Luận Văn Thạc Sĩ: Khả Năng Kháng Khuẩn Của Dịch Chiết Lá Trầu Không Và Diếp Cá

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu khả năng kháng khuẩn của dịch chiết lá trầu không và diếp cá, ứng dụng tiềm năng trong y học và đời sống.

Trường đại học

Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Chuyên ngành

Công nghệ Sinh học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp đại học

2015

74
5
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. MỞ ĐẦU

1.1. Đặt vấn đề

1.2. Mục đích nghiên cứu

1.3. Yêu cầu

1.4. Ý nghĩa của đề tài

1.4.1. Ý nghĩa khoa học

1.4.2. Ý nghĩa trong thực tiễn

2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Tổng quan về các chất có hoạt tính sinh học từ thực vật

2.2. Một số chất có hoạt tính tính sinh học từ thực vật

2.3. Một số phương pháp tách chiết các chất từ thực vật

2.3.1. Tách chiết bằng phương pháp lôi cuốn hơi nước

2.3.2. Tách chiết bằng dung môi

2.3.3. Tách chiết bằng soxlet

2.3.4. Chiết ngâm

2.3.5. Phương pháp ngấm kiệt

2.3.6. Chiết siêu âm

2.3.7. Chiết xuất ngược dòng

2.3.8. Chiết xuất bằng khí hóa lỏng siêu tới hạn

2.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình chiết

2.5. Tổng quan về các phương pháp đánh giá tác động kháng khuẩn

2.5.1. Phương pháp xác định nồng độ ức chế tối thiểu (MIC- Minimum Inhibitory Concentration)

3. VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Vật liệu nghiên cứu

3.2. Chủng vi sinh vật thử nghiệm

3.3. Môi trường nuôi cấy vi khuẩn

3.4. Dụng cụ, thiết bị

3.5. Địa điểm, thời gian nghiên cứu

3.6. Nội dung nghiên cứu

3.7. Phương pháp nghiên cứu

3.7.1. Phương pháp xử lý nguyên liệu

3.7.2. Phương pháp chiết

3.7.3. Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ tới khả năng kháng khuẩn của dịch chiết

3.7.4. Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian chiết tới khả năng kháng khuẩn của dịch chiết

3.7.5. Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của dung môi chiết tới khả năng kháng khuẩn của dịch chiết

3.7.6. Phương pháp thử khả năng kháng vi khuẩn thử nghiệm của các loại dịch chiết

4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. Kết quả nghiên cứu khả năng kháng khuẩn của dịch chiết Trầu không

4.2. Kết quả ảnh hưởng của điều kiện đến khả năng kháng khuẩn của dịch chiết Trầu không đối với các chủng vi khuẩn thử nghiệm

4.3. Kết quả ảnh hưởng của dung môi đến khả năng kháng khuẩn của dịch chiết Trầu không đối với các chủng vi khuẩn thử nghiệm

4.4. Kết quả nghiên cứu khả năng kháng khuẩn của dịch chiết Diếp cá

4.5. Kết quả ảnh hưởng của nhiệt độ chiết đến khả năng kháng khuẩn dịch chiết Diếp cá đối với các chủng vi khuẩn thử nghiệm

4.6. Kết quả ảnh hưởng của dung môi chiết đến khả năng kháng khuẩn dịch chiết Diếp cá đối với các chủng vi khuẩn thử nghiệm

4.7. Dịch chiết Trầu không. Dịch chiết Diếp cá

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Nghiên cứu khả năng kháng khuẩn của dịch chiết lá trầu không và diếp cá

Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá khả năng kháng khuẩn của dịch chiết từ lá trầu khôngdiếp cá. Hai loại thảo dược này được chọn vì chúng có tiềm năng lớn trong việc điều trị các bệnh nhiễm khuẩn. Lá trầu không chứa hợp chất phenol có tên chavicol, có đặc tính khử trùng mạnh. Diếp cá chứa decanoyl-acetaldehyde, một chất kháng sinh tự nhiên. Nghiên cứu này nhằm tìm ra điều kiện chiết xuất tối ưu để tách các hoạt chất kháng khuẩn từ hai loại thực vật này.

1.1. Mục đích nghiên cứu

Mục đích chính của nghiên cứu là khảo sát ảnh hưởng của các điều kiện chiết xuất (nhiệt độ, thời gian, dung môi) đến khả năng kháng khuẩn của dịch chiết từ lá trầu khôngdiếp cá. Nghiên cứu cũng nhằm đánh giá hiệu quả kháng khuẩn của các dịch chiết này đối với các chủng vi khuẩn thử nghiệm như E. coli và Staphylococcus aureus.

1.2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Nghiên cứu này có ý nghĩa khoa học lớn khi cung cấp dữ liệu về hoạt tính kháng khuẩn của các thảo dược truyền thống. Kết quả nghiên cứu có thể được ứng dụng trong y học cổ truyềndược liệu, góp phần phát triển các sản phẩm kháng khuẩn tự nhiên, an toàn và hiệu quả.

II. Phương pháp nghiên cứu và chiết xuất

Nghiên cứu sử dụng các phương pháp chiết xuất thực vật như chiết bằng dung môi, chiết siêu âm và chiết ngấm kiệt. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình chiết xuất như nhiệt độ, thời gian và loại dung môi được khảo sát kỹ lưỡng. Dịch chiết thu được sau đó được đánh giá khả năng kháng khuẩn bằng phương pháp xác định nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) và phương pháp khuếch tán qua giếng thạch.

2.1. Phương pháp chiết xuất

Các phương pháp chiết xuất được sử dụng bao gồm chiết bằng dung môi (ethanol, n-hexan), chiết siêu âm và chiết ngấm kiệt. Mỗi phương pháp có ưu nhược điểm riêng, nhưng đều nhằm mục đích tách các hoạt chất kháng khuẩn từ lá trầu khôngdiếp cá một cách hiệu quả.

2.2. Đánh giá khả năng kháng khuẩn

Khả năng kháng khuẩn của dịch chiết được đánh giá thông qua phương pháp MIC và khuếch tán qua giếng thạch. Các chủng vi khuẩn thử nghiệm bao gồm E. coli, Staphylococcus aureus và Edwardsiella ictaluri. Kết quả cho thấy dịch chiết từ cả hai loại thực vật đều có hoạt tính kháng khuẩn đáng kể.

III. Kết quả và thảo luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy dịch chiết từ lá trầu khôngdiếp cáhoạt tính kháng khuẩn mạnh đối với các chủng vi khuẩn thử nghiệm. Điều kiện chiết xuất tối ưu được xác định là nhiệt độ 60°C, thời gian chiết 2 giờ và sử dụng ethanol làm dung môi. Dịch chiết từ lá trầu không cho thấy hiệu quả cao hơn trong việc ức chế Staphylococcus aureus, trong khi dịch chiết từ diếp cá có tác dụng mạnh đối với E. coli.

3.1. Ảnh hưởng của điều kiện chiết xuất

Nhiệt độ, thời gian và loại dung môi có ảnh hưởng lớn đến khả năng kháng khuẩn của dịch chiết. Nhiệt độ cao hơn và thời gian chiết dài hơn giúp tăng hiệu suất chiết xuất, nhưng cần cân nhắc để tránh phân hủy các hoạt chất kháng khuẩn.

3.2. Ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu mở ra tiềm năng ứng dụng dịch chiết từ lá trầu khôngdiếp cá trong các sản phẩm kháng khuẩn tự nhiên, đặc biệt trong bối cảnh gia tăng tình trạng kháng kháng sinh. Các sản phẩm này có thể được sử dụng trong y học, dược phẩm và chăm sóc sức khỏe hàng ngày.

02/03/2025
Luận văn thạc sĩ nghiên cứu khả năng kháng khuẩn của dịch chiết lá trầu không và diếp cá

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Đất nước ta với nguồn tài nguyên dược liệu dồi dào, phong phú là một thuận lợi trong việc nghiên cứu và điều chế ra những loại thuốc có nguồn gốc tự nhiên để phục vụ cho nhu cầu chăm sóc sức khỏe con người.Với điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa, nước ta được xem là mảnh đất màu mỡ cho sự phát triển của các chủng loại cây cỏ, trong đó có không ít loại cây được dùng làm thuốc rất hiệu quả. Có những loại thảo mộc hết sức thông dụng trong dân gian đã được các nhà khoa học chứng minh là có tác dụng trị bệnh không kém so với các loại thuốc tân dược hiện nay. Điển hình là Trầu không và Diếp cá. Trầu không là một loại thân leo, thuộc học hồ tiêu Piperaceae, được trồng nhiều nơi ở nước ta để ăn trầu (lá trầu không, vôi, cau và vỏ cây).

Nó còn được trồng nhiều ở các nước Châu Á như Philipin, Malaisia, Trung Quốc. Ngoài công dụng ăn trầu, nhân dân ta còn sử dụng lá Trầu không giã nhỏ, cho thêm vào nước sôi rồi dùng rửa những vết loét, mẩn ngứa, viêm. Nước pha Trầu không còn được dùng làm thuốc nhỏ mắt chữa viêm kết mạc, bệnh chàm mặt của trẻ em, có nơi còn dùng chúng để đắp lên ngực chữa ho và hen, hoặc đắp lên vú để chữa tắc sữa ở bà mẹ cho con bú. Chúng có được những công dụng như vậy là vì trong thành phần của lá Trầu không ngoài tanin, đường và tinh dầu còn có chứa một hợp chất phenol có tên gọi là chavicol có đặc tính khử trùng rất tốt, (Đỗ Tất Lợi, 2004) [3].

Diếp cá dân gian vẫn gọi với những tên gọi phổ biến như giấp cá hay ngư tinh thảo, là một loại cây nhỏ, mọc lâu năm, ưa chỗ ẩm ướt, có thân rễ mọc ngầm dưới đất. Rễ nhỏ mọc ở các đốt, thân đứng, có lông hoặc ít lông, (Đỗ Tất Lợi, 2004) [3]. Từ xa xưa Diếp cá đã được sử dụng rộng rãi như một loại rau gia vị giúp kích thích tiêu hóa, tăng thêm mùi vị món ăn, tạo cảm giác n 2 ngon miệng. Theo Đông y, Diếp cá có vị cay, tính hơi lạnh, giúp thanh nhiệt giải độc cho cơ thể, lợi tiểu và sát trùng.

Theo Y khoa hiện đại trong thành phần của Diếp cá có chất decanoyl-acetaldehyde mang tính kháng sinh, ngoài ra nó còn có tác dụng lọc máu, giải độc, kháng viêm, tăng sức miễn dịch cho cơ thể, [32]. Kinh nghiệm chữa bệnh của nhân dân ta là vô cùng quý giá, những nghiên cứu Y học gần đây đã chứng minh những cây thuốc mang các chất có tính kháng sinh như trầu không và Diếp cá ở nước ta có tác dụng chữa được nhiều bệnh nhiễm khuẩn, như vậy kinh nghiệm chữa bệnh của nhân dân ta là có cơ sở và có kết quả, [32]. Ưu điểm của việc sử dụng các loại thảo dược này trong điều trị bệnh là an toàn, không có các dụng phụ, không gây ra nhưng tai biến nguy hiểm chết người như các loại thuốc kháng sinh thông thường, sử dụng trong điều trị vết thương làm vết thương mau lành hơn, tuy hiệu quả sử dụng không được cao nhưng chúng khắc phục được những nhược điểm của kháng sinh thông thường như tính kháng thuốc, dị ứng với các thành phần phụ, khi điều trị lâu dài cần phối hợp nhiều loại kháng sinh, ảnh hưởng tới gan, thận và dạ dày. Vì vậy xu hướng sử dụng các loại thảo dược trong việc điều trị bệnh hiện nay đang rất được chú trọng và phát triển, (Nguyễn Thanh Hải, Bùi Thị Tho, 2013) [6].

Ngày nay, cùng với sự phát triển của nền công nghiệp thì môi trường xung quanh cũng trở nên ô nhiễm, kéo theo đó là sự gia tăng nhiều hơn số lượng vi khuẩn có hại gây bệnh nguy hiểm cho con người và động vật như E. coli- loại vi khuẩn đường ruột, thường gây ra bệnh tiêu chảy, một số chủng khác có thể gây ra rối loạn máu, suy thận, thậm chí dẫn đến tử vong; Staphylococcus aureus- là một loại tụ cầu khuẩn, kí sinh trên da người, gây ra các bệnh nhiễm trùng ở da và niêm mạc, tiết ra các độc tố gây ngộ độc thực n 3 phẩm, (Lê Huy Chính, 2001) [4]; Edwardsiella ictalruli- loại vi khuẩn thường gây các bệnh nhiễm trùng đường máu ở cá tra, là một trong những nguyên nhân làm giảm năng suất và chất lượng loại cá xuất khẩu này của Việt Nam, (Từ Thanh Dung và cs, 2011) [11]. Việc tìm ra các kháng sinh để ngăn chặn hoặc hạn chế sự gây hại của chúng đã thành công nhưng với việc sử dụng lâu dài sẽ gây ra tính kháng thuốc ngày càng cao và khó kiểm soát, tiêu biểu như E. coli kháng Ampicillin lên tới 81,4%, vi khuẩn Staphylococcus aureus kháng Methicillin và các loại kháng sinh liên quan, (Nguyễn Thanh Hải, Bùi Thị Tho, 2013) [6].

Vì vậy việc nghiên cứu tính kháng khuẩn và tìm ra các hoạt chất kháng khuẩn từ nguồn gốc thực vật là một biện pháp hiệu quả, vừa khắc phục tính kháng thuốc của vi khuẩn, đảm bảo an toàn cho người sử dụng, vừa giảm chi phí trong điều trị, và tận dụng được các dược liệu có sẵn trong tự nhiên. Xuất phát từ những nguyên nhân và thực tế đó, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài với tên gọi : ‘‘Nghiên cứu khả năng kháng khuẩn của dịch chiết lá Trầu không và Diếp cá’’. Mục đích nghiên cứu - Khảo sát ảnh hưởng của điều kiện chiết và dung môi chiết tới khả năng kháng khuẩn của dịch chiết Trầu không đối với các chủng vi sinh vật thử nghiệm. - Khảo sát ảnh hưởng của điều kiện chiết và dung môi chiết tới khả năng kháng khuẩn của dịch chiết Diếp cá đối với các chủng vi sinh vật thử nghiệm.

Yêu cầu - Tìm ra được điều kiện chiết và dung môi chiết thích hợp để tách chiết được các hoạt chất có tính kháng khuẩn trong lá Trầu không và Diếp cá. - Đánh giá khả năng kháng khuẩn từ dịch chiết của 2 loại thực vật này. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học - Đưa ra nồng độ thích hợp khi tiến hành tách chiết để ức chế vi khuẩn - Kết quả nghiên cứu thu được sẽ là nguồn tư liệu bổ sung cho các nhà nghiên cứu các hoạt tính sinh học của thực vật.

- Giúp sinh viên có cơ hội tiếp cận với các thao tác kỹ thuật trong thực tế, củng cố các kiến thức đã học. Ý nghĩa trong thực tiễn Là cơ sở cho các thử nghiệm sử dụng các hoạt chất có tính kháng khuẩn sử dụng trong y học, dược học và đời sống con người, góp phần nâng cao giá trị sử dụng của 2 loại thực vật này. n 5 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Tổng quan về các chất có hoạt tính sinh học từ thực vật 2.

Một số chất có hoạt tính tính sinh học từ thực vật: (Đái Duy Ban, 2008) [2] - Sulfur (tinh dầu từ củ hành- Allium fistuloseum) có chứa các thành phần là chất kháng sinh allinin, allisufit. Có tác dụng lợi tiểu, lợi tiêu hóa, chống viêm, chống thối, chống ung thư. Hành thường được dùng chữa cảm lạnh, đau đầu, ngạt mũi, khó tiêu, các bệnh lên men đường tiêu hóa. - Hoạt chất odorin trong cây Hẹ có tác dụng kháng sinh chống khuẩn.

Ngoài ra trong lá hẹ có hợp chất sulfur, saponi, chất đắng và vitamin C. - Các dẫn xuất naptoquinon trong các cây Bóng nước (Impatines balsamin Linn.), cây Lá móng (Lawascmia inermis Minn.) có tác dụng điều trị các vết thương và mụn nhọt. - Các alkaloid có nhân isoquinolein trong các cây Hoằng đằng, Hoàng bá, Hoàng liên có tác dụng với vi khuẩn hình cầu Gram (+) và Gram (-). - Các tinh dầu Sả, Quế, Hồi…dùng làm thuốc xông trị cảm cúm và cao dán mụn nhọt.

- Các anthraglucosid trong các cây Muồng trâu, Đại hoàng, Chút chít, Hà thủ ô có tác dụng chống nấm gây bệnh hắc lào. Một số phương pháp tách chiết các chất từ thực vật: (Viện Dược Liệu- Bộ Y Tế) [14] - Khái niệm: Là quá trình tách và phân ly một hoặc một số chất ra khỏi nguyên liệu dựa vào quá trình chuyển một chất hòa tan trong một pha lỏng với một pha lỏng không hòa tan với nó. - Mục đích của chiết: n 6 + Chuyển một lượng nhỏ chất nghiên cứu trong một thể tích lớn dung môi này vào một thể tích nhỏ dung môi khác nhằm nâng cao nồng độ của các chất nghiên cứu và đưuọc gọi là chiết làm giàu. + Ngoài ra còn dùng phương pháp chiết pha rắn để tách các hợp chất trong hỗn hợp phức tạp với điều kiện thích hợp.

Thường dùng trong phân tách các hợp chất tự nhiên.1 Tách chiết bằng phương pháp lôi cuốn hơi nước: - Nguyên tắc: Dựa trên nguyên lý của quá trình chưng cất một hỗn hợp không tan lẫn vào nhau là nước và tinh dầu. Khi hỗn hợp này được gia nhiệt hai chất đều bay hơi. Nếu áp suất của hơi nước cộng với áp suất của tinh dầu bằng áp suất của môi trường thì hỗn hợp sôi và tinh dầu được lấy ra cùng với hơi nước. - Ưu điểm: + Thiết bị gọn gàng, dễ chế tạo, quy trình sản xuất đơn giản + Trong quá trình chưng cất có thể phân chia các cấu tử bằng cách ngưng tụ từng phần theo thời gian + Thời gian tương đối nhanh, nếu chưng cất gián tiếp thì mất khoảng 6- 10 giờ, nếu thực hiện liên tục thì mất 30phút đến 1 giờ.

+ Có thể tiến hành chưng cất với các cấu tử chịu được nhiệt độ cao. -Nhược điểm: + Không áp dụng phương pháp này với những nguyên liệu có hàm lượng tinh dầu thấp vì thời gian chưng cất kéo dài, tốn rất nhiều hơi và nước ngưng tụ. + Tinh dầu thu được có thể bị giảm chất lượng nếu có chứa các cấu tử bị thủy phân. + Không có khả năng tách các thành phần bay khó bay hơi trong các thành phần của nguyên liệu.

+ Hàm lượng tinh dầu còn lại trong nước chưng tương đối lớn. n 7 + Tiêu tốn một lượng nước khá lớn để làm những tụ hỗn hợp hơi.2 Tách chiết bằng dung môi: - Nguyên tắc: Phương pháp này dựa trên nguyên tắc sử dụng dung môi thích hợp để hòa tan những cấu tử mang hương trong nguyên liệu đã được xử lý thành dạng thích hợp ở nhiệt độ phòng. Dung môi chiết sẽ ngấm qua thành tế bào của nguyên liệu, các hợp chất trong tế bào sẽ hòa tan vào dung môi, sau đó sẽ xuất hiện quá trình thẩm thấu giữa dịch chiết bên trong dung môi với bên ngoài dung môi do chênh lệch nồng độ. Sau khi chiết phải thực hiện quá trình tách dung môi ở áp suất thấp để thu tinh dầu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận văn thạc sĩ mang tiêu đề "Nghiên cứu khả năng kháng khuẩn của dịch chiết lá trầu không và diếp cá" tập trung vào việc phân tích và đánh giá hiệu quả kháng khuẩn của hai loại thảo dược phổ biến trong y học cổ truyền Việt Nam. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp những thông tin quý giá về khả năng kháng khuẩn của dịch chiết từ lá trầu không và diếp cá, mà còn mở ra hướng đi mới cho việc phát triển các sản phẩm chăm sóc sức khỏe tự nhiên. Độc giả sẽ tìm thấy những ứng dụng tiềm năng của các loại thảo dược này trong việc phòng ngừa và điều trị các bệnh nhiễm khuẩn, từ đó nâng cao nhận thức về giá trị của y học cổ truyền.

Để mở rộng thêm kiến thức về hoạt tính sinh học của các loại thảo dược, bạn có thể tham khảo tài liệu Đồ án hcmute chiết xuất và đánh giá hoạt tính sinh học của các hoạt chất từ lá hương thảo. Tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về quy trình chiết xuất và đánh giá hoạt tính sinh học của các hợp chất tự nhiên, từ đó có thể áp dụng vào nghiên cứu và phát triển sản phẩm trong lĩnh vực y học và dược phẩm.