Đặt vấn đề Nhân dân ta từ lâu đã thấy được giá trị to lớn của rừng. Cái tiềm thức “Rừng vàng biển bạc” bao đời nay đã ăn sâu vào tâm trí con người Việt Nam vốn yêu thiên nhiên đất nước của mình. Rừng là một hệ sinh thái mà quần xã cây rừng giữ vai trò chủ đạo trong mối quan hệ tương tác giữa sinh vật với môi trường. Rừng có vai trò rất quan trọng đối với cuộc sống của con người cũng như môi trường: cung cấp nguồn gỗ, củi, điều hòa, tạo ra oxy, điều hòa nước, là nơi cư trú của động thực vật và tàng trữ các nguồn gen quý hiếm, bảo vệ và ngăn chặn gió bão, chống xói mòn đất, đảm bảo cho sự sống, bảo vệ sức khỏe của con người…Đứng trước những thách thức về biến đổi khí hậu,giá trị rừng càng được đề cao.
Những năm gần đây, đã có nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước nhằm nỗ lực và bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng. Các nghiên cứu về sinh khối và Carbon trong các hệ sinh thái rừng được thực hiện và tiến hành khá sớm với mục tiêu quản lý chu trình Carbon là nhân tố quan trọng trọng việc quản lý dinh dưỡng và năng suất rừng. Trong những năm trở lại đây nghiên cứu khả năng hấp thụ CO2 và giá trị thương mại Carbon của rừng đã và đang được quan tâm nhằm tìm ra giải pháp giảm thiểu biến đổi khí hậu trong thế kỷ 21. Biến đổi khí hậu, là vấn đề đang đe dọa nghiêm trọng trực tiếp đến lợi ích sống còn của con người trên toàn thế giới, trong đó có cả Việt Nam.
Dự thảo báo cáo đánh giá lần thứ năm của Ủy ban Liên Chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC) cho rằng 95% khả năng con người là nguyên nhân chính gây ra hiện tượng Trái đất ấm lên. Phát hiện mới cho thấy nhiệt độ tăng lên 5% so với thông tin trong báo cáo đánh giá thứ tư công bố hồi năm 2007.Tài liệu sẽ cố gắng lý giải tại sao sự gia tăng nhiệt độ toàn cầu đã giảm kể từ năm 1998 mặc dù mật độ khí nhà kính tăng cao ở mức kỷ lục. Hồi tháng 5/2013, một n 2 báo cáo đăng trên tạp chí “Nature Geoscience” cho biết Trái đất ấm lên chậm hơn trong ngắn hạn so với dự báo trước đây. Để ngăn chặn và giảm thiểu những thảm họa do biến đổi khí hậu gây ra, trong tương lai, Quỹ Khí hậu Xanh Liên hợp quốc (GCF), được thành lập nhằm giúp các nước đang phát triển chống lại biến đổi khí hậu, đã khai trương trụ sở chính tại Hàn Quốc ngày 4/12/2013.
Việc thành lập GCF đã được nhất trí tại các cuộc đàm phán về biến đổi khí hậu của Liên hợp quốc ở Cancun, Mexico năm 2010, theo đó, các nước phát triển sẽ cung cấp 100 tỷ USD mỗi năm cho tới năm 2020 để giúp các nước nghèo hơn đối phó với khí thải Carbon và thích nghi với biến đổi khí hậu, giảm thiểu hiệu ứng nhà kính và ngăn chặn các mối đe dọa do hiện tương biến đổi khí hậu ngây ra. Với tầm quan trọng này, Hội nghị thượng đỉnh về biến đổi khí hậu của Liên Hiệp Quốc, tức Hội nghị lần thứ 18 Công ước Khung Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (COP-18), tiến hành ở Doha, nước Qatar, bắt đầu từ ngày 26/11/2012, đã không thể kết thúc đúng kế hoạch vào ngày 7/12 và phải kéo dài thêm 1 ngày nữa, đến 8/12/2012 mới bế mạc. Hội nghị COP-18 đã đạt được một số điểm nhất trí có ý nghĩa nhất định thể hiện trong Hiệp định Doha, còn gọi là Nghị định thư Kyoto II hay hậu Kyoto: - Trước hết, thời hạn thực hiện nghị định thư Kyoto (hết hạn vào ngày 31/12/2012) được kéo dài từ ngày 1-1-2013 đến hết ngày 31/12/2020. - Ngoài ra, các nước có liên quan gồm Liên minh châu Âu dẫn đầu là nước Đức, Croatia, Iceland và tám nước công nghiệp hóa chiếm 15% khí thải thế giới cam kết giảm khí thải chậm nhất vào năm 2014 (COP-18).
Xuất phát từ thực tế đó, việc định lượng khả năng hấp thụ CO2 và giá trị thương mại Carbon của các hệ sinh thái rừng, đặc biệt là các phương thức canh tác Nông lâm nghiệp đã và đang nhận được sự quan tâm đặc biệt của nhiều quốc gia, trong đó trồng rừng, phục hồi rừng, quản lý và bảo vệ rừng theo hướng Nông lâm kết hợp là một trong những phương thức đem lại hiệu quả hiệu quả kinh tế môi trường vô cùng lớn góp phần phát triển đất nước n 3 theo hướng bền vững. Nghiên cứu sự tích lũy Carbon của một số cây gỗ trong mô hình Nông lâm kết hợp để xác định giá trị kinh tế đối với chức năng phòng hộ sinh thái của rừng nói chung, cây gỗ tron mô hình Nông lâm kết hợp nói riêng là một hướng nghiên cứu mới cần được quan tâm. Việc nghiên cứu này không chỉ có ý nghĩa đối viêc thống kê khí nhà kính của mỗi quốc gia mà nó còn là cơ sở lượng hóa những giá trị kinh tế mà rừng mang lại trong điều hòa khí hậu và giảm thiểu tác hại của hiệu ứng nhà kính. Yên Ninh là một xã miền núi phía bắc của huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên là xã có diện tích rừng và đất lâm nghiệp khá thấp.
Nhưng trong những năm gần đây đươc sự quan tâm của Đảng và Nhà nước tới công tác phục hồi và phát triển rừng, diện tích rừng và đất rừng của toàn xã đã tăng lên đáng kể. Đặc biệt diện tích rừng trồng xen canh trong mô hình Nông lâm hết hợp ở xã đang tăng lên về cả diện tích và chất lượng. Cụ thể là mô hình Nông lâm kết hợp “chè - rừng”, mô hình NLKH “chè - rừng’’ được trồng khá phổ biến trên địa bàn xã, để đánh giá được giá trị thực tế của một số loài cây gỗ trồng xen canh trong mô hình Nông lâm kết hợp “chè - rừng” tại xã Yên Ninh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, đồng thời qua đó có thể lượng giá giá trị môi trường mà mô hình mang lại, chủ yếu là lượng CO2, muốn làm được công việc này thì cần phải xác định được trữ lượng CO2 có trong tích lũy Carbon của các loại cây gỗ trong mô hình. Nghiên cứu dựa trên các phương pháp được thừa nhận và có độ tin cậy cao đã được áp dụng.
Xuất phát từ yêu cầu đó, được sự đồng ý của nhà trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu khả năng hấp thụ CO2 của một số loài cây gỗ trồng xen trong mô hình NLKH (chè – rừng) tại xã Yên Ninh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên”. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu khả năng hấp thụ CO2 của một số loài cây gỗ trồng xen trong mô hình NLKH tại xã Yên Ninh, nhằm phát triển và thiêt lập được các mô hình NLKH xen cây gỗ và đồng thời bổ xung những cơ sở khoa học cho việc kiểm kê trong thu phí dịch vụ môi trường rừng. Mục tiêu nghiên cứu 1. Mục tiêu về lý luận - Góp phần xây dựng luận cứ khoa học cho việc định lượng giá trị môi trường của rừng trong hệ thống nông lâm kết hợp tại xã Yên Ninh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên nói riêng và định giá rừng Việt Nam nói chung.
Mục tiêu về thực tiễn - Xác định được lượng CO2 hấp thụ ở một số loài cây gỗ trồng xen trong mô hình Nông lâm kết hợp tại xã Yên Ninh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. - Đề xuất được các phương pháp xác định lượng CO2 hấp thụ ở một số loài cây gỗ trồng xen trong mô hình NLKH tại khu vực nghiên cứu và ước tính giá trị kinh tế môi trường thông qua lượng CO2 hấp thụ. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu Qua quá trình thực hiện đề tài, sinh viên sẽ được thực hành việc nghiên cứu khoa học, biết phân bổ thời gian hợp lý để đạt được kết quả cao trong quá trình làm việc, động thời là cơ sở để củng cố những kiến thức đã học trong nhà trường vào hoạt động thực tiễn. Ý nghĩa thực tiễn sản xuất Đề tài góp phần xác định được khả năng hấp thụ CO2 của một số loài cây gỗ trồng xen trong mô hình NLKH “chè – rừng”, bên cạnh đó, việc xây dựng được mối tương quan giữa hấp thụ CO2 với các nhân tố điều tra sẽ giúp ích cho các quá trình nghiên cứu về sau.
n 5 Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học của nghiên cứu 2. Công ước liên hợp quốc về biến đổi khí hậu - Trong những năm gần đây, đặc biệt trong ngữ cảnh chính sách môi trường, biến đổi khí hậu thường đề cập tới sự thay đổi khí hậu hiện nay, được gọi chung bằng hiện tượng nóng lên toàn cầu. Nguyên nhân chính làm biến đổi khí hậu Trái Đất là do sự gia tăng các hoạt động tạo ra các chất thải khí nhà kính, các hoạt động khai thác quá mức…đã và đang đe dọa nghiêm trọng đến hệ thống khí hậu trái đất.
Để bảo vệ hệ thống khí hậu trái đất, cộng đồng quốc tế đã có những nỗ lực nhằm ngăn chặn và giảm thiểu biến đổi khí hậu. - Công ước chung về biến đổi khí hậu của Liên Hợp Quốc (UNFCCC) đã được ký tại Rio de Janeiro - Brazil năm 1992. Cho đến nay đã có 194 nước thành viên phê chuẩn công ước này, nhằm ngăn chặn và giảm thiểu khí nhà kính (KNK) trong khí quyển ở mức có thể và hạn chế tất cả những hậu quả nghiêm trọng của biến đổi khí hậu. - Đến năm 1997 để đưa công ước đi vào hoạt động, nghị định thư Kyoto đã được công bố và đưa ra thảo luận, và được coi là “bước cam kết đầu tiên” với sự cam kết có tính pháp lý của 39 nước phát triển nhằm cắt giảm mức phát thải KNK của họ tối thiểu là 5,2% trong giai đoạn 2008 - 2012 so với mức năm 1990.
Cơ chế phát triển sạch (CDM) và thị trường Carbon 2. Cơ chế phát triển sạch (CDM) CDM - Cơ chế phát triển sạch là một trong ba cơ chế được quy định trong điều 12 của nghị định thư Kyoto. Đối với các nước đang phát triển trong đó có cả Việt Nam cơ chế này đóng vai trò vô cùng quan trọng, nó cho phép chính phủ hoặc tổ chức cá nhân ở các nước đang phát triển thực hiện dự án n 6 giảm thải khí nhà kính để nhận đươc “chứng chỉ giảm phát thải”, viết tắt là CERs. Nhằm hấp thụ CO2 từ khí quyển và làm giảm lượng phát thải KNK.