CHƯƠNG I : ĐẶC ĐIỂM VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, ĐỊA CHẤT, THỦY VĂN VÀ HỆ THỐNG GIAO THÔNG NÔNG THÔN TỈNH THÁI BÌNH. Vị trí địa lý, địa hình, hành chính: 1. Địa giới hành chính: - Thái Bình là một tỉnh ven biển ở đồng bằng sông Hồng, miền Bắc Việt Nam. Trung tâm tỉnh là thành phố Thái Bình cách thủ đô Hà Nội 110 km về phía đông nam, cách thành phố Hải Phòng 70 km về phía tây nam.
Thái Bình tiếp giáp với 5 tỉnh, thành phố: Hải Dương ở phía bắc, Hưng Yên ở phía tây bắc,Hải Phòng ở phía đông bắc, Hà Nam ở phía tây, Nam Định ở phía tây và tây nam. Phía đông là biển Đông (vịnh Bắc Bộ). Theo quy hoạch phát triển kinh tế, Thái Bình thuộc vùng duyên hải Bắc Bộ. - Tọa độ: 20°17′đến 20°44′độ vĩ bắc, 106°06′đến 106°39′độ kinh đông.
- Thái Bình có diện tích: 1.542 km², bao gồm 10 phường, 9 thị trấn và 268 xã. Thái Bình được chia thành 7 huyện và 1 thành phố trực thuộc là: 1) Thành phố Thái Bình (tỉnh lỵ) gồm 10 phường và 9 xã. 2) Huyện Đông Hưng (sáp nhập 2 huyện Đông Quan và Tiên Hưng) 1 thị trấn Thị trấn Đông Hưng và 43 xã. 3) Huyện Hưng Hà (sáp nhập 2 huyện Hưng Nhân và Duyên Hà) 2 thị trấn và 33 xã.
4) Huyện Kiến Xương (tách ra từ phủ Kiến Xương tỉnh Nam Định (cũ). Sau Cách mạng Tháng Tám gọi là huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình): 1 thị trấn Thanh Nê và 36 xã 5) Huyện Quỳnh Phụ (sáp nhập 2 huyện Quỳnh Côi và Phụ Dực) 2 thị trấn Quỳnh Côi (huyện lị), Thị trấn An Bài và 36 xã 6) Huyện Thái Thụy (sáp nhập 2 huyện Thái Ninh và Thụy Anh) Gồm thị trấn Diêm Điền và 47 xã. 7) Huyện Tiền Hải gồm 1 thị trấn Tiền Hải và 34 xã 8) Huyện Vũ Thư (sáp nhập 2 huyện Vũ Tiên và Thư Trì) 1 thị trấn Vũ Thư và 29 xã. HV: HOÀNG TRUNG KIÊN Lớp cao học Cầu Hầm K18 6 GVHD :PGS.
NGUYỄN NGỌC LONG LUẬN ÁN THẠC SỸ KỸ THUẬT Từ nay tới năm 2020 sẽ thành lập 4 thị xã: Diêm Điền- Đồng Châu- Hưng Nhân- An Bài. - Dân số: Năm 2006 dân số tỉnh Thái Bình là: 1.865 nghìn người, chiếm 9,85% so với dân số vùng đồng bằng sông Hồng và khoảng 2,23% so với dân số cả nước. Tỷ lệ dân số sống ở thành thị là 7%, nông thôn là 93%. Bản đồ vị trí, hành chính 1.
Địa hình: Địa hình khá bằng phẳng với độ dốc thấp hơn 1%; độ cao phổ biến từ 1-2 m trên mực nước biển, thấp dần từ bắc xuống đông nam, có bờ biển dài 52 km, có 4 con sông chảy qua: phía bắc và đông bắc có sông Hóa dài 35 km, phía bắc và tây bắc có sông Luộc (phân lưu của sông Hồng) dài 53 km, phía tây và nam là đoạn hạ lưu của sông Hồng dài 67 km, sông Trà Lý (phân lưu cấp 1 của sông Hồng) chảy qua giữa tỉnh từ tây sang đông dài 65 km. Các sông này tạo ra 4 cửa sông lớn: Diêm Điền (Thái Bình), Ba Lạt, Trà Lý, Lân. Do đặc điểm sát biển nên chúng đều chịu ảnh hưởng của chế độ thủy triều, mùa hè mức nước dâng nhanh với lưu lượng lớn và hàm lượng phù sa cao, mùa đông lưu lượng giảm HV: HOÀNG TRUNG KIÊN Lớp cao học Cầu Hầm K18 7 GVHD :PGS. NGUYỄN NGỌC LONG LUẬN ÁN THẠC SỸ KỸ THUẬT nhiều và lượng phù sa không đáng kể khiến nước mặn ảnh hưởng sâu vào đất liền từ 15-20 km.
Đặc điểm về điều kiện tự nhiên, địa chất, thủy văn và hệ thống giao thông nông thôn ở Thái Bình: 2. Điều kiện tự nhiên ở tỉnh Thái Bình: 2. Biển và sông ngòi: 2. Biển: - Biển Thái Bình nằm trong vùng biển vịnh Bắc Bộ, là một phần của Biển Đông (Biển Đông là một biển lớn thông với Thái Bình Dương qua các eo biển rộng).
- Vịnh Bắc Bộ nằm ở phía tây bắc biển Đông, thực ra là phần lục địa bị chìm dưới nước biển do đó biển nông, nơi sâu nhất không quá 200m. - Thái Bình là bộ phận của tam giác châu thổ sông Hồng, thuộc trầm tích bờ rời Đệ Tứ có nguồn gốc sông – biển hỗn hợp. Xét về mặt tổng thể thì trầm tích này có khả năng chứa nước rất lớn, mực nước ngầm nông, dễ khai thác. - Theo tài liệu nghiên cứu về địa chất và thủy văn, vùng này có sự phân đới thủy địa hóa theo phương nằm ngang và phương thẳng đứng như sau: Phân đới thủy hóa theo phương nằm ngang: Lấy sông Trà Lý chảy qua giữa tỉnh làm ranh giới: Phía bắc sông Trà Lý gồm các huyện Hưng Hà, Đông Hưng, Quỳnh Phụ và một số xã thuộc huyện Thái Thụy gần khu vực sông Hóa, nằm trong đới nước ngọt có tổng độ khoáng hóa dao động từ 300-500mg/l.
Các tầng chứa nước ngọt rất tốt. Phía nam sông Trà Lý bao gồm các huyện Vũ Thư, Kiến Xương, Tiền Hải, phần lớn huyện Thái Thụy và Thành phố Thái Bình nằm trong đới nước mặn. Các lỗ khoan cho thấy, nước khoan lên có tổng độ khoáng hóa dao động trong khoảng 600-2.500mg/l, nước thuộc loại Clorua Natri. Do bị nhiễm mặn nên không đạt tiêu chuẩn dùng cho nước sinh hoạt.
Phân đới thủy hóa theo phương thẳng đứng từ mặt đất đến độ sâu 140m bao gồm các tầng cách nước và chứa nước sau: + Tầng chứa nước nghèo thuộc hệ tầng Thái Bình HV: HOÀNG TRUNG KIÊN Lớp cao học Cầu Hầm K18 8 GVHD :PGS. NGUYỄN NGỌC LONG LUẬN ÁN THẠC SỸ KỸ THUẬT + Tầng cách nước thuộc hệ tầng Hải Hưng II + Tầng chứa ít nước thuộc hệ tầng Hải Hưng II + Tầng cách nước thuộc hệ tầng Vĩnh Phúc I + Tầng chứa nước lỗ hổng thuộc hệ tầng Vĩnh Phúc II + Tầng chứa nước trong trầm tích cát - cuội- sỏi hệ Hà Nội 2. Sông ngòi: - Tỉnh Thái Bình nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nên hàng năm đón nhận một lượng mưa lớn (1.200mm), lại là vùng bị chia cắt bởi các con sông lớn, đó là các chỉ lưu của sông Hồng, trước khi chạy ra biển. Mặt khác, do quá trình sản xuất nông nghiệp, trải qua nhiều thế hệ,người ta đã tạo ra hệ thống sông ngòi dày đặc.
Tổng chiều dài các con sông, ngòi của Thái Bình lên tới 8.492km, mật độ bình quân từ 5-6km/km2. Hướng dòng chảy của các con sông đa số theo hướng tây bắc xuống đông nam. Phía bắc, đông bắc Thái Bình còn chịu ảnh hưởng của sông Thái Bình. Có thể nói Thái Bình như một vùng đất "cù lao" ba bề là sông, một bề là biển.
Thái Bình được bao bọc và chia cắt bởi các con sông chính sau: 1) Phía tây, tây nam và phía nam (đoạn ngã ba sông Luộc đến cửa Ba Lạt) có sông Hồng chảy uốn khúc, quanh co, là nguồn cung cấp nước và phù sa chính cho Thái Bình. 2) Phía tây bắc là sông Luộc (một chỉ lưu của sông Hồng), đây là sông cung cấp nước cho các huyện Quỳnh Phụ, Hưng Hà. 3) Phía đông bắc là sông Hóa chảy ra cửa sông Thái Bình 4) Sông Trà Lý (một chỉ lưu của sông Hồng) bắt nguồn từ sông Hồng chảy ra biển, chia đôi Thái Bình thành hai khu: Khu bắc và khu nam. 5) Sông Diêm Hộ, chảy qua một phần huyện Đông Hưng và chia đôi huyện Thái Thụy (phần Thụy Anh, phần Thái Ninh cũ) và chảy ra biển thông qua cống Trà Linh.
HV: HOÀNG TRUNG KIÊN Lớp cao học Cầu Hầm K18 9 GVHD :PGS. NGUYỄN NGỌC LONG LUẬN ÁN THẠC SỸ KỸ THUẬT - Ngoài hệ thống sông ngoài đê, Thái Bình còn có hệ thống sông ngòi trong đê chằng chịt chủ yếu phục vụ tưới tiêu cho đồng ruộng và sinh hoạt của người dân. Sau đây là một số sông nội bộ của tỉnh: Khu vực bắc Thái Bình: 1) Sông Tiên Hưng: Vốn là con sông tự nhiên chạy uốn quanh các huyện Hưng Hà và Đông Hưng. Sông dài 51km, rộng 50-100m, tưới tiêu cho các vùng đất ven sông và là đường giao thông thủy quan trọng của vùng này.
2) Sông Sa Lung: Sông đào, khởi công từ năm 1896 đến năm 1900 thì, dài khoảng 40km, chảy qua các phủ huyện Hưng Nhân, Duyên Hà (nay là Hưng Hà) Tiên Hưng, Đông Quan (nay là huyện Đông Hưng), Thái Ninh nay là huyện Thái Thụy. 3) Sông Quỳnh Côi: Còn gọi là sông Yên Lộng hay sông Bến Hiệp. Đây là con sông đào xuyên qua một phần huyện Quỳnh Phụ, xuôi xuống Đông Hưng, có chiều dài khoảng 15 km, bắt đầu từ cống Bến Hiệp nối với sông Tiên Hưng ở xã Liên Giang. 4) Sông Đại Nẫm: Cũng là con sông chạy qua huyện Quỳnh Phụ, dài 16km, bắt nguồn từ cống Đại Nẫm nối với Diêm Hộ.
5) Sông Diêm Hộ: Là con sông tiêu nước quan trọng nhất trong hệ thống thủy nông ở khu vực bắc Thái Bình. Hầu hết các con sông nội đồng trong khu vực đều đổ ra sông Diêm Hộ. Khi chưa có cống Trà Linh, sông Diêm Hộ trở thành con sông trong đê với chức năng chính là tiêu úng cho các huyện phía bắc Thái Bình. 6) Sông Thuyền Quan: Là con sông đào, nối với sông Tiên Hưng ở ranh giới xã Đông Giang - Đông Kính, với sông Sa Lung ở xã Đông Vinh, với sông Trà Lý ở ranh giới xã Đông Lĩnh (Đông Hưng) - Thái Hà (Thái Thụy) dài 9km.
7) Sông Hệ: Nối sông Hóa với sông Diêm Hộ, dài 12km, chạy qua mấy xã thuộc Quỳnh Phụ, Thái Bình. Khu vực nam Thái Bình: 1) Sông Cự Lâm: Chảy từ sông Trà Lý ở xã Xuân Hòa qua các xã Hiệp Hòa, Song Lãng, Minh Lãng, Minh Quang, nối với sông Vĩnh Trà ở Thị trấn Vũ Thư, huyện Vũ Thư. Đoạn sông này dài 14km. HV: HOÀNG TRUNG KIÊN Lớp cao học Cầu Hầm K18 10 GVHD :PGS.
NGUYỄN NGỌC LONG LUẬN ÁN THẠC SỸ KỸ THUẬT 2) Sông Búng: Chảy qua các xã Hiệp Hòa, Việt Hùng, Dũng Nghĩa, Tân Lập, nối sông Trà Lý với sông Hồng, dài khoảng 13km. 3) Sông Bạch: Chảy từ cống Nạng (sông Trà Lý) ở ranh giới xã Tân hòa, Phúc Thành uốn lượn qua Tân Phong, Tân Bình (Vũ Thư), phường Tiền Phong, xã Phú Xuân, nối với sông Vĩnh Trà ở phường Phú Khánh Thành phố Thái Bình. 4) Sông Kiến Giang: Là con sông đào gồm nhiều đoạn khác nhau. Dòng chính nối từ sông Vĩnh Trà ở Thành phố Thái Bình, qua một số xã ở huyện Vũ Thư rồi chảy qua huyện Kiến Xương, Tiền Hải, đổ vào Sông Lân, dài 30km.
Đây là con sông quan trọng cho việc tưới tiêu đồng ruộng phía nam Thái Bình và là đường vận tải thủy quan trọng trong khu vực. Có thể nói, nó là xương sống của hệ thống thủy lợi khu nam Thái Bình.