Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đặc điểm tủy răng 1. Cấu tạo và chức năng của phức hợp ngà – tủy Tủy răng là mô liên kết có nguồn gốc trung mô, giàu mạch máu nằm trong hốc tủy. Mô tủy phản ứng với các kích thích và đảm nhận chức năng sống của răng.
Khi đánh giá mô học, bốn khu vực riêng biệt của tủy được phân biệt: vùng nguyên bào ngà ở ngoại vi tủy; vùng thưa nhân dưới nguyên bào ngà; vùng giàu tế bào - nổi bật trong tủy buồng; vùng trung tâm tủy - đặc trưng bởi các mạch máu và thần kinh tủy. Các nguyên bào ngà và các tế bào miễn dịch được xem là một phần của phản ứng bảo vệ của tủy đối với các tác nhân gây bệnh [5]. Ngà răng còn chứa các yếu tố tăng trưởng giúp kích thích sự biệt hóa của tế bào gốc, có vai trò quan trọng trong quá trình tái khoáng ngà. Ngà và tủy hình thành một tổng thể về mặt phôi thai cũng như chức năng, được Goldberg định nghĩa là “phức hợp ngà - tủy” [6].
Đáp ứng của tủy đối với kích thích Khi tổn thương sâu răng tiến triển, vi khuẩn Gram âm phóng thích các nội độc tố (lipopolysaccharides - LPS) khuếch tán vào các ống ngà và được nhận biết bởi các thụ thể giống Toll (Toll-like receptors - TLR) ở tủy răng. Những thụ thể cảm nhận đau này khi có LPS gắn vào có thể tiến sâu vào 0,16mm trong ống ngà và hoạt động như một tín hiệu cảnh báo sớm đến tủy, đồng thời hoạt hóa phản ứng viêm. LPS có xu hướng tiến nhanh hơn vi khuẩn vào phức hợp ngà - tủy (khu vực khử khoáng) và khi mức LPS cao, tình trạng viêm tủy nặng hơn [36]. Dựa vào mức độ kích thích, có thể chia ra thành kích thích nhẹ, kích thích mạnh, tủy lộ.
Tuy nhiên trong thực tế sự kết hợp của các mức độ vẫn hay xảy ra. 4 - Kích thích nhẹ sẽ gây phản ứng viêm tủy răng tạm thời. Nếu kích thích không tiếp diễn, tình trạng viêm được giải quyết, ngà răng phản ứng được hình thành kết hợp với sự đóng ống ngà. - Kích thích mạnh hay tủy bị lộ dẫn đến viêm tủy lan rộng hơn.
Tình trạng viêm không được giải quyết sẽ dẫn đến hoại tử tủy. Nếu kích thích được ngăn chặn kịp thời, tủy răng sẽ tổ chức lại mô bị hư hỏng, hình thành cầu ngà sửa chữa bảo vệ mô tủy [5]. Sinh lý bệnh viêm tủy răng Viêm tủy răng do cả vi khuẩn Gram dương và Gram âm gây ra. Viêm tủy là một quá trình hoạt động mà độc lực của vi khuẩn và đáp ứng miễn dịch của ký chủ quyết định tình trạng của tủy răng.
Phản ứng viêm trong tuỷ răng về cơ bản cũng tương tự như các quá trình viêm ở các cơ quan khác trong cơ thể. Những thay đổi trong mô chống lại các tác nhân có hại bao gồm sự thay đổi và sự phối hợp của hệ mạch, hệ thần kinh, các tế bào và đáp ứng dịch thể. Các phản ứng viêm cấp đột ngột khởi phát và trong thời gian ngắn, khởi đầu là phản ứng co các tiểu động mạch. Tiếp theo là hiện tượng giãn mạch, tăng lưu lượng máu.
Tuy nhiên, một số nhân tố đặc biệt tạo ra sự khác biệt của viêm tuỷ răng đó là đặc tính của tổn thương, hiệu quả của cơ chế miễn dịch và vị trí giải phẫu đặc biệt của tuỷ. Viêm tủy răng xảy ra trong môi trường thích ứng thấp do tủy bị giới hạn trong ngà là mô cứng không có khả năng giãn nở, điều này làm cho tủy dễ nhạy cảm do hiện tượng tăng áp lực máu hoặc dịch kẽ sẽ dẫn đến tăng đáng kể áp lực thủy tĩnh của mô, dẫn đến tủy dễ bị hoại tử khi có hiện tượng viêm. Đáp ứng của mô tủy trong giai đoạn sớm của quá trình viêm kích thích các sợi thần kinh ngoại vi A-d dẫn truyền nhanh tạo ra sự nhạy cảm hơn với kích thích lạnh. Cảm giác đau sẽ hết ngay sau khi hết kích thích.
Thử điện với cường độ dòng điện thấp đã có thể gây đáp ứng dương tính [6]. Phân loại bệnh lý tủy răng Nhiều hệ thống phân loại khác nhau về bệnh lý tủy đã được đưa ra. Tuy nhiên, hầu hết dựa trên kết quả mô bệnh học hơn là triệu chứng lâm sàng dẫn đến sự nhầm lẫn trong chẩn đoán bởi vì có ít mối tương quan giữa chúng [50]. Một phân loại đơn giản sử dụng các thuật ngữ liên quan đến kết quả lâm sàng của Hiệp hội Nội nha Hoa Kỳ (AAE) được đề xuất vào năm 2009.
Phân loại này giúp nha sĩ hướng đến hầu hết chiến lược bảo tồn và điều trị thích hợp theo tiến triển tự nhiên của quá trình bệnh lý tủy [57]. Phân loại bệnh lý tủy răng của Hiệp hội Nội nha Hoa Kỳ (AAE) năm 2009 [57]: - Tuỷ bình thường: tủy không có triệu chứng và đáp ứng hoàn toàn bình thường với các thử nghiệm tuỷ. - Viêm tủy có hồi phục: tủy không có tiền sử đau dữ dội hoặc tự phát trước khi áp dụng kích thích lạnh. Đáp ứng trong thời gian ngắn, đặc trưng bởi cơn đau biến mất nhanh sau khi loại bỏ kích thích.
Trong trường hợp mất một phần cấu trúc răng, bệnh nhân đau nhẹ khi cắn và không có bằng chứng đau khi sờ nắn hoặc gõ. - Viêm tủy không hồi phục có triệu chứng: răng đau tự phát và đau chuyển vị. Đau kéo dài khi kích thích lạnh (thường là 30 giây hoặc lâu hơn sau khi loại bỏ kích thích). Cơn đau tăng khi thay đổi tư thế như nằm hoặc cúi xuống và dùng thuốc giảm đau không hiệu quả.
- Viêm tủy không hồi phục không triệu chứng: tủy không có triệu chứng và thường phản ứng bình thường với thử nghiệm nhiệt nhưng có khả năng đã bị chấn thương trước đó hoặc sâu ngà sâu. Trong những trường hợp như vậy, tiền sử đau trong quá khứ và thử nghiệm tủy là các công cụ chính để đánh giá. - Hoại tử tuỷ: tủy đã chết, không đáp ứng với các thử nghiệm tủy, bắt buộc phải điều trị tủy. Viêm tủy răng có hồi phục 1.
Định nghĩa Viêm tủy có hồi phục là tình trạng mô tủy xung huyết hoặc viêm nhẹ, mô tủy có khả năng đáp ứng bằng những phản ứng bảo vệ và quay trở lại chức năng bình thường khi các kích thích bị loại bỏ [6]. Nguyên nhân bao gồm lộ ngà, sâu răng hoặc phục hồi lớn không được trám lót. Theo sau sự loại bỏ nguyên nhân, cụ thể là loại bỏ mô sâu răng, phục hồi bên trên, che phủ ngà răng bị lộ, yêu cầu phải đánh giá thêm để xác định xem liệu viêm tủy có trở về tình trạng bình thường được hay không. Khả năng hồi phục của tuỷ phụ thuộc vào mức độ và thời gian kéo dài của kích thích, thời gian tuỷ chịu ảnh hưởng của kích thích đó và tình trạng mô tuỷ [11].
Răng cối lớn vĩnh viễn bị viêm tủy có hồi phục do sâu răng (A) Hình ảnh phim quanh chóp. (B),(C),(D) Hình ảnh mô học cho thấy phần tủy răng bị viêm bắt màu đậm ở sừng tủy phía gần. Đặc điểm lâm sàng của viêm tủy có hồi phục Quá trình chẩn đoán tình trạng tuỷ răng và vùng quanh chóp phải được thực hiện lần lượt ở các răng đối chứng và răng nguyên nhân. Việc so sánh răng nghi ngờ với các răng liền kề và răng đối diện cần được thực hiện trước tiên để bệnh nhân quen trải nghiệm với phản ứng bình thường khi thử lạnh.
Kiểm tra và đánh giá bổ sung tình trạng nha chu, tình trạng khớp cắn, chiếu đèn và quan sát sự khác biệt màu răng có thể được chỉ định. Thời điểm chuyển từ tổn thương viêm tuỷ có hồi phục sang viêm tuỷ không hồi phục chỉ có tính chất suy đoán, chủ yếu vào việc đánh giá bệnh sử và triệu chứng [12]. Cơn đau tủy Cơn đau tủy là một trong những dấu hiệu cơ năng đáng tin cậy trong chẩn đoán bệnh tủy răng [11]. Trong viêm tủy có hồi phục, răng đau nhẹ khi áp dụng kích thích lạnh, không có tiền sử đau tự phát trước đó.
Cơn đau đáp ứng trong thời gian trung bình 15-30 giây và nhanh chóng biến mất sau khi kích thích được loại bỏ [57]. Xoang sâu - Độ sâu xoang Các triệu chứng bệnh lý tủy cần được tập trung xem xét cùng với độ sâu xoang [36]. Thực tế trên lâm sàng độ sâu của xoang và độ dày của lớp ngà còn lại rất khó đánh giá [62]. Hiệp hội sâu răng quốc tế (ICCC) đã định nghĩa sâu ngà sâu khi dấu chứng trên phim X quang đi đến phần ba hoặc phần tư trong cùng của lớp ngà cùng nguy cơ bị lộ tủy.
Nghiên cứu còn nhấn mạnh rằng việc loại bỏ hoàn toàn mô ngà mềm để lại một hàng rào mỏng của ngà còn lại có thể không cần thiết [46], [9]. - Màu sắc ngà răng Một tổn thương ngà đang tiến triển có màu vàng sáng, kết cấu bề mặt ướt và thám châm nha khoa dễ dàng đi vào vào mô ngà hoại tử. Tổn thương kém 8 hoạt động sẽ có xu hướng sẫm màu hơn với màu nâu, bề mặt khô và cứng hơn. Khi sâu răng ngừng hoạt động và bất hoạt sẽ có màu tối hơn, hầu như không có độ ẩm và không thể thâm nhập bằng thám châm [36].
Đặc điểm cận lâm sàng của viêm tủy có hồi phục Chính vì những biểu hiện ít đặc hiệu của triệu chứng lâm sàng, để chẩn đoán chính xác tình trạng tủy răng cần các thực hiện nghiệm pháp hỗ trợ xác định chính xác tình trạng và chức năng mô tủy. Thử nghiệm lạnh Thử lạnh được coi là nghiệm pháp có giá trị trong chẩn đoán phân biệt viêm tủy hồi phục và không hồi phục dựa trên thời gian kéo dài của cảm giác sau khi hết kích thích [6]. Các kích thích lạnh sẽ gây ra sự co dịch ngà tạo ra dòng lưu chuyển ra phía ngoài, tạo ra “lực thủy động học” tác động lên các sợi A-δ trong phức hợp tủy ngà gây cảm giác buốt. Tủy nhạy cảm đáp ứng nhanh với các kích thích nhiệt, trong đó nhạy cảm hơn với kích thích lạnh.
Trong VTCHP, cảm giác đau sẽ hết ngay sau khi hết kích thích. Thời gian trung bình để có phản ứng nhạy cảm tủy là 15 giây. Theo Mandana Naseri (2017), sự chính xác của thử lạnh, thử nóng và thử điện để xác định tình trạng tủy cần điều trị lần lượt là 78%, 74% và 62%. Thử lạnh có giá trị chẩn đoán cao hơn (giá trị dương tính thật là 91%, giá trị dương tính giả là 67%) [39].