Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở khoa học Lúa gạo là nguồn lương thực quan trọng của khoảng 3 tỷ người trên thế giới. Trong khi dân số thế giới tiếp tục tăng thì diện tích đất dùng cho trồng lúa không tăng. Do đó vấn đề lương thực đặt ra mối đe dọa đến sự an ninh và ổn định của thế giới trong tương lai.
Theo dự đoán của các chuyên gia dân số học, nếu dân số thế giới tiếp tục tăng trong 20 năm tới thì sản lượng lúa gạo phải tăng 80% mới đáp ứng được đủ nhu cầu sống còn của số dân số mới. Đối với Việt Nam, lúa gạo chiếm tới 90% sản lượng lương thực và ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống của 70% dân số sống ở nông thôn. Để đúc kết kinh nghiệm sản xuất trong nông nghiệp của người xưa, tục ngữ có câu “nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”. Đúng vậy, giống là một trong bốn tiền đề quan trọng để tạo nên năng suất và chất lượng hạt gạo.
Giống lúa đóng vai trò quan trọng trong việc sản xuất lương thực, nó làm tăng năng suất sản lượng lúa gạo, góp phần quan trọng trong việc ổn định an ninh lương thực. Công tác giống được chú trọng phát triển cùng với các biện pháp kỹ thuật chăm sóc và khả năng đầu tư sẽ làm cho nền nông nghiệp nước ta phát triển nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng nông sản. Giống lúa mới được coi là tốt phải có độ thuần cao, thể hiện đầy đủ các yếu tố di truyền của giống đó, khả năng chống chịu tốt với các điều kiện bất lợi của môi trường ở nhiều vùng khí hậu khác nhau, chịu thâm canh, kháng sâu bệnh, năng suất cao, phẩm tốt tốt. Muốn phát huy hết tiềm năng của giống đó phải tạo điều kiện thuận lợi nhất cho chúng sinh trưởng, phát triển và canh tác đúng quy trình kỹ thuật.
Các giống có khả năng phản ứng khác nhau với điều kiện sinh thái ở các vùng khác nhau. Xác định được một số giống tốt cho từng vùng sản xuất n 5 nông nghiệp là việc làm cần thiết, đặc biệt là trong điều kiện ngày nay khi khí hậu có nhiều diễn biến bất thường. Một giống mới trước khi đưa ra sản xuất trên diện tích rộng thì giống đó cần phải được được trồng thử nghiệm để có những kết luận chính xác về khả năng thích ứng vì giống là tiền đề của năng suất và phẩm chất. Một giống lúa được coi là tốt thì phải thoả mãn một số yêu cầu sau: [8] - Sinh trưởng, phát triển tốt trong điều kiện khí hậu, đất đai và điều kiện canh tác tại địa phương.
- Cho năng suất cao, ổn định qua các năm khác nhau trong giới hạn biến động của thời tiết. - Có khả năng chống chịu tốt với điều kiện ngoại cảnh bất thuận và sâu bệnh. - Có chất lượng đáp ứng yêu cầu sử dụng. Muốn phát huy hết tiềm năng năng suất của một giống tốt phải sử dụng chúng hợp lý, phù hợp với đất đai, điều kiện khí hậu và kinh tế xã hội của vùng đó.
Để đa dạng hóa nguồn giống lúa ở các thời vụ khác nhau, đồng thời có thể khai thác triệt để tiềm năng đất đai, khí hậu của vùng trung du miền núi phía Bắc (vùng có mùa Đông lạnh khá dài), đề tài là cơ sở ban đầu để có thể tìm ra một kiểu gen tốt. Một kiểu gen tốt chỉ được biểu hiện trong những phạm vi nhất định của ngoại cảnh. Vì vậy, trước tiên cần phải nghiên cứu, đánh giá toàn diện rồi kết hợp các đặc tính riêng để tranh thủ tìm ra các dòng, giống lúa tốt. Thái Nguyên là tỉnh miền núi có tiểu vùng khí hậu mang đặc điểm chung của khí hậu vùng miền núi Bắc bộ.
Hệ thống thủy lợi tương đối hoàn chỉnh, trình độ dân trí ngày càng được nâng cao, khả năng tiếp cận, đón nhận, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất rất nhanh, thuận lợi cho việc phát triển vùng chuyên canh tác các giống lúa lai, giống lúa chất lượng cao tham gia vào thị trường. n 6 Những năm gần đây, sản xuất nông nghiệp tại Thái Nguyên tăng trưởng rõ nét cả về chất cũng như lượng, đặc biệt trong việc sản xuất lúa. Với diện tích tuy không lớn nhưng do việc cải tiến các khâu kỹ thuật đồng bộ và áp dụng các tiến bộ kỹ thuật thâm canh mới về giống lúa, phân bón cân đối và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hợp lý nên năng suất lúa năm 2013 của Thái Nguyên đạt khoảng 56 tạ/ha, cao hơn so với nhiều tỉnh trong vùng và tương đương với bình quân cả nước. Đạt được kết quả như vậy là do các cấp, các ngành thường xuyên quan tâm, hướng dẫn, đôn đốc chỉ đạo cải tiến các khâu kỹ thuật đồng bộ như giống, thời vụ, phân bón, biện pháp canh tác,.
Việc chỉ đạo chuyển đổi cơ cấu gieo trồng từ gieo cấy lúa thuần có năng suất thấp sang gieo cấy lúa lai có năng suất cao và chuyển từ lúa có năng suất cao sang gieo cấy lúa có chất lượng tốt đáp ứng nhu cầu tiêu dùng đã và đang được nhân dân trong tỉnh hưởng ứng mạnh mẽ. Năm 2009 diện tích gieo cấy lúa thuần chất lượng chỉ khoảng 7.600 ha, đến năm 2013 đã tăng lên 8. Bước đầu hình thành các vùng sản xuất lúa chất lượng, đạt hiệu quả kinh tế cao nhưng mới chỉ phát triển một số giống lúa năng suất còn thấp, chưa chú trọng trên giống lúa có năng suất cao hơn. Do vậy, việc lựa chọn những giống lúa có chất lượng tốt đồng thời có năng suất cao phù hợp với điều kiện canh tác của địa phương để bổ sung vào cơ cấu giống lúa của tỉnh Thái Nguyên là việc làm rất cần thiết.
[10] Các giống lúa DS1, J01, HT1 là những giống lúa thuần chất lượng cao, đã được thử nghiệm khả năng thích ứng và cho kết quả khả quan trên nhiều vùng sinh thái khác nhau của nước ta. Hai giống lúa Séng Cù và Khẩu Nậm Xít là hai giống lúa đặc sản, bản địa của tỉnh Lào Cai cũng đã được thử nghiệm khả năng thích ứng ở một số vùng thấp của tỉnh, kết quả là các giống này có khả năng thích ứng tốt với điều kiện sinh thái của một số huyện trong tỉnh Lào Cai. Nhằm mục đích tìm ra và bổ sung vào cơ cấu giống lúa thuần chất lượng của tỉnh Thái Nguyên, chúng tôi đã đề xuất đề tài nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống lúa nêu trên tại tỉnh Thái Nguyên. Tình hình sản xuất và nghiên cứu lúa trên Thế giới n 7 Lúa là một trong 3 cây lương thực chủ yếu trên thế giới.
Có trên 40% dân số thế giới coi lúa gạo là nguồn lương thực chính, trên 25% dân số thế giới sử dụng gạo trên ½ khẩu phần lương thực hàng ngày. Vì vậy, lúa gạo có ảnh hưởng tới ít nhất 65% dân số thế giới. Phạm vi trồng lúa trên thế giới rất rộng, từ xích đạo đến 50 vĩ độ Bắc và 35 vĩ độ Nam, từ vùng thấp đến vùng cao, từ những vùng nóng ẩm của Ấn Độ đến các vùng sa mạc có tưới ở Pakistan và độ cao 2500 m so với mực nước biển. Lúa có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau, từ phù sa màu mỡ cho đến các loại đất cát, đất sét, đất bạc màu, đất trũng ngập úng, nghèo dinh dưỡng và pH từ 3-10.
Điều đó chứng tỏ cây lúa có khả năng thích ứng rất rộng với những điều kiện khác nhau trên thế giới. Theo thống kê của FAO có trên 114 nước trồng lúa nước và phân bố ở trên 5 châu lục với sự biến động về số lượng và diện tích như sau: Bảng 1. Tình hình sản xuất lúa trên Thế giới giai đoạn 1970 - 2012 Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) 1970 132,873 23,808 316,346 1980 144,412 27,482 396,871 1990 146,960 35,286 518,568 2000 154,060 38,904 599,355 2001 151,944 39,477 599,828 2002 147,626 38,705 571,387 2003 148,508 39,531 587,069 2004 150,553 40,384 607,990 2005 154,944 40,943 634,392 2006 155,250 41,304 641,240 2007 154,986 42,401 657,150 2008 157,655 43,706 689,044 2009 158,368 43,240 684,780 2010 153,652 43,736 672,016 2011 163,143 44,290 722,559 2012 163,463 43,940 718,345 Nguồn: Số liệu thống kê của FAOSTAT, 2013 [19] n 8 Qua bảng 1.1 ta thấy, diện tích canh tác lúa có xu hướng tăng dần trong giai đoạn 1970 đến 2012. Song tăng mạnh nhất vào thập kỷ 70, 80 của thế kỷ XX, sau đó tốc độ tăng chậm dần và có xu hướng ổn định vào những năm đầu của thế kỷ XXI.
Về năng suất cũng có xu hướng tương tự. Trong 4 thập kỷ cuối của thế kỷ XX năng suất lúa tăng gấp 2 lần từ 23,8 tạ/ha năm 1970 đến 38,9 tạ/ha năm 2000, sau đó năng suất lúa vẫn tăng nhưng tốc độ tăng chậm dần. Đến năm 2012, năng suất lúa bình quân của thế giới đạt 43,9 tạ/ha. Về sản lượng lúa toàn thế giới cũng có xu hướng tương tự.
Năm 2012, sản lượng lúa toàn thế giới đạt 718, 34 triệu tấn. Trong những năm gần đây, để nâng cao sản lượng lúa và đảm bảo an toàn thực phẩm cho người dân, các nhà khoa học trên thế giới đã không ngừng nghiên cứu chọn tạo ra các giống lúa mới với những tính năng ưu việt như năng suất cao, hạt gạo dẻo, hàm lượng dinh dưỡng cao, khả năng chống chịu bệnh, có gen tổng hợp các kháng sinh tự nhiên,…. Vào đầu những năm 60, Viện nghiên cứu lúa gạo Quốc tế (IRRI) đã được thành lập ở Philippin. Đây là cơ quan nghiên cứu nông nghiệp đầu tiên do nhóm nghiên cứu nông nghiệp quốc tế CGAR quản lý.
Viện này đã tập trung vào lĩnh vực nghiên cứu lai tạo và đưa ra sản xuất nhiều giống lúa các loại, tiêu biểu như dòng IR, Jasmin. Năm 1962, IRRI đã nhận được 1530 giống lúa địa phương góp phần nhân lên 12. Năm 1977 đã chính thức khai trương ngân hàng gen cây lúa, thu thập và bảo quản ở trên 110 quốc gia trên thế giới. Năm 1975, IRRI đã chính thức hợp tác với Việt Nam trong chương trình thử nghiệm giống quốc tế, Viện đã lai tạo và chọn lọc thành công nhiều giống lúa tốt được trồng phổ biến ở nhiều nước trên thế giới như IR6, IR8, IR20, IR26 và rất nhiều giống lúa mới, do đó đã tạo sự nhảy vọt về năng suất và phẩm chất ở những vùng trồng lúa trên thế giới.
Cho đến nay, IRRI đã có những tập đoàn giống và nguồn gen lúa rất đa dạng và phong phú. Trong những năm tới, Viện đang hướng tới mục tiêu chọn tạo n 9 được những giống có năng suất cao đạt 12-13 tấn/ha gọi là “siêu lúa”.