Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. GIẢI PHẪU HÌNH THÁI ỐNG TỦY 1. Đặc điểm chung Tủy răng là một bộ phận phức tạp, được tạo thành bởi khối mô liên kết giàu mạch máu, dây thần kinh và các tế bào tủy như nguyên bào tạo ngà, nguyên bào sợi, đại thực bào, tế bào trung mô… Tủy răng nằm trong hốc tủy, hình thể của hốc tủy tương tự với hình thể ngoài của răng, gồm 2 phần: tủy thân (buồng tủy); tủy chân (ống tủy). Giải phẫu tủy răng cối nhỏ (Nguồn: Carrotte P.
2004) [24] Buồng tủy được giới hạn bởi trần tủy, sàn tủy và các thành bên. Hệ thống ống tủy là phần nối buồng tủy với lỗ chóp chân răng. Người ta chia hệ thống ống tủy thành 3 phần: 1/3 cổ răng; 1/3 giữa; 1/3 chóp. Sự thắt lại ở chóp là mốc rất quan trọng trong nội nha, có thể sử dụng để quyết định chiều dài làm việc của ống tủy.
Các dạng hình thái ống tủy Có nhiều hình thể ống tuỷ trên 32 răng vĩnh viễn, tuy nhiên người ta thường chia hệ thống ống tuỷ trong mỗi chân răng làm 4 dạng khác nhau: - Dạng I: ống tuỷ đi từ buồng tuỷ tới lỗ chóp răng. 4 - Dạng II: ống tuỷ đi từ buồng tuỷ, tách ra làm hai rồi lại hoà làm một ở đoạn chóp răng. - Dạng III: ống tuỷ đi từ buồng tuỷ rồi tách thành hai nhánh riêng biệt đi xuống chóp răng. - Dạng IV: ống tuỷ đi từ buồng tuỷ chạy xuống gần chóp rồi chia làm hai nhánh ở vùng chóp răng.2: Phân loại ống tủy theo Weine (nguồn: Ballullaya S.
2013) [22] Diện cắt ngang ống tuỷ rất đa dạng, được phân loại ra thành dạng hình tròn, hình oval, hình oval dẹt (long oval), dạng dẹt, hoặc dạng bất thường. Hình thái ống tủy dạng không cân đối, dạng dải, hay dạng hình giọt nước thường gặp ở những chân răng mà có 2 ống tủy, những chân răng có mặt lõm ở phía ngoài, như chân gần của răng cối lớn hàm dưới, chân gần ngoài của răng cối lớn hàm trên, răng cửa hàm dưới và răng cối nhỏ thứ nhất hàm trên. Những ống tủy dạng oval dẹt thường gặp ở chân xa của răng cối lớn hàm dưới, nhóm răng cối nhỏ hàm trên và hàm dưới, nhóm răng cửa và răng nanh hàm dưới. Những nghiên cứu đã thực hiện cho thấy 1 tỉ lệ khá lớn các ống tủy có dạng oval và dạng oval dẹt, ngay cả ở phần chóp chân răng.
Theo Wu và cộng sự (2000) [21], tỉ lệ dạng ống tủy hình oval dài ở 1/3 chóp lên đến 25%, ở nhóm răng cửa hàm dưới là 56% và nhóm răng cối nhỏ 5 có một chân là 63%, và ở chân xa của nhóm răng cối lớn hàm dưới, tỉ lệ này là từ 25-30%. Hình thái giải phẫu phức tạp này có thể xem như là một thách thức lớn đối với sự kiểm soát nhiễm khuẩn trong quá trình sửa soạn ống tủy. Giải phẫu hình thể trong nhóm răng cối nhỏ 1. Răng cối nhỏ thứ nhất hàm trên Răng cối nhỏ thứ nhất hàm trên có thể có từ 1 tới 3 chân, và gần như luôn có ít nhất hai ống tủy, có thể các ống tủy thoát ra ngoài qua một lỗ chóp duy nhất.
Các chân của răng này thường rất mảnh, và tại phần ba chóp các chân có thể cong nhiều về hướng má, hướng lưỡi, hướng xa hoặc hướng gần, vì vậy trong quá trình điều trị các dụng cụ cần được chú ý kỹ [10]. Trong các răng có 2 ống tủy thì loại IV (một ống tủy từ buồn tủy sau đó phân thành 2 ống ra 2 lỗ chóp) là nhiều. Tỉ lệ răng có ống tủy phụ là 34,5% thường ở 1/3 chóp [15]. Răng cối nhỏ thứ hai hàm trên Răng này thường có chiều dài tương tự như răng cối nhỏ thứ nhất hàm trên.
Trong 40% các trường hợp, Răng cối nhỏ thứ hai hàm trên có một chân với một ống tủy. Khoảng 58% trường hợp có hai ống tủy. Các dạng của ống tủy có thể thay đổi từ hai ống tủy và hai lỗ chóp riêng biệt, hoặc hai ống tủy và một lỗ chóp chung, cho đến một ống tủy có hai lỗ chóp. Trong một nghiên cứu, cho thấy rằng 59% các răng cối nhỏ thứ hai hàm trên có những ống phụ.
Cũng giống như răng cối nhỏ thứ nhất hàm trên, phần ba chóp của răng này thường cong nhiều, chủ yếu về phía xa, đôi khi cong về phía ngoài. Răng cối nhỏ thứ nhất hàm dưới Hình dạng ống tủy răng này khá phức tạp. Có nghiên cứu đã cho thấy rằng ống tủy đơn thường được tìm thấy có thể chia thành hai ống ở phần chóp và thoát ra ngoài với hai lỗ chóp trong 25% trường hợp. Điều đó gây khó 6 khăn trong việc điều trị cho răng này.
Một số trường hợp, các ống tủy thoát ra ngoài với lỗ chóp lớn, làm cho việc bít kín ống tủy càng khó khăn hơn. Răng cối nhỏ thứ hai hàm dưới Răng này tương tự như răng cối nhỏ thứ nhất hàm dưới, ngoại trừ việc tỉ lệ có hai ống tủy thấp hơn rất nhiều. Một nghiên cứu chỉ ra rằng tỉ lệ hai ống tủy chỉ chiếm 12%. Một nghiên cứu khác cho thấy chỉ có 2,5% răng cối nhỏ thứ hai hàm dưới có hai lỗ chóp.
Do đó, trong các răng cối nhỏ, răng cối nhỏ thứ hai hàm dưới là răng dễ điều trị nhất.1: Số lượng chân và ống tủy của các răng cối nhỏ. Răng Chiều dài trung bình Số chân Số ống tủy RCN thứ nhất hàm trên 20,6 mm 2-3 1 (6%) 2 (95%) 3 (1%) RCN thứ hai hàm trên 21,5 mm 1-3 1 (75%) 2 (24%) 3 (1%) RCN thứ nhất hàm dưới 21,6 mm 1 1 (73%) 2 (27%) RCN thứ hai hàm dưới 22,3 mm 1 1 (85%) 2 (15%) 1. Các bệnh lý của tủy và vùng quanh chóp 1. Tủy viêm có khả năng phục hồi 7 Bệnh nhân có những cơn đau nhẹ, đáp ứng với các kích thích như nhiệt độ, các thức ăn chua ngọt.
Cơn đau ngắn vài giây, đau nhói, khu trú. Thường gặp ở những miếng trám Amalgam lớn không lót đáy ở xoang sâu [21]. Tủy viêm có khả năng hồi phục nếu kích thích được loại bỏ. Tủy trở về trạng thái không viêm, các triệu chứng giảm.
Nếu nguyên nhân không được loại bỏ, tiến trình viêm vẫn diễn ra dai dẳng dẫn đến tủy viêm không có khả năng hồi phục. Tủy viêm không có khả năng hồi phục: - Tủy viêm cấp: [12] + Bệnh nhân có cơn đau tự phát, những kích thích như sự thay đổi nhiệt độ, thức ăn lọt vào xoang sẽ gây ra cơn đau. + Cơn đau kéo dài ngay cả khi nguyên nhân gây đau đã được loại bỏ. + Bệnh nhân có thể đau dữ dội, có mạch nhịp hay đau âm ỉ.
+ Cơn đau có thể khu trú hay lan tỏa. + Cơn đau thường tăng khi nằm hay ngồi cúi đầu xuống, do tư thế đó máu dồn về vùng đầu mặt nhiều. + Khám răng thấy có miếng trám to hoặc xoang sâu (có thể có điểm lộ tủy hoặc không). + Đau có thể kéo dài dai dẳng nếu dịch viêm không có đường thoát.
Tủy viêm có thể tiến triển đến giai đoạn hoại tử tủy. - Tủy viêm mãn: Trong trường hợp tủy viêm cấp mà dịch viêm được dẫn lưu các triệu chứng đau sẽ giảm và tủy viêm cấp chuyển sang thời kỳ im lặng hoặc trường hợp tủy viêm không triệu chứng ngay từ đầu do kích thích nhẹ nhưng liên tục. Hoại tử tủy: + Hoại tử tủy thường không có triệu chứng, nhưng đôi khi có những cơn đau tự nhiên hoặc đau vùng quanh chóp khi có sức ép [6]. 8 + Triệu chứng: tủy hoại tử bán phần có thể có triệu chứng giống như viêm tủy không hồi phục.
Tủy hoại tử toàn phần không có triệu chứng gì, không có phản ứng với nhiệt và điện. Trong một răng có nhiều ống tủy mức độ bệnh lý của từng ống tủy có thể khác nhau: có thể một ống tủy lành mạnh, một ống tủy viêm cấp, một ống tủy hoại tử. Vì vậy việc chẩn đoán khó khăn và bệnh nhân sẽ có những phản ứng khác nhau với các test thử độ sống của tủy. + Tiến triển: Hoại tử tủy nếu không được điều trị tiến trình viêm lan ra khỏi lỗ chóp gốc gây viêm dây chằng nha chu (biểu hiện bởi sự dày lên của khoảng nha chu trên phim) sau đó tiếp tục đến các bệnh lý vùng quanh chóp.
Bệnh lý vùng quanh chóp 1. Viêm quanh chóp cấp - Nguyên nhân: + Chấn thương: cắn phải vật cứng trong quá trình ăn nhai, chấn thương khớp cắn do miếng trám cao, hay do nghiến răng. + Nhiễm trùng: + Tủy hoại tử lan qua lỗ chóp gốc ra vùng quanh chóp. + Áp xe nha chu tạo túi nha chu, đi theo dây chằng nha chu đến lỗ chóp gốc.
+ Trong quá trình điều trị nội nha vô tình đẩy các chất bẩn qua vùng quanh chóp. + Tác nhân vật lý, hóa học: thuốc tẩy trắng, CMC (camphorated monochlorophenol). - Triệu chứng: + Đau tự phát răng nguyên nhân. + Cảm giác răng trồi lên, ăn nhai đau.
+ Niêm mạc đáy hành lang xung huyết, phù nề, đỏ, ấn đau. + Thử nghiệm gõ dọc (+). 9 + Răng nguyên nhân có thể sống hoặc chết tủy, cần thử độ sống của tủy răng. Áp xe quanh chóp cấp Vùng chóp có tình trạng viêm cấp tính có mủ, có thể là tiến triển của viêm quanh chóp cấp, là hậu quả của hoại tử tủy.
- Triệu chứng: + Răng nguyên nhân đau tự phát, hoặc khi chạm phải. + Bệnh nhân có thể cảm giác răng bị trồi + Răng có thể bị lung lay ít hoặc nhiều + Khám răng có lỗ sâu thông với buồng tủy. + Đáy hành lang phù nề, xung huyết. - X quang: ít có giá trị + Khoảng dây chằng nha chu dày.
+ Phiến cứng đứt đoạn. + Vùng thấu quang quanh chóp nhỏ, giới hạn không rõ. Viêm quanh chóp mãn Tình trạng viêm mãn tính vùng quanh chóp có thể kích thích sự thành lập nang hay u hạt. Viêm quanh chóp mãn là tình trạng viêm không có triệu chứng và kéo dài ở quanh chóp răng.
X quang: có vùng thấu quang quanh chóp, có thể lan tràn hay giới hạn rõ. Viêm quanh chóp mãn có mủ Có thể là tiến triển của viêm quanh chóp cấp, biểu hiện bởi lỗ dò niêm mạc hay ngoài da tương ứng với răng nguyên nhân. Ấn lỗ dò có thể có mủ 10 chảy ra. Thường răng nguyên nhân không có triệu chứng, chết tủy.
Khi điều trị nội nha lỗ dò có thể khép lại. Áp xe tái phát Là triệu chứng viêm quanh chóp mãn có những đợt cấp tính giống như áp xe quanh chóp cấp, lỗ dò khép lại, có sự thành lập túi mủ.