Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Tính trạng sản xuất của gia cầm * Bản chất di truyền của các tính trạng sản xuất Theo Nguyễn Văn Thiện (1995) [17] các tính trạng sản xuất là các tính trạng như tính trạng số lượng, khối lượng cơ thể, kích thước các chiều đo, năng suất trứng, khối lượng trứng. hầu hết các tính trạng về năng suất của gia súc, gia cầm như sinh trưởng sinh sản.
đều là những tính trạng số lượng. Phần lớn sự thay đổi trong quá trình tiến hoá của sinh vật cũng là sự thay đổi của các tính trạng số lượng. Khác với các tính trạng chất lượng, tính trạng số lượng chịu ảnh hưởng rất lớn bởi các yếu tố ngoại cảnh. Tuy các điều kiện bên ngoài không làm thay đổi cấu trúc di truyền, nhưng nó tác động làm phát huy hoặc kìm hãm việc biểu hiện hoạt động của các gen.
Về mặt đại thể các yếu tố ảnh hưởng đến tính trạng số lượng được biểu hiện qua công thức sau: P = G +E Trong đó: - P là giá trị kiểu hình (Phenotypic value); - G là giá trị kiểu gen (Genotypic value); - E là sai lệch môi trường (Environmental deviation). Giá trị kiểu gen (G) hoạt động theo 3 phương thức: cộng gộp, trội và át gen. Từ đó cũng có thể biểu hiện: G = A + D +I Trong đó: - G là giá trị kiểu gen (Genotypic value); - A là giá trị cộng gộp (Additive value); - D là giá trị sai lệch trội (Dominance deviation); c 4 - I là giá trị sai lệch tương tác (Interaction deviation). Ngoài ra các tính trạng số lượng còn chịu ảnh hưởng của nhiều môi trường.
Có hai loại môi trường chính: - Môi trường chung (Eg) do các yếu tố môi trường tác động lên toàn bộ các cá thể trong nhóm vật nuôi. Loại yếu tố này có tính chất thường xuyên như ẩm độ, nhiệt độ, ánh sáng. - Môi trường riêng (Es) do các yếu tố môi trường tác động riêng rẽ lên từng cá thể trong nhóm vật nuôi, hoặc ở 1 giai đoạn nhất định trong đời con vật. Loại này có tính chất không thường xuyên.
Nếu bỏ qua mối tương tác giữa di truyền và ngoại cảnh thì quan hệ của kiểu hình (P), kiểu gen (G) và môi trường (E) của một cá thể biểu thị: P = A + D + I + Eg + Es Qua phân tích trên cho thấy các giống gia cầm cũng như các sinh vật khác, con cái đều nhận ở bố mẹ một số gen quy định những tính trạng số lượng nào đó. Các tính trạng đó được xem như nhận từ bố mẹ một khả năng di truyền, nhưng khả năng đó có phát huy được hay không còn phụ thuộc vào môi trường như: chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý. Người ta có thể xác định các tính trạng số lượng qua mức độ tập trung (Xg), mức độ biến dị (Cv %), hệ số di truyền tính trạng (h2), hệ số lặp lại của các tính trạng (R), hệ số tương quan (r) giữa các tính trạng. * Sức sống và khả năng kháng bệnh của gia cầm Sức sống của gia cầm là một tính trạng số lượng, nó đặc trưng cho từng giống, từng dòng, từng cá thể.
Trong cùng một giống, sức sống của mỗi dòng là khác nhau, các cá thể khác nhau thì khác nhau nhưng nằm cùng trong giới hạn của phẩm giống. Sức sống của vật nuôi được xác định thông qua khả năng chống đỡ bệnh tật, khả năng thích nghi với điều kiện ngoại cảnh. Trong chăn nuôi người ta thường lấy tỷ lệ nuôi sống để đánh giá sức sống của vật nuôi trong giai đoạn khảo nghiệm, như giai đoạn nuôi từ sơ sinh đến khi giết mổ hoặc loại thải. Trong công tác lai tạo, khi dùng những dòng, giống có sức sống cao thì con lai sẽ thừa hưởng những tính chất trội khả năng này.
Nghiên cứu về vấn c 5 đề này Fairfull và cs, (1990) [43] cho biết ưu thế lai về sức sống là rất cao, giao động từ 9-24%. Theo tài liệu của Gavora và cs,(1990) [44] thì hệ số di truyền của sức kháng bệnh là 25%, hệ số di truyền về tỷ lệ nuôi sống và sức kháng bệnh phụ thuộc vào dòng, giống, giới tính. Khả năng sinh sản ở gia cầm và các yếu tố ảnh hưởng * Khả năng sinh sản - Tuổi thành thục về tính dục Các giống khác nhau thì tuổi thành thục về tính dục cũng khác nhau. Tuổi đẻ quả trứng đầu của gà Lương Phượng Hoa trong khoảng 157-160 ngày (Trần Công Xuân và cs, 2004) [38], của gà Sasso SA31L là 150 ngày (Đoàn Xuân Trúc và cs, 2004) [30], gà Kabir giao động từ 179-187 ngày (Lê Thị Nga 2004) [13].
Thí nghiệm của Morris và cs (1967) [45] trên gà Legohrn được ấp nở quanh năm cho biết, những gà được ấp nở vào tháng 12 và tháng 1 thì nó có tuổi thành thục về tính là 150 ngày. Những gà được ấp nở từ tháng 4 đến tháng 8 thì tuổi thành thục trên 170 ngày. Những gà nở sau đó có tuổi thành thục về tính ngắn hơn vì thời gian sinh trưởng giai đoạn hậu bị của chúng diễn ra trong những ngày có thời gian chiếu sáng giảm dần, sau đó ánh sáng lại tăng dần lên, do vậy sẽ kích thích cơ quan sinh dục phát triển và rút ngắn tuổi thành thục về tính dục. - Cường độ đẻ trứng Cường độ đẻ trứng là sức đẻ trứng của gia cầm trong một khoảng thời gian nhất định.
Cường độ đẻ trứng có thể tính theo độ dài trật đẻ hoặc tỷ lệ đẻ bình quân trong một giai đoạn. - Trật đẻ Trật đẻ là khoảng thời gian mà gia cầm đẻ trứng liên tục. Độ dài trật đẻ phụ thuộc vào giống, thời gian chiếu sáng, thức ăn và thời gian đòi ấp. c 6 - Sản lượng trứng Sản lượng trứng là số lượng trứng của một gia cầm mái đẻ ra trong một chu kỳ đẻ hoặc trong một thời gian nhất định, có thể tính theo tháng hoặc theo năm.
Fairfull và cs (1990) [43] cho biết: Khi điều kiện môi trường thích hợp (nhiệt độ, ánh sáng, dinh dưỡng.) nhiều gen tham gia điều khiển quá trình liên quan đến sinh sản đều phát huy tác dụng, cho phép gia cầm phát huy được đầy đủ tiềm năng di truyền của chúng. Hệ số di truyền về sản lượng trứng của gà là 0,12 - 0,3 (Nguyễn Văn Thiện, 1995) [16]. * Các yếu tố ảnh hưởng đến sản lượng trứng của gia cầm - Ảnh hưởng của tuổi thành thục về tính Tuổi thành thục về tính của gia cầm có ảnh hưởng rõ ràng đến sản lượng trứng trong chu kỳ đẻ đầu và chu kỳ đẻ tiếp theo. Gà thành thục về tính quá sớm sẽ đẻ trứng nhỏ với thời gian dài, ảnh hưởng xấu tới giá trị kinh tế vì không thu được trứng giống.
Tuổi và năm đẻ của gia cầm có liên quan đến sản lượng trứng, gà đẻ năm thứ hai sản lượng trứng giảm khoảng 10-20 %. - Ảnh hưởng của cường độ đẻ trứng và độ dài trật đẻ Cường độ đẻ trứng có ảnh hưởng lớn tới sản lượng trứng của gia cầm; cường độ đẻ trứng càng cao, sản lượng trứng cao và ngược lại. Bên cạnh việc nâng cao cường độ đẻ trứng, người ta còn chú ý đến độ dài trật đẻ, độ dài trật đẻ càng dài sản lượng trứng càng cao. Gà đẻ quanh năm có sản lượng trứng cao hơn gà đẻ theo mùa vụ.
Độ dài trật đẻ phụ thuộc vào giống gia cầm và giai đoạn đẻ, đồng thời cũng chịu ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài như thời tiết, khí hậu, dinh dưỡng, phương thức chăn nuôi. - Ảnh hưởng của bản năng đòi ấp Bản năng đòi ấp là một đặc tính bẩm sinh của gia cầm để duy trì nòi giống. Sự xuất hiện bản năng đòi ấp phụ thuộc vào các yếu tố di truyền, ở các dòng, các giống khác nhau thì tỷ lệ xuất hiện bản năng đòi ấp cũng khác nhau. Các giống gà chuyên dụng qua quá trình lai tạo và chọn lọc thì bản năng đòi ấp hầu như không còn.
Riêng đối với các giống gà địa phương bản năng đòi c 7 ấp vẫn còn và có tỷ lệ rất cao, ở gà Ri tỷ lệ đòi ấp trên 30%, chính vì vậy mà sản lượng trứng thấp hơn. Gà Ri nuôi đại trà trong nông hộ chỉ đẻ 86,99 quả/mái (Hồ Xuân Tùng, 2009) [32], trong khi đó ở gà Lương Phượng là 168,73 quả/mái (Trần Công Xuân và cs, 2004) [38]. Bằng các phương pháp cai ấp và chọn lọc, người ta có thể làm giảm bớt thói quen ấp trứng ở gà hoặc có thể tiến hành cai ấp bằng cách tách riêng gà ấp bóng, tăng cường cho ăn đủ dinh dưỡng và nước uống, duy trì chương trình chiếu sáng không thay đổi trong chuồng (Nguyễn Hiền, 2008) [3]. - Ảnh hưởng của sự thay lông Sự thay lông của gà là một quá trình sinh lý tự nhiên.
Ở gia cầm hoang dã thì thời gian thay lông vào mùa thu. Thời gian thay lông càng dài, sản lượng trứng càng thấp. Sức đẻ trứng giảm ngay sau khi gà rụng lông. Trong thời kỳ thay lông buồng trứng bị thoái hóa và khối lượng của buồng trứng bị giảm đi khoảng đi khoảng 5% so với khối lượng lúc trước.
- Ảnh hưởng của nhiệt độ Nhiệt độ môi trường xung quanh có liên quan mật thiết với sản lượng trứng. Nhiệt độ cao hoặc thấp đều ảnh hưởng đến sản lượng trứng thông qua mức độ tiêu thụ thức ăn. Khi được nuôi trong điều kiện nhiệt độ 20oC nhu cầu về năng lượng là thấp, mức tiêu thụ thức ăn cao, mức tiêu thụ thức ăn này sử dụng cho việc sưởi ấm cơ thể, do vậy tiêu thụ thức ăn và tiêu tốn nhiều cho quá trình hô hấp, lượng thức ăn ăn vào không đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất và sản lượng trứng sẽ giảm. - Ảnh hưởng của độ ẩm Độ ẩm quá cao (>80 %) làm cho chất độn chuồng bị ướt, ẩm độ cao tạo thành một lớp hơi nước bao phủ không gian chuồng nuôi, tạo điều kiện cho mầm bệnh phát triển, đặc biệt là cầu trùng, tình trạng này kéo dài sẽ ảnh hưởng đến năng suất trứng và mức độ tiêu tốn thức ăn.
Độ ẩm quá thấp (<31 %) làm cho gia cầm mổ lông và rỉa thịt nhau, ảnh hưởng đến tỷ lệ hao hụt và khả năng sản xuất, tuy nhiên ở miền Bắc Việt Nam thì không bị ảnh hưởng của độ ẩm thấp.