Mở đầu hƣơng 1. Tổng quan hƣơng 2. Thực nghiệm hƣơng 3. Kết quả và thảo luận Kết luận 5 C N 1.
ỒN VÀ NT N T Ể ỒN ồng (Cu) là kim loại thuộc nhóm I , chu kỳ 4, ô thứ 29 trong bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học. Cu là kim loại dẻo, có độ dẫn điện và dẫn nhiệt cao, Cu tấm có màu đỏ, Cu vụn có màu đỏ gạch, Cu nguyên chất mềm và dễ uốn, dễ dát mỏng, dễ kéo sợi. Vì vậy, Cu đƣợc sử dụng làm chất dẫn nhiệt, dẫn điện, vật liệu xây dựng, và thành phần của các hợp kim của nhiều kim loại khác nhau. Gần đây, u đƣợc xem là một trong những vật liệu chính của thế kỷ 21 vì đƣợc ứng dụng làm vật liệu dây dẫn có kích thƣớc nano trong các vi mạch điện tử thay thế cho công nghệ nhôm.
Tinh thể u có cấu trúc lập phƣơng tâm mặt (face centered cubic: fcc) (Hình 1. Trong mạng tinh thể u, mỗi đơn vị cơ sở có 8 hốc tứ diện và 4 hốc bát diện. ộ đặc khít của mạng tinh thể là 74%. Sự sắp xếp các lớp nguyên tử trong mạng tinh thể fcc Mặt Cu(100) trong mạng tinh Cu và hình ảnh EC- STM của Cu(100) tại E = 0,09 V so với Ag/AgCl (C KCl = 3 M), Ubias = 35 mV, It = 5 nA đƣợc mô tả trong hình 1.2, khoảng cách giữa hai nguyên tử Cu gần nhất là 2,56 Å.
a) Mặt phẳng (100) trong mạng tinh thể Cu; b) Hình ảnh EC-STM của Cu(100) tại E = 0,09 V so với Ag/AgCl (CKCl = 3 M), Ubias = 35 mV, It = 5 nA Về mặt hóa học, Cu là kim loại kém hoạt động. Tuy nhiên, trên quan điểm điện hóa, Cu có hoạt tính cao hơn so với các kim loại quý khác nhƣ Au, Ag, và Pt. Việc ứng dụng vật liệu Cu ở kích thƣớc nano đòi hỏi sự hiểu biết tƣờng tận về bản chất của các quá trình bề mặt phù hợp nhƣ hiện tƣợng ăn mòn, sự ức chế ăn mòn bởi phân tử hữu cơ, quá trình oxy hóa, hòa tan anot hay sự hình thành các màng thụ động trên Cu, …. Trong phƣơng pháp E ‐STM, vì lý do kỹ thuật, chất nền đƣợc chọn thƣờng là các bề mặt đƣợc xác định rõ cấu trúc, tức là các đơn tinh thể.
Trong luận văn này, đơn tinh thể u(100) đƣợc sử dụng nhƣ tinh thể mẫu/mô hình nhằm chế tạo và nghiên cứu tính chất, cấu trúc bề mặt của màng đơn lớp hệ hai cấu tử porphyrin trên bề mặt của nó. Ớ T ỆU VỀ PORP RN 1. iới thiệu chung Porphyrin là hợp chất hữu cơ dị vòng, đƣợc hình thành từ bốn vòng pyrrole liên kết với nhau qua các nhóm methine (― H =) [14]. Porphyrin đơn giản nhất là porphin (Hình 1.
Porphin và quy tắc đánh số Porphyrin có thể đƣợc thay thế ở ba vị trí khác nhau: alpha, beta và meso. ác vị trí 2, 3, 7, 8, 12, 13, 17 và 18 là vị trí beta, các vị trí tại 1, 4, 6, 9, 11, 14, 16 và 19 là vị trí alpha, vị trí 5, 10, 15 và 20 là vị trí meso [2]. Porphyrin đƣợc biết đến là những chất màu quan trọng trong một số quá trình tự nhiên. Porphyrin trong heme có tác dụng chuyển hóa và lƣu trữ oxi trong máu.
Trong diệp lục của lá cây, porphyrin tồn tại dƣới dạng màng mỏng và đóng vai trò chính cho sự hấp thụ photon ánh sáng đối với quá trình quang hợp của cây xanh. Chính vì vậy, porphyrin đƣợc nghiên cứu ứng dụng vào công nghệ điện tử nano mô phỏng theo sự tồn tại của nó trong tự nhiên.