CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. VẬT LIỆU NANO ĐỒNG, NANO OXIT ĐỒNG VÀ HIỆU ỨNG KHÁNG VI SINH VẬT GÂY BỆNH THỰC VẬT. Đồng là kim loại dẻo, có tính dẫn điện và nhiệt cao, ký hiệu là Cu. Kim loại đồng được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực như: xây dựng, vật liệu dẫn điện, nhiệt, sử dụng trong nhiều hợp kim khác nhau.
Đồng là nguyên tố vi lượng cần thiết cho các loài động, thực vật bậc cao, nó là thành phần của enzyme vận chuyển oxy trong cơ thể. Kim loại đồng và các hợp chất của đồng từ xa xưa đã được ứng dụng làm chất diệt khuẩn, diệt nấm và chất bảo quản gỗ. Cu2O là một trong 2 dạng oxit của đồng (cùng với CuO), có màu đỏ, không tan trong nước, tan chậm trong dung dịch kiềm đặc và tan tốt trong dung dịch axit. Phân tử khối của Cu2O là 143,09 g/mol, khối lượng riêng 6,0 g/cm3, nhiệt độ nóng chảy 12350C và nhiệt độ sôi 18000C.
Phản ứng khử ion Cu2+ bằng chất khử tạo thành đồng kim loại (Cuo) và oxit đồng I (Cu2O) tùy vào thế oxy hóa khử và lượng chất khử. Khi vật liệu Cu và Cu2O ở kích thước nanomet, chúng có diện tích bề mặt lớn nên thể hiện các tính chất dẫn điện, dẫn nhiệt, kháng khuẩn cao vượt trội so với trạng thái vật liệu khối, vì vậy, gần đây chúng được quan tâm nghiên cứu sử dụng trong công nghiệp điện tử, môi trường và vật liệu kháng khuẩn. Cu2O có tính chất quang điện tử, nó được biết đến là chất bán dẫn loại p với độ rộng vùng cấm theo lý thuyết là 2,2 eV [2] sử dụng để chế tạo pin mặt trời hiệu suất cao (hiệu suất lý thuyết ~ 18%) [3]. Các lĩnh vực ứng dụng tiềm năng của Cu2O là xúc tác hóa học [4], vật liệu cảm biến sinh học [5] pin Lithium ion [6, 7], vật liệu xúc tác quang, phát quang, quang điện tử và cảm biến khí [2, 8-10].
3 Trong những năm gần đây, việc nghiên cứu tổng hợp và sử dụng các hạt nano đã thu hút được nhiều sự quan tâm do diện tích bề mặt lớn, làm tăng cường các tính chất như hiệu năng xúc tác, tính chất từ, tính chất quang học, tính kháng vi sinh vật và tính dẫn điện vượt trội so với vật liệu khối [11]. Nano đồng, nano oxit đồng (CuO và Cu2O), là một trong những tác nhân được sử dụng rộng rãi nhất như là chất kháng khuẩn phổ rộng trên nhiều loại vi sinh vật đặc biệt là vi sinh vật gây hại cho thực vật [12, 13]. Ngoài khả năng chống lại vi sinh vật gây hại, trong nông nghiệp, các nano hợp chất đồng (Cu) còn cung cấp nguyên tố vi lượng rất cần thiết cho sinh trưởng, phát triển trên nhiều loại cây trồng, cụ thể Cu tham gia vào quá trình hình thành diệp lục và có vai trò quan trọng trong các phản ứng sinh hóa của tế bào thực vật [11]. Đối với cơ thể con người, đồng cũng là dinh dưỡng thiết yếu, nó có thành phần trong một số enzyme kim loại để hình thành hemoglobin, trao đổi carbohydrate, collagen, elastin, keratin, tóc, có tác dụng chống oxy hóa.
Sự hấp thụ của đồng xảy ra ở da, ruột non,. tồn tại trong máu [14]. Ngày nay, vật liệu nano đã được nghiên cứu ứng dụng làm thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) trong nông nghiệp do chúng có liều lượng sử dụng thấp. Tại Việt Nam, thuốc BVTV hoạt chất nano Ag cũng đã được cấp phép để phòng trừ bệnh đạo ôn lúa (Mifum 0.66SL của Viện Khoa học Vật liệu ứng dụng).
Vì vậy, hợp chất nano đồng và nano oxit đồng rất có tiềm năng sử dụng làm chất kiểm soát nấm bệnh thực vật vì giá rẻ hơn Ag và còn là dinh dưỡng vi lượng giúp tăng trưởng cây trồng. RONG NÂU VÀ ỨNG DỤNG CỦA AXIT ALGINIC TRONG RONG NÂU LÀM CHẤT ĐIỀU HÒA SINH TRƯỞNG THỰC VẬT VÀ ỔN ĐỊNH DUNG DỊCH KEO NANO Axit alginic là loại polyme sinh học có trong rong biển. Rong biển Việt Nam rất đa dạng và phong phú đã phát hiện gần 700 loại, trong đó họ rong biển Mơ là phổ biến nhất, có sản lượng cao nhất. Họ rong biển Mơ (Sargassaceae) thuôc bộ rong biển đuôi ngựa (Fucales), ngành rong nâu (Phaeophyceae) tập trung tại khu vực biển miền Trung Nam Bộ từ Bình Định vào đến Bình Thuận, sản lượng rong biển ước tính khoảng 30.000 tấn, trong đó vùng biển Khánh Hòa chiếm sản lượng trên 11.
4 Rong nâu là loài thực vật có giá trị cao về mặt dinh dưỡng, dược liệu bao gồm các axit amin, protein, axit béo không bão hòa, các vitamin, khoáng chất, polyphenol, các hợp chất chứa Iốt, Laminarin, axit alginic và Fucoidan [15, 16]. Trong đó, Hàm lượng axit alginic trong rong biển dao động từ 29,1 – 40,6% trên trọng lượng chất khô. Ngoài ra rong biển còn chứa các hoạt chất khác như Laminarin, auxin, Gibberellic axit, cytokinin nên còn được dùng làm chất kích thích tăng trưởng thực vật an toàn, hiệu quả. Trong việc điều chế các dung dịch keo nano kim loại và các vật liệu nano khác nhau, alginate còn được sử dụng làm chất ổn định, ngăn chặn sự kết tụ của các hạt thành các hạt lớn hơn.
Alginate là muối của axit alginic, các alginate hòa tan bao gồm muối của Na+, K+ và NH4+ được ứng dụng trong công nghiệp thực phẩm và nhiều ngành công nghiệp khác. Axit alginic là một copolymer khối được cấu tạo từ các gốc β-D-mannuronate và α-L-Guluronate bằng liên kết 1,4 glucoside (Hình 1. Các alginate có cấu trúc khác nhau phụ thuộc vào sự sắp xếp của các monomer. Alginate có khả năng phân hủy sinh học và hoàn toàn an toàn trong các thử nghiệm trên người cũng như động vật.
Mặt khác, sodium alginate là polymer tan trong nước tạo dung dịch có độ nhớt cao và có khả năng tạo gel với các cation của kim loại hóa trị 2 như Ca2+. Đặc trưng cấu trúc của alginate a) Các monome của axit alginic; b) Cấu trúc chuỗi, cấu dạng ghế; c) Các kiểu phân bố các khối trong mạch alginate Alginat có khả năng tạo gel với sự tham gia của những ion hóa trị 2, 3. Gel được tạo ra do tương tác tĩnh điện qua ion kim loại tạo ra gel này không thuận nghịch với nhiệt và ít đàn hồi. Khả năng tạo gel và độ bền của alginate 5 phụ thuộc vào số lượng các đoạn guluronic (G), được giải thích bằng mô hình cấu trúc “hộp trứng”.
Khả năng tạo gel của các muối alginat còn phụ thuộc vào kích thước của ion kim loại liên kết. Ái lực của alginat đối với các ion kim loại hóa trị 2 khác nhau giảm theo trình từ: Pb2+ > Cu2+ > Cd2+ > Ba2+ > Sr2+ > Ca2+ > Co2+. Mô hình tạo gel của alginate với ion hóa trị 2 và trao đổi ion Ca2+ trong alginate với Cu2+ Với tính chất tạo gel của Alginate đối với các ion kim loại hóa trị 2 như Cu2+ nêu trên, vì vậy khi hòa tan dung dịch muối Cu2+ vào dung dịch Alginate sẽ tạo gel kết tủa. Chính vì vậy khi đưa dung dịch muối Cu 2+ vào dung dịch Alginate cần thiết tạo phức Cu2+ với các tác nhân tạo phức như EDTA-Na, EDTA, NH4+,… Tác nhân NH3 là tác nhân tạo phức với Cu2+ có giá rẻ, tạo môi trường kiềm nên thuận lợi cho quá trình khử Cu2+ thành Cu2O (quá trình khử Cu2+ thành Cu2O xảy ra trong môi trường kiềm pH > 10) [17, 18].
BỆNH ĐỐM NÂU TRÊN CÂY THANH LONG. Thanh long loại cây ăn trái có giá trị xuất khẩu, được trồng chủ yếu ở các tỉnh như Bình Thuận (khoảng 30.000 ha), Long An (khoảng 7.000 ha), Tiền Giang (khoảng 4.000 ha) và rải rác ở một số tỉnh khác. Trong những năm vừa qua, cây thanh long bị nhiễm nhiều loại bệnh gây hại như bệnh thán thư, thối quả, thối cành và đặc biệt là bệnh đốm nâu làm giảm năng suất, chất lượng quả. Bệnh đốm nâu do nấm Neoscytalidium dimidiatum gây ra, tồn tại quanh năm, mùa khô gây hại chủ yếu ở các đoạn gốc cành, mùa mưa thì bệnh phát tán mạnh lan sang các cành non mới ra, hoa và quả thanh long [19, 20].
Khi cây thanh long mới chớm nhiễm bệnh, các đốm bệnh xuất hiện nâu là xuất hiện trên cành với tỷ lệ bệnh dao động từ 1 - 5%, vào mùa mưa nhiều 6 vườn thanh long bị nhiễm nặng với vết bệnh lõm sâu vào trong; sau đó vết bệnh chuyển sang màu vàng cam và nâu nổi lên trên bề mặt với tỷ lệ bệnh dao động từ 10 - 50% (Hình 1. Hiện nay, bệnh đốm nâu trên cây thanh long chưa có thuốc đặc trị. Biện pháp kiểm soát bệnh đốm nâu thanh long được Cục BVTV khuyến cáo là thường xuyên dọn vườn (cắt tỉa, tiêu hủy các nguồn bệnh, tạo điều kiện thoát nước tốt), bón phân cân đối, sử dụng luân phiên các loại thuốc BVTV có chứa hoạt chất Propiconazole, Trifloxystrobin, Iprodione, Mancozeb khoảng 7-10 ngày/lần. Hiện nay thuốc Mancozed được cho là thuốc có hiệu quả nhất để phòng trừ bệnh đốm nâu trên thanh long.
Tại Việt Nam và Thế giới đã có một số công trình nghiên cứu hiệu lực kháng nấm Neoscytalidium dimidiatum và phòng trừ bệnh đốm nâu trên cây thanh long [21, 22]. Du đã nghiên cứu khả năng kích thích sản sinh enzyme chitinase trên cây thanh long khi xử lý OC (Mw ~5.mol -1) ở nồng độ 150 ppm, OC thể hiện hiệu ứng kháng nấm Neoscytalidium dimidiatum và hiệu lực phòng trừ bệnh đốm nâu đến 81% so với đối chứng [21]. Uyen, 2018 đã nghiên cứu hiệu lực kháng nấm Neoscytalidium dimidiatum của vật liệu AgNPs/chitosan đạt hiệu quả khi sử dụng nồng độ Ag 10 ppm, CTS 1% [22]. Triệu chứng bệnh đốm nâu trên dây, quả thanh long do nấm Neoscytalidium dimidiatum gây ra 1.
CƠ CHẾ KHÁNG VI SINH VẬT CỦA NANO Cu VÀ Cu2O Các hợp chất của đồng được sử dụng là chất kháng vi sinh vật trong nhiều thập kỉ vừa qua, nó thể hiện khả năng kháng khuẩn mạnh mẽ và có thể 7 tiêu diệt tới 99,9% nhiều loại vi khuẩn. Hợp chất đồng có hoạt lực cao trong phòng trừ các loại nấm bệnh, vi khuẩn, vi rút, theo thống kê đồng có thể phòng trừ trên 20 loại vi khuẩn, vi rút, nấm gây bệnh trên cây trồng, động vật và con người [25]. Các hạt oxit đồng hoạt động như chất kháng khuẩn tiềm năng chống lại các vi sinh vật truyền bệnh như E.coli, Bacillus subtilis, Vibria cholera, Pseudomonas aeruginosa, Syphillis typhus và Staphylococcus aureus… Nano đồng có khả năng diệt hầu hết các loại nấm bệnh gây hại cây trồng, nó được xem như một loại thuốc BVTV đặc trị nấm theo cách an toàn nhất, không độc hại, không gây tồn dư các chất độc hại trên nông sản và trong tương lai gần nano đồng có thể thay thế các loại thuốc BVTV hóa học độc hại.