Chương 1. Tổng quan, tìm hiểu tổng quan về hiệu ứng quang xúc tác, các kết quả nghiên cứu trong nước và trên thế giới về vật liệu ZnO và Fe2O3 mà ta quan tâm trong lĩnh vực quang xúc tác. Thực nghiệm, mô tả chi tiết quy trình chế tạo mẫu, phương pháp khảo sát vật liệu, quy trình thí nghiệm quang xúc tác, các thông số thực nghiệm cụ thể. Kết quả và thảo luận, trình bày kết quả chế tạo mẫu, kết quả đánh giá hiệu quả quang xúc tác trong phân hủy MB sử dụng ánh sáng LED xanh, giải thích cơ chế quang xúc tác, tìm tỉ lệ tối ưu giữa ZnO và Fe2O3.
Sự cần thiết của việc chế tạo vật liệu kích thước nano Các tính chất vật lí, hóa học, sinh học, độ bền cơ học, tính chất nhiệt, điện, quang, từ… của vật liệu ở kích thước nanomet phụ thuộc mạnh vào hình dạng (hạt, thanh, tấm, ống, con suốt, dây, hoa, cầu…), kích thước, bản chất hóa học của vật liệu (oxit kim loại, polymer dẫn, ống nano cacbon, graphene, chalcogenide…), pha tạp (kim loại quý, kim loại chuyển tiếp), tổ hợp với các oxit kim loại khác… Các vật liệu nano có các tính chất độc đáo mà không thể hiện ở vật liệu dạng khối nhờ hiệu ứng giam cầm lượng tử, hiệu ứng plasmon bề mặt, tỉ lệ nguyên tử bề mặt trên tổng số nguyên tử lớn, diện tích bề mặt riêng (diện tích/thể tích) lớn, tỉ số hình dạng (chiều dài/đường kính) lớn… nên khả năng tiếp xúc với môi trường lớn, khả năng trao đổi điện tử hoặc phản ứng hóa học tăng. Vật liệu nano đã có nhiều ứng dụng trong thực tiễn kĩ thuật như công nghiệp, nông nghiệp, y học, khoa học máy tính, vũ trụ học, công nghệ thực phẩm, môi trường, cảm biến khí (gas sensor) [8], cảm biến sinh học (biosensor) [9], đế SERS (surface-enhanced Raman scattering, tán xạ Raman tăng cường bề mặt) trong nhận biết các chất hữu cơ, quang xúc tác (trong phân hủy chất hữu cơ) [10, 11], khử nhạy vi khuẩn, chuyển đổi CO2 thành nhiên liệu không sử dụng áp suất cao, nhiệt độ cao mà sử dụng ánh sáng làm nguồn năng lượng,. Vật liệu nano hấp dẫn các nhà khoa học cả về quan điểm ứng dụng kĩ thuật và nghiên cứu cơ bản. Ở thang nanomet, bên cạnh thành phần và cấu trúc, tính chất của vật liệu rất nhạy với kích thước và hình dạng.
Các ứng dụng phong phú của vật liệu nano gồm điốt phát quang (LED), chẩn đoán y học, lưu trữ năng lượng, xử lí thông tin, xúc tác. Kích thước hạt ảnh hưởng mạnh đến tính chất quang xúc tác, diện tích bề mặt của vật liệu nano cao, tỉ số bề mặt trên thể tích tăng khi kích thước tinh thể giảm. Vật liệu nano có ít nhất một chiều không gian có kích thước giữa 1 và 100 nm. Sự kết dính giữa các hạt ảnh hưởng đến sự hấp 4 phụ các phân tử, sự tán xạ ánh sáng, hấp thụ ánh sáng, động học hạt tải điện, v.
Trong vật liệu bán dẫn, kích thước nhỏ dẫn đến sự giam giữ không gian các hạt tải điện gọi là hiệu ứng kích thước lượng tử (quantum size effect, QSE). Hiệu ứng này trở nên quan trọng khi kích thước hạt so sánh được với bán kính Bohr exciton aB [12]: 2 aB (1.1) e2 trong đó là hằng số Planck rút gọn, là hằng số điện môi của bán dẫn, là khối lượng hiệu dụng của exciton (electron + lỗ trống), e là điện tích nguyên tố. a B 9,6 nm đối với CdSe; 2,4 nm đối với CdS; 7,5 nm đối với CdTe. Trong bán dẫn khối, các quỹ đạo phân tử tạo một dải năng lượng liên tục, dải hóa trị gồm các mức năng lượng thấp được lấp đầy electron và dải dẫn gồm các mức năng lượng cao chưa được chiếm bởi electron, hai dải này ngăn cách nhau bởi một khe năng lượng (vùng cấm bề rộng Eg) trong khoảng 0,3 - 3,8 eV đặc trưng cho mỗi bán dẫn (Hình 1.
Sự hình thành vùng dẫn, vùng hóa trị trong vật liệu khối bán dẫn [13]. Việc giảm kích thước bán dẫn làm giảm không gian chuyển động của exciton, cấu trúc dải là tập hợp gián đoạn các mức điện tử gần bờ vùng, hạt bán dẫn có kích thước nhỏ hơn bán kính Bohr gọi là chấm lượng tử (quantum 5 dot). Khi kích thước hạt giảm, vùng cấm hiệu dụng tăng, phổ hấp thụ dịch chuyển về phía bước sóng ngắn, năng lượng photon hấp thụ tăng, năng lượng kích thích electron lên vùng hóa trị sẽ lớn hơn đối với hạt lớn hơn. Năng lượng vùng cấm phụ thuộc kích thước hạt như sau [14]: 2 2 1,8e 2 Eg (1.2) 2R 2 R với R là bán kính hạt.
Hiệu ứng giam giữ lượng tử cho phép điều khiển bề rộng vùng cấm của hạt bán dẫn bằng cách thay đổi kích thước. Bằng cách kích thích năng lượng cao, chấm lượng tử có thể tạo ra nhiều hơn một exciton từ một photon hấp thụ. Khi kích thước giảm, tương tác electron - phonon yếu đi, thời gian sống điện tử tăng lên, diện tích bề mặt tăng, sự hấp phụ và phản ứng quang xúc tác tăng. Tốc độ tái hợp điện tử - lỗ trống tăng, tỉ số bề mặt/thể tích tăng, số nguyên tử không bão hòa phối trí tăng, số khuyết tật bề mặt tăng, mật độ trạng thái bề mặt tăng có mức năng lượng nằm trong vùng cấm đóng vai trò tâm tái hợp.
Tuy nhiên, khi giảm kích thước TiO2 xuống dưới 7 nm thì tốc độ tái hợp e/h trên bề mặt tăng lớn làm giảm mật độ điện tử, lỗ trống tự do, làm giảm hoạt tính quang xúc tác. Công nghệ nano cho phép điều khiển hình dạng, cấu trúc bề mặt của vật liệu trong quá trình nảy mầm, phát triển. Các cấu trúc nano dạng hạt, thanh, ống, tấm, lá, hoa, v. đạt được thông qua việc lựa chọn điều kiện tổng hợp.
Các phương pháp nuôi cấy như hóa ướt, epitaxi, lắng đọng pha hơi hóa học (CVD) cho phép tạo ra tinh thể nano gắn vào bề mặt. Hình dạng, số chiều của tinh thể nano cũng ảnh hưởng đến số nguyên tử bề mặt và loại mặt tinh thể tiếp xúc với môi trường. Hạt hình cầu có số nguyên tử bề mặt nhỏ nhất, cấu trúc nano một chiều và hai chiều có tỉ lệ nguyên tử trên bề mặt lớn hơn và hoạt tính quang xúc tác lớn hơn. Giới thiệu về quang xúc tác Đầu những năm 1800, Christian von Grotthus và John Draper đưa ra định luật thứ nhất của quang hóa, trong đó ánh sáng bị hấp thụ bởi một chất có thể tạo ra sự thay đổi quang hóa.
Photon có năng lượng lớn hơn năng lượng vùng cấm bị hấp thụ và tạo ra sự thay đổi hóa học. Năm 1835, nhà hóa học Thủy Điển Jons Jacob Berzelius lần đầu tiên sử dụng thuật ngữ catalysis, nghĩa là xúc tác [1]. Chất phản ứng tương tác với chất xúc tác làm giảm năng lượng kích hoạt, tốc độ phản ứng tăng lên, chất xúc tác phục hồi lại trạng thái đầu của nó và sẵn sàng cho chu kì biến đổi mới. Chất xúc tác có thể tái sử dụng nhiều lần mà không suy giảm đáng kể hiệu suất.
Năm 1911, Eibner đưa ra từ photocatalysis, nghĩa là quang xúc tác khi nghiên cứu ảnh hưởng của chiếu xạ ánh sáng lên ZnO lên sự mất màu của Prussian blue [16]. Năm 1913, Landau đã sử dụng muối uranyl ( UO 2 ) để phân hủy oxalic acid khi chiếu xạ ánh sáng thích hợp [17], trong đó ánh sáng bị hấp thụ bởi các ion uranyl trong dung dịch để chuyển lên trạng thái kích thích, khi tương tác với các phần tử hữu cơ thì tạo ra CO2 và H2O. Năm 1921, Baly tạo ra formaldehyde và carbohydrate từ CO2 và nước dưới ánh sáng khả kiến sử dụng muối uranium dạng keo và sắt hydroxide làm chất xúc tác [18]. Năm 1924, Baur khử Ag+ thành Ag0 khi chiếu xạ huyền phù ZnO bằng ánh sáng khả kiến [19].
Năm 1938, Doodeve và Kitchener chế tạo chất nhạy sáng TiO2 để làm mất màu thuốc nhuộm, trong đó tia UV tạo ra phần tử oxi nhạy trên bề mặt TiO2 và phân hủy chất hữu cơ, còn TiO2 không thay đổi sau quá trình phản ứng [20]. Năm 1964, Filimonov sử dụng ZnO hoặc TiO2 để oxi hóa quang xúc tác isopropanol [21], Doerffler oxi hóa CO bằng cách chiếu xạ ZnO [22]. Năm 1965, Ikekawa dùng ZnO để phân hủy dung môi hữu cơ isopropyl alcohol [23]. Năm 1970, Formenti oxi hóa paraffin và olefin dùng chất quang xúc tác TiO2 [24], Tanaka và Blyholde phân hủy quang xúc tác 7 nitrous oxide (N2O) bằng ZnO [25].
Năm 1972, Fujishima và Honda đã phân li điện hóa nước sử dụng điện cực rutile (TiO2) chiếu sáng tử ngoại (UV) để tạo ra hydrogen, một nguồn năng lượng thay thế dầu mỏ [26]. Năm 1977, Nozik pha tạp Pt vào TiO2 làm chất quang xúc tác phân tách nước không cần điện áp ngoài [27]. Năm 1980, Wagner và Somorjai sử dụng đơn tinh thể SrTiO3 để tạo H2 từ nước khi chiếu sáng mà không cần điện áp [28]. Năm 1981, Sakata và Kawai sử dụng Pt/TiO2 để tạo H2 và CH4 từ ethanol và nước [29].
Như vậy, quang xúc tác đã có lịch sử hàng trăm năm. Khi hai nguyên tử liên kết với nhau thành phân tử, chúng sẽ dùng chung các quỹ đạo nguyên tử tạo quỹ đạo phân tử liên kết (năng lượng thấp) hoặc phản liên kết (năng lượng cao). Các electron hóa trị chiếm các quỹ đạo mới sao cho năng lượng của hệ cực tiểu, các quỹ đạo liên kết được lấp đầy. Khi số nguyên tử tăng lên, số quỹ đạo phân tử tăng lên, độ chênh lệch năng lượng giữa các mức giảm dần.
Trong chất rắn, số nguyên tử rất lớn, các mức năng lượng của electron liên kết tạo thành một dải liên tục các mức năng lượng gọi là dải hóa trị (valence band, VB). Các quỹ đạo phản liên kết năng lượng cao tạo thành một dải liên tục các trạng thái không bị chiếm gọi là dải dẫn (conduction band, CB). Một dải trống không có trạng thái năng lượng khả dĩ nằm giữa các mức bị chiếm và mức không bị chiếm gọi là vùng cấm (forbidden band). Tùy theo độ rộng vùng cấm, vật liệu có thể là bán dẫn hoặc điện môi.
Mức Fermi là mức bị chiếm cao nhất hay mức không bị chiếm thấp nhất ở 0 K. Trong bán dẫn, mức Fermi nằm trong vùng cấm (forbidden band) nên không tương ứng với bất cứ trạng thái năng lượng thực nào. Sự có mặt của tạp ảnh hưởng đến sự phân bố điện tích và gây ra sự dịch chuyển đáng kể mức Fermi. Chất rắn có vùng cấm trong khoảng 0 và 4 eV được xem là bán dẫn.
Đối với bán dẫn thuần, độ dẫn tăng theo hàm mũ của nhiệt độ do các electron nhảy từ vùng hóa trị lên vùng dẫn.