trên mỗi hecta nhằm kiểm soát tỷ lệ nhánh vô hiệu xuống dưới 42%.

Thứ ba, triển khai chương trình chọn lọc và phục tráng nguồn gen lúa đặc sản bản địa Séng Cù và Khẩu Nậm Xít. Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cùng các viện nghiên cứu chuyên ngành cần chủ trì đề tài lai tạo trong khung thời gian 3 năm từ 2015 đến 2017, can thiệp giảm chiều cao thân cây của giống Khẩu Nậm Xít từ mức 180,5 cm xuống dưới 120 cm để khắc phục nhược điểm đổ ngã, đồng thời nâng tỷ lệ hạt chắc trên bông lên trên 85%.

Thứ tư, xây dựng mô hình liên kết chuỗi giá trị sản xuất và bao tiêu lúa gạo chất lượng cao. Ủy ban nhân dân cấp huyện chỉ đạo các hợp tác xã nông nghiệp ký kết hợp đồng thu mua trực tiếp lúa thương phẩm DS1 và J01 với các doanh nghiệp chế biến nông sản, định vị mức giá bán cao hơn lúa đại trà khoảng 40 đến 50%, bảo đảm thị trường tiêu thụ ổn định cho người sản xuất.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Cán bộ quản lý ngành nông nghiệp và khuyến nông viên cấp cơ sở tại các tỉnh trung du miền núi phía Bắc có thể sử dụng số liệu thực nghiệm để xây dựng lịch thời vụ gieo cấy chi tiết, chỉ đạo chuyển đổi cơ cấu cây trồng vụ Xuân thích ứng với biến đổi khí hậu trên quy mô hàng nghìn hecta.

Các nhà khoa học và chuyên gia chọn tạo giống cây trồng có thể khai thác các dữ liệu về đặc tính hình thái, động thái đẻ nhánh và khả năng kháng rầy nâu đạt điểm 0 của dòng Japonica để làm vật liệu khởi đầu cho các chương trình lai tạo giống lúa thuần chất lượng cao thế hệ mới.

Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Khoa học cây trồng, Nông học có thể sử dụng luận văn làm tài liệu giảng dạy và nghiên cứu thực hành tiêu chuẩn về phương pháp bố trí thí nghiệm khối ngẫu nhiên hoàn toàn RCBD với 3 lần nhắc lại, cũng như quy trình xử lý thống kê nông học qua phần mềm IRRISTAT 5.0.

Ban quản trị các hợp tác xã nông nghiệp và chủ trang trại trồng trọt có thể áp dụng toàn bộ gói kỹ thuật thâm canh từ mật độ cấy 35 khóm trên một mét vuông đến định lượng bón phân cân đối để tổ chức sản xuất lúa hàng hóa chất lượng cao, tối đa hóa lợi nhuận ròng trên từng đơn vị diện tích đất canh tác.

Câu hỏi thường gặp

Giống lúa DS1 có những ưu điểm nông học nào nổi bật nhất trong vụ Xuân tại Thái Nguyên? Giống DS1 thể hiện khả năng chịu rét và sức sống mạ vượt trội đạt điểm 1 tuyệt đối khi nhiệt độ xuống thấp 12,8°C. Giống có chiều cao cây lý tưởng 106,2 cm, tỷ lệ dảnh hữu hiệu đạt cao nhất 58,3% với 6,7 dảnh trên khóm, kháng hoàn toàn rầy nâu đạt điểm 0 và cho giá trị kinh tế cao hơn các giống thông thường từ 6 đến 7 triệu đồng trên mỗi hecta.

Tại sao giống lúa bản địa Khẩu Nậm Xít lại có nguy cơ đổ ngã cao và hiệu quả đẻ nhánh thấp? Số liệu thực nghiệm chỉ ra Khẩu Nậm Xít có chiều cao thân cây lên tới 180,5 cm và 15 lá, khiến trọng tâm cây lúa bị nâng cao và thân mềm dễ gãy đổ khi chịu giông gió. Cây tiêu hao nhiều dưỡng chất nuôi thân lá nên tỷ lệ dảnh hữu hiệu chỉ đạt 45,8% với 5,4 dảnh trên khóm, thấp nhất trong 6 giống thí nghiệm.

Quy trình bón phân cho các giống lúa thí nghiệm được áp dụng theo định mức nào? Thí nghiệm áp dụng đồng bộ quy trình thâm canh chuẩn cho 1 hecta gồm 10 tấn phân chuồng ủ hoai, 100 kg đạm nguyên chất N, 80 kg lân P2O5 và 100 kg kali K2O. Bón lót toàn bộ phân chuồng, phân lân cùng 40% đạm và 30% kali trước khi cấy, số phân còn lại chia làm 2 đợt bón thúc sau cấy 15 đến 20 ngày và 40 đến 50 ngày.

Khả năng kháng sâu đục thân và rầy nâu của các giống lúa thí nghiệm được đánh giá ra sao? Giống DS1 và J01 thể hiện ưu thế vượt trội khi kháng rầy nâu tuyệt đối ở thang điểm 0. Đối với sâu đục thân, giống HT1 hoàn toàn không bị hại đạt điểm 0, trong khi các giống DS1, J01, Khang Dân 18, Séng Cù và Khẩu Nậm Xít đều bị hại nhẹ ở mức điểm 1 với tỷ lệ dảnh héo hoặc bông bạc dưới 10%.

Điều kiện thời tiết khí hậu vụ Xuân tại Thái Nguyên ảnh hưởng như thế nào đến quá trình gieo cấy lúa? Trong hai năm theo dõi, nhiệt độ tháng 1 dao động thấp từ 12,8°C đến 14,0°C kèm lượng mưa thấp từ 11,4 đến 48,8 mm gây cản trở cho mạ non. Nhiệt độ tăng dần lên 20,0°C đến 29,4°C từ tháng 3 đến tháng 6 tạo điều kiện thuận lợi cho lúa làm đòng và trỗ chín nhưng cũng làm gia tăng áp lực phát sinh sâu bệnh hại.

Kết luận

  • Đánh giá toàn diện các đặc tính sinh trưởng, phát triển của 6 giống lúa đại diện cho dòng Japonica, Indica và giống bản địa qua 2 vụ Xuân 2012 và 2013 tại Thái Nguyên.
  • Xác định giống DS1 và J01 có khả năng chịu rét xuất sắc đạt điểm 1, tỷ lệ dảnh hữu hiệu cao đạt tới 58,3% và tính kháng rầy nâu đạt điểm 0 tuyệt đối.
  • Làm rõ các hạn chế sinh học của giống lúa đặc sản Khẩu Nậm Xít về chiều cao cây 180,5 cm và thời gian sinh trưởng dài 159 ngày nhằm phục vụ công tác lai tạo phục tráng.
  • Chuẩn hóa gói giải pháp kỹ thuật canh tác gồm mật độ 35 khóm trên một mét vuông và công thức phân bón cân đối 10 tấn phân chuồng kết hợp 100N - 80P2O5 - 100K2O.
  • Cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn giúp ngành nông nghiệp địa phương chuyển đổi cơ cấu giống lúa chất lượng cao, nâng cao thu nhập cho người trồng lúa.

Công trình nghiên cứu đã đóng góp nguồn dữ liệu thực nghiệm chuẩn xác, hỗ trợ đắc lực cho công tác quy hoạch vùng sản xuất lúa hàng hóa và định hướng chọn tạo giống cây trồng miền núi. Trong giai đoạn 2015 đến 2020, các địa phương cần đẩy mạnh xây dựng các mô hình trình diễn diện rộng, hoàn thiện quy trình thâm canh cải tiến và liên kết doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm. Hãy liên hệ với các trung tâm khuyến nông hoặc cơ quan nghiên cứu nông nghiệp gần nhất để tiếp cận bộ giống lúa Japonica ưu việt và áp dụng quy trình thâm canh chuẩn nhằm nâng cao năng suất mùa vụ ngay hôm nay.