CHƯƠNG 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Những khái niệm cơ bản về BĐKH a) Biến đổi khí hậu: Theo IPCC (2007), Biến đổi khí hậu là sự biến đổi trạng thái của hệ thống khí hậu, có thê được nhận biết qua sự biến đổi về trung bình và sự biến động của các thuộc tính của nó theo một xu hướng nhất định, được duy trì trong một thời gian đủ dài, điển hình là một thập kỷ hoặc dài hơn. b) Biến đổi khí hậu có thể xây ra do các nguyên nhân tự nhiên hoặc nhân tạo: Các yếu tố tự nhiên có thể làm cho khí hậu của trái đất thay đổi bao gồm sự thay đổi về cường độ bức xạ của mặt trời, sự thay đổi chậm về quỹ đạo của trái đất quanh mặt trời, các hoạt động kiến tạo của vỏ trái đất, các hoạt động núi lửa, sự thay đổi chuyên động của các đòng hải lưu trong các đại dương. Các hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyên (ví dụ việc đốt nhiên liệu hóa thạch) và làm thay đổi bề mặt trái đất (ví dụ như nạn phá rừng, khai khoáng, canh tác nông nghiệp, đô thị hóa, sa mạc hóa, v.) Nguyên nhân chính của sự biến đổi khí hậu hiện nay của trái dat 1a do su gia tăng các hoạt động tạo ra các khí gây hiệu ứng nhà kính, các hoạt động khai thác quá mức các bể hấp thụ và bể chứa cácbon như các hệ sinh thái rừng, các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác.
Vấn đề được quan tâm nhất trong các yếu tố nhân tác là việc sử dụng các nhiên liệu hóa thạch làm gia tăng phát thải khí CO; trong khí quyên. Các hoạt động khác khác như thay đổi phương thức sử dụng đất, phá rừng., cũng góp phần rất quan trọng làm thay đổi khí hậu. c) Biểu hiện của BĐKH - Biến đổi của nhiệt độ trung bình: Nhiệt độ toàn cầu đang tăng. Trong 100 năm, từ 1906 đến 2005 nhiệt độ trung bình đã tăng 0,74 °C.
- Biến đổi lượng mưa trung bình: không giống như xu thế ấm lên khá đồng nhất của nhiệt độ, lượng mưa lại có sự tăng giảm khác nhau theo khu vực. - Biến đổi ở các vùng cực, băng quyên: Băng biển Bắc bán cầu giảm, độ phủ tuyết có xu hướng giảm, ngày đóng băng của các sông hồ đến muộn, ngày băng tan lại đến sớm hơn. 11 - Biến đổi mực nước biển: Nóng lên của toàn cầu làm gia tăng mực nước biển do băng tan và nước biển dãn nở. Từ năm 1961 — 2003, mực nước biển trung bình trên toàn cầu dâng lên với tốc độ trung bình là 1,8 mm/nam.
- Thiên tai (hạn hán, lũ lụt, mua da,.) gia tang về cường độ, tần xuất và độ bất thường. Những biến đổi trên sẽ tác động và gây hậu quả rất lớn đến tất cả các lĩnh vực của xã hội. (IPPC, 2007; Nguyễn Đức Ngữ, 2009; Trương Quang Học và Nguyễn Đức Ngữ, 201 1) d) Thích ứng và giảm nhẹ BĐKH Biến đổi khí hậu đang diễn ra và là quá trình không thể đảo ngược. Nhân loại có thê ứng phó với biến đổi khí hậu bằng cách fhích ứng với tác động của nó (để làm giảm thiệt hai do BĐKH gây ra) và bằng cách giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính (giám nhẹ) để làm giảm mức độ và cường độ của sự thay đổi.
Thich ứng với biến đổi khí hậu là sự điều chỉnh các hệ thống tự nhiên hoặc Con người đối với sự thay đối của hoàn cảnh sống hoặc môi trường, nhằm mục đích giảm khả năng bị tổn thương do biến đổi khí hậu và tận dụng các cơ hội do nó mang lại cả trong ngắn hạn và dài hạn. Giảm nhẹ biến đổi khí hậu là các hoạt động nhằm giảm mức độ hoặc cường độ phát thải khí nhà kính trong những thập kỷ tới. Hiệu quả giảm nhẹ chỉ có thê đạt được khi các chính sách phù hợp được đưa ra một cách đầy đủ và loại bỏ được các rào cản liên quan. Năng lực thích ứng và giảm nhẹ phụ thuộc vào hoàn cảnh kinh tế-xã hội và môi trường cũng như tính sẵn sàng của hệ thống thông tin và trình độ công nghệ của mỗi quốc gia.
Hiện nay còn có rất ít thông tin so sánh về chỉ phí và hiệu quả giữa các biện pháp thích ứng với với các biện pháp giảm nhẹ. e) Rừng là quần xã sinh vật có diện tích đủ lớn trong đó cây rừng là thành phần chủ yếu. Giữa quần xã sinh vật và môi trường, các thành phần trong quần xã sinh vật phải có mối quan hệ mật thiết để đảm bảo khác biệt giữa hoàn cảnh rừng và các hoàn cảnh khác. Rừng bao phủ 31 % tổng diện đất đai trên bé mat Trai Dat, giữ vai trò to lớn đối với con người như: cung cấp nguồn gỗ, củi, điều hòa khí hậu, tạo ra oxy, điều hòa nước, nơi cư trú động thực vật và tàng trữ các nguồn gen quý hiếm.
Rừng cung 12 cấp nơi cư trú cho hàng trăm triệu người trên toàn thế giới. Sinh kế của 1,6 tỷ người phụ thuộc vào rừng. Tổng thương mại toàn cầu về các sản phẩm rừng có giá trị khoảng 379 tỷ USD (số liệu năm 2005). Rừng là nơi lưu giữ hon 80% da dang sinh học trên cạn.
Rừng lưu giữ nguồn nước, tạo ra và duy trì độ phì nhiêu của đất. Rừng giúp giảm nhẹ sự tàn phá của thiên tai. Rừng còn là lá phổi xanh của hành tinh: chúng hấp thụ khí CO; và giải phóng O; vào khí quyển. Rừng cần phải được sử dụng trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu: Sử dụng rừng và cây xanh để hấp thụ và lưu trữ cácbon, nhờ đó làm giảm lượng phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính.
Theo cách này, rừng trở thành một phần của một chiến lược để giảm nhẹ và thích ứng vớibiễn đổi khí hậu; Điều này có thể đạt được không chỉ thông qua việc ngăn chặn nạn phá rừng mà còn phải trồng rừng mới (trồng rừng tại vùng đất vốn không có rừng) và tái trồng rừng (trồng lại rừng tại các khu vực rừng đã bị phá). Biến đỗi khí hậu và sự ra đời của REDD REDD là từ viết tắt của cụm từ tiếng Anh “Reducing Emissions from Deforestation and Forest Degradation in Developing countries”, có nghĩa là “Giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính thông qua các nỗ lực hạn chế mắt rừng và suy thoái rừng tại các nước đang phát triển”. REDD được coi là một giải pháp giảm làm giảm khí gây hiệu ứng nhà kính một cách đáng kể, nhanh, ít tốn kém và có lợi cho các bên tham gia. Đáng kể vì 1/5 lượng phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính toàn cầu là do mất rừng và suy thoái rừng; giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính từ rừng sẽ rẻ hơn so với hầu hết các biện pháp giảm nhẹ khác vì phần lớn hoạt động phá rừng và làm suy thoái rừng chỉ mang lại lợi nhuận thấp; nhanh vì phần lớn việc giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính có thể đạt được bằng những cải cách táo bạo và các biện pháp khác không phụ thuộc vào đổi mới công nghệ; có lợi cho các bên vì các nguồn tài chính lớn và chế quản trị tốt hơn có thể mang lại lợi ích khác nhau cho người nghéo ở các nước đang phát triên chứ không chỉ lợi ích liên quan tới khí hậu.
REDD dựa trên một ý tưởng rất đơn giản: trả tiền cho những người giúp giảm mắt rừng và suy thoái rừng. REDD cung cấp những đền đáp về tài chính để tránh mắt rừng và suy thoái rừng. Khi làm như vậy, REDD cũng sẽ tạo ra động lực 13 cho việc quản lý rừng bền vững và bình đẳng đối với người dân nghèo sinh sống trong hoặc gần các vùng có rừng. Trong những năm qua, giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính từ mất rừng và suy thoái rừng (REDD) tại các nước đang phát triển đã trở thành van dé trong tâm của các cuộc tranh luận quốc tế về khí hậu.
Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất tô chức tại Rio de Janeiro vào tháng 6/1992 đã đưa ra Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC) với mục tiêu ổn định nồng độ khí gây hiệu ứng nhà kính trong khí quyên ở mức có thê ngăn chặn can thiệp nguy hiểm con người đối với hệ thống khí hậu. Kể từ năm 1995, các bên tham gia UNFCCC đã gặp gỡ hàng năm tại các Hội nghị thượng đỉnh Các bên (COP) dé danh giá các tiến bộ đạt được trong việc ứng phó với biến đổi khí hậu. Năm 1997, tại Hội nghị thượng đỉnh Các bên tham gia lần thứ 3 (COP-3), Nghị định thư Kyoto - một thỏa thuận về khí hậu toàn cầu, đã được ký kết và chính thức hóa các nghĩa vụ ràng buộc mang tính pháp lý đối với các nước phát triển trong việc giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính. Tuy nhiên, các chính sách liên quan đến giảm phát thải do mất rừng và suy thoái đã bị loại ra khỏi Nghị định thư này vì người ta cho rằng rất khó đo đạc và giám sát đối với các hệ sinh thái đa dạng và với sự thay đổi sử dụng đất.
Điều này dẫn đến sự hình thành Liên minh Các quốc gia Rừng mưa nhằm mục tiêu liên kết giữa các quốc gia đang phát triển có rừng mưa nhiệt đới nhằm đảm bảo hài hòa công tác quản lý bảo vệ rừng và phát triển kinh tế. Năm 2005, tại Hội nghị thượng đỉnh Các bên tham gia lần thứ 11 tại Bali (COP- 11), Liên minh Các quốc gia Rừng mưa đã khởi xướng một yêu cầu xem xét việc giảm phat thai tir mat rừng ở các nước đang phát trién (RED). COP-11 da giao cho Ban bổ trợ về Tư vẫn Khoa học và Công nghệ (SBSTA), cơ quan thường trực của UNFCCC, xem xét về mặt khoa học, kỹ thuật và phương pháp luận liên quan đến đề xuất nay. Năm 2007, Hội nghị thượng đỉnh Các bên tham gia lần thứ 13 tại Bali (COP- 13) đã đạt được thỏa thuận về “cần phải tiếp tục những hành động có ý nghĩa nhằm giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính từ mất rừng và suy thoái rừng (REDD)”.
COP-13 đã thống nhất rằng các chỉ tiết của cơ chế REDD quốc tế sẽ được bàn thảo tại Hội nghị Các bên lần thứ 15 (COP-15) tai Copenhagen vao tháng 12/2009.