CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1 SVTH: NGUYỄN THỊ THANH TÚ KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S DƯƠNG NHẬT LINH 1. CÂY DƯỢC LIỆU Trên trái đất, số lượng loài thực vật bậc cao chiếm khoảng 250.000 loài, trong đó cây dược liệu chiếm khoảng 35.000 loài và chúng được sử dụng với những mục đích khác nhau tuỳ thuộc vào từng vùng văn hoá khác nhau. Cây dược liệu là một phần quan trọng trong nền y học truyền thống của nhiều nước. Cây dược liệu được sử dụng hỗ trợ chăm sóc sức khoẻ và y học cách đây vài nghìn năm (Schulz, 2006).
Nhiều cây dược liệu được sử dụng trong đối kháng nấm, kháng khuẩn và điều trị một loạt các bệnh nhiễm trùng (Mongalo và cs, 2013). Theo Tổ chức y tế thế giới, cây dược liệu sẽ là nguồn tốt nhất để thu nhận các hợp chất dược liệu đa dạng (WHO, 1999). Các nhà nghiên cứu đã chứng minh được một số hợp chất được sử dụng trong nền y học hiện đại có nguồn gốc từ thực vật (Fabricant và cs, 2001). Tổ chức Y tế thế giới ghi nhận rằng khoảng 75-80% dân số thế giới sử dụng thảo dược trong điều trị do cây dược liệu hấp thụ tốt trong cơ thể con người và ít gây ra tác dụng phụ (Jayaraj, 2010).
Cây dược liệu hiện nay còn được sử dụng để điều trị một số bệnh như: chống nhiễm khuẩn, bệnh tiểu đường, cao cholesterol và viêm nhiễm (Fabricant và cs, 2001). Cây trầu không Phân loại thực vật học (Đỗ Tất Lợi, 2004) + Tên khoa học: Piper betle L. + Tên khác: Trầu, Thược Tương, Hruề Êhang (Buôn Mê Thuột) + Vị trí phân loại cây trầu không: Piper betle L.(Pradhan, 2013) Giới: Plantae Bộ: Piperales Họ: Piperaceae Chi: Piper 2 SVTH: NGUYỄN THỊ THANH TÚ KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S DƯƠNG NHẬT LINH Loài: P. 1: Cây trầu không (www.vn) Công dụng và dược tính Trong nghiên cứu của Nalina và Rahim, dịch chiết thô của lá trầu Malaysia có tác động lên vi khuẩn gây sâu răng trong khoang miệng người là Streptococcus mutans (Nalina và cs, 2006; Nalina và cs, 2007).
Dịch chiết lá có tác dụng ức chế sự phát triển của trực khuẩn lao in vitro trong thử nghiệm pha loãng với nồng độ ức chế thấp nhất 1 : 5000 (Suppakul và cs, 2006). Ở Việt Nam, trầu không còn được dùng chữa hàn thấp nhức mỏi, đau bụng đầy hơi, vết thương nhiễm trùng có mủ sưng đau, hen suyễn khi thời tiết thay đổi, đờm nhiều khó thở, cảm mạo, bỏng, mụn nhọt, hắc lào, mề đay, ghẻ ngứa, sâu kiến đốt, viêm quanh răng, viêm tai, viêm họng. Một số bệnh viện nước ta dùng cao nước trầu không thí nghiệm điều trị bệnh viêm cận răng (Đỗ Tất Lợi, 2004). Ngoài ra, trầu không có khả năng chống oxy hóa, chống ung thư (Singh và cs, 2009).
Các công trình nghiên cứu ứng dụng Năm 2014, Bintang và cộng sự đã phân lập được chủng vi khuẩn nội sinh BS1 từ lá trầu không có khả năng chống lại một số vi khuẩn gây bệnh như: E. aureus, trong đó chủng BS1 có tác động ức chế lớn nhất đối với S. aureus và phân tích trình tự 16S rRNA cho thấy chủng vi khuẩn BS1 tương đồng 98 % với Pseudomonas sp. 3 SVTH: NGUYỄN THỊ THANH TÚ KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S DƯƠNG NHẬT LINH 1.
Cây sâm đại hành Phân loại thực vật (Đỗ Tất Lợi, 2004) + Tên khoa học: Eleutherine Subaphylla gagnep, họ Lay ơn (Iridaceae). + Tên khác: tỏi Lào, hành đỏ, tỏi mọi, kiệu đỏ, phong nhan, hom búa lượt (Thái). + Vị trí phân loại cây sâm đại hành (Eleutherine Subaphylla gagnep) Giới: Plantae Phân lớp: Liliidae Bộ: Asparagales Họ: Iridaceae Chi: Eleutherin Loài: Eleutherine Subaphylla gagnep Hình 1. 2: Cây sâm đại hành (www.vn) Công dụng và dược tính Dịch chiết củ sâm đại hành có tác dụng kháng khuẩn, chống viêm cấp và mãn tính, không có độc tính, không ảnh hưởng đến thành phần máu và chức năng gan, thận, làm tăng hồng cầu và huyết sắc tố, an thần, chữa thiếu máu, vàng da, phụ nữ kinh nguyệt không đều, đầu váng, mắt hoa, nhức đầu, mệt mỏi và mất ngủ.
Sâm đại 4 SVTH: NGUYỄN THỊ THANH TÚ KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S DƯƠNG NHẬT LINH hành có các chất kháng sinh chính là Eleutherin, Isoeleutherin và Eleuthenol có tác dụng kháng khuẩn (Trương Minh Lương và cs, 2006). Các công trình nghiên cứu ứng dụng Người ta đã tìm thấy các chất trong củ, thân sâm đại hành như Eleutherin, Isoeleuthrin, Eleutherola có tác dụng kháng khuẩn mạnh (Schmid, 1957). Dịch chiết toàn phần củ sâm đại hành có tác dụng ức chế rõ rệt in vitro đối với phế cầu khuẩn, liên cầu tan máu, tụ cầu vàng, tác dụng yếu với Shigella flexneri, S. Cây khổ qua Phân loại thực vật (Đỗ Tất Lợi, 2004) Giới: Plantae Bộ: Cucurbitales Họ: Cucurbitaceae Chi: Momordica Loài: M.
3: Cây khổ qua (www.vn) Công dụng và dược tính 5 SVTH: NGUYỄN THỊ THANH TÚ KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S DƯƠNG NHẬT LINH Quả khổ qua được dùng làm thuốc mát, chữa ho, sốt, đái rắt, đái buốt, bệnh phù thũng do gan nhiệt, chữa đái tháo đường, dùng tắm cho trẻ trừ rôm sảy, chữa nhọt độc sưng tấy, các vết thương nhiễm độc, chữa đau dạ dày. Các công trình nghiên cứu ứng dụng Nghiên cứu in vitro cho thấy dịch chiết khổ qua gây ức chế sự xâm nhập tế bào của virus HIV, giảm sự lây nhiễm của tế bào lympho T với virus này. Nghiên cứu dịch chiết khổ qua cũng gây ức chế sự phát triển của một số chủng loại virus khác, (Wang và cs, 1999). Cây neem Phân loại thực vật (Đỗ Tất Lợi, 2004) + Tên khoa học : Azadirachta Indica A.
Juss, thuộc họ xoan (Meliaceae) + Tên khác: xoan Ấn Độ, xoan chịu hạn, sầu đâu, cây nim, xoan trắng. + Tên nước ngoài: neem tree, margosa, Indian lilac (Anh), nimb (Hindi), niembau (Đức), nimba (Singapore). + Vị trí phân loại cây neem Azadirachta Indica A. Juss (Biswas và cs, 2002) Giới: Plantae Ngành: Angiospermatophyta Bộ: Rutales Họ: Meliaceae Chi: Melieae Giống: Azadirachtia 6 SVTH: NGUYỄN THỊ THANH TÚ KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S DƯƠNG NHẬT LINH Loài: Azadirachta indica A.
4: Cây neem (www.com) Công dụng và dược tính Neem được người Ấn Độ sử dụng đầu tiên để hỗ trợ sức khỏe, giúp tăng cường sức khỏe một cách tổng thể, sử dụng neem không có bất cứ tác dụng phụ nào (Conrick, 2001). Cây neem có vị đắng, nồng, tính mát, chữa trị được giun, chống nôn ói, ung nhọt ở trẻ em, chữa trị sưng viêm, sốt, rụng tóc, dùng xoa chống đau khớp hay dùng để trị chàm, táo bón, ung nhọt,…đối với dịch trích từ lá cây này có tính xua đuổi hay ức chế sự tăng trưởng của côn trùng. Nhánh non có tác dụng trị giun, hen xuyễn và đầy bụng. Hoa có tính kích thích, bổ và dễ tiêu hóa.
Ngoài ra còn có thể dùng để trị đờm ở cổ. Trái có thể làm lành vết thương, chữa lao phổi, bệnh vàng da, sốt rét. Vỏ thân cây còn trị được bệnh lậu và bệnh đái tháo, trị viêm họng, suy nhược, chứng vàng da, làm giảm sốt. Ngoài ra, vỏ có thể được dùng làm thuốc ngừa thai (Thanh Huế, 2000; Võ Quang Yến, 1996).
Khảo sát dược lý học còn cho thấy lá cây neem có tác dụng kháng virus, có tính lợi niệu nhẹ. Dịch trích của lá trong nước và lá non có khả năng làm giảm đường huyết ở thỏ (Luscombe và cs, 1974). Hợp chất nimbidol được trích từ hạt neem có tính hạ sốt và trị sốt rét (Phan Đức Bình và Phạm Bách Cúc, 1996). Năm 2002, Biswas và cộng sự đã có nghiên cứu về hoạt tính sinh học của cây neem cho thấy dịch chiết bằng chloroform từ vỏ thân cây 7 SVTH: NGUYỄN THỊ THANH TÚ KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S DƯƠNG NHẬT LINH có tác dụng chống phù nề chân và viêm tai ở chuột, chiết xuất bằng nước từ vỏ thân cây đã được chứng minh có khả năng tăng cường đáp ứng miễn dịch ở chuột.
Ngoài ra, chiết xuất bằng nước từ lá neem có tác dụng chống loét hiệu quả ở chuột (Biswas và cs, 2002). Hợp chất nimbidin được trích từ hạt neem có tác dụng chống viêm loét bao tử, trị phong thấp, ức chế nấm da, nấm tóc Tinea rubrum, ức chế vi trùng lao (Phan Đức Bình, 2001). Hiện nay, các hoạt chất từ cây neem được cho là có khả năng kiểm soát trên 400 loài sinh vật như: côn trùng, vi sinh vật (vi nấm, vi khuẩn, virus), gây bệnh thực vật, người và động vật. Các hoạt chất từ cây neem được xác định là không độc đối với động vật có xương sống và vô hại đối với nhiều loài thiên địch và tác nhân thụ phấn trong tự nhiên.
Đây là cơ sở cho việc ứng dụng các dịch chiết từ cây neem để sản xuất thuốc trừ sâu và dược phẩm (Biswas và cs, 2002). Các công trình nghiên cứu ứng dụng Chandrashekhara và cộng sự đã phân lập được 7 chủng vi khuẩn nội sinh từ cây neem tại Ấn Độ trong đó có 2 chủng Gram (+) và 5 chủng Gram (-) (Chandrashekhara và cs, 2007). Năm 2009, Verma và cộng sự đã phân lập được 55 chủng xạ khuẩn nội sinh từ cây neem có khả năng ức chế được 54,4% hoạt động của vi khuẩn và nấm bệnh. Cây rau diếp cá Phân loại thực vật học (Đỗ Tất Lợi, 2004) Giới: Plantae Bộ: Piperales Họ: Saururaceae Chi: Houttuynia 8 SVTH: NGUYỄN THỊ THANH TÚ KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S DƯƠNG NHẬT LINH Loài: H.
5: Đặc điểm hình thái cây rau diếp cá (www.vn) Công dụng và dược tính Cây rau diếp cá có khả năng kháng nhiều loại virus như virus gây bệnh herpes (mụn rộp) chủng 1 (HSV-1), virus gây bệnh cúm và HIV chủng 1 của người (HIV-1) nhờ vào hoạt chất quercetin và tinh dầu. Mức độ giảm virus liên quan đến thời gian xử lý bằng thuốc. Hoạt chất decanonyl acetaldehyde từ cây rau diếp cá cũng có tác dụng kháng khuẩn (Kyoko Hayashi và cs, 1995). Cây rau diếp cá còn có tác dụng kháng viêm, thông tiểu.
Dược điển Trung Quốc chỉ định dùng lá diếp cá trong các trường hợp áp-xe phổi, ho khó thở, lỵ, nhiễm trùng đường tiểu tiện, mụn nhọt. Nhân dân ta có kinh nghiệm dùng diếp cá tươi để chữa đau mắt đỏ có tụ máu (giã nhỏ lá, ép vào hai miếng giấy bản, đắp vào mắt), bệnh trĩ (hãm lấy nước uống và rửa). Diếp cá là thứ rau ăn thông thường ở miền Nam. Đây cũng là nguồn cung cấp vitamin P rất tốt cho cơ thể.
Các công trình nghiên cứu ứng dụng Đến nay, nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu cây dược liệu nhưng phần lớn các nghiên cứu này chỉ tập trung khảo sát hoạt tính kháng khuẩn của rau diếp cá 9 SVTH: NGUYỄN THỊ THANH TÚ KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S DƯƠNG NHẬT LINH thông qua các nghiên cứu điều trị lâm sàng.