mở đầu, kết luận kiến nghị và tài liệu tham khảo luận văn gồm 3 chƣơng: CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ SẢN XUẤT TRONG DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ SẢN XUẤT XÂY DỰNG CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN BETON 6 CHƢƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ SẢN XUẤT XÂY DỰNG CỦA CÔNG TY CỒ PHẦN BETON 6 12 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ SẢN XUẤT TRONG DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG 1.1 Khái niệm và đặc điểm của doanh nghiệp (DN): 1.1 Khái niệm: Trƣớc hết phải khẳng định rằng có khá nhiều cách hiểu về khái niệm doanh nghiệp dƣới góc độ của khoa học quản lý kinh tế, quản trị kinh doanh và khoa học pháp lý. Trong Từ điển tiếng Việt, khái niệm doanh nghiệp đƣợc xác định rất đơn giản “là đơn vị kinh doanh, như xí nghiệp, công ty, v. Trong giới khoa học pháp lý Việt Nam hiện nay cũng có nhiều cách hiểu về khái niệm doanh nghiệp bằng những cách định nghĩa theo phƣơng pháp tiếp cận khác nhau. Dƣới góc độ luật thực định, từ khi thực hiện đƣờng lối đổi mới, khái niệm doanh nghiệp đã đƣợc qui định lần đầu tiên trong Luật công ty năm 1990, sau đó là qui định tại điều 3, Luật doanh nghiệp năm 1999 - “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định được đăng ký kinh doanh theo qui định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”.
Lại có quan điểm cho rằng định nghĩa về doanh nghiệp theo qui định tại điều 3, Luật doanh nghiệp nói trên chỉ có thể đƣợc hiểu trong phạm vi của Luật doanh nghiệp chứ không thể mở rộng cho tất cả. Theo quan điểm này, doanh nghiệp phải đƣợc hiểu là mọi chủ thể kinh doanh có làm thủ tục đăng ký kinh doanh, xin phép kinh doanh tại cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền. Theo cách hiểu này thì khái niệm doanh nghiệp đƣợc hiểu rất rộng, bao gồm tất cả các loại chủ thể có đăng ký kinh doanh, xin phép kinh doanh nhƣ hộ kinh doanh cá thể theo Nghị định 02/CP ngày 03/2/2000 của Chính phủ, các cá nhân kinh doanh và nhóm kinh doanh theo Nghị định 66/HĐBT ngày 02/3/1992 của Hội đồng Bộ trƣởng (trƣớc đây) và các tổ hợp tác theo Bộ luật dân sự 1995 cũng là một loại hình doanh nghiệp tập thể (2). Theo chúng tôi, có thể có nhiều cách hiểu về khái niệm doanh nghiệp dƣới góc độ lý luận và góc độ luật thực định.
Nhƣng nếu có hiểu theo luật thực định thì cũng không thể chỉ dừng lại ở Luật doanh nghiệp mà phải xem xét đến toàn bộ lĩnh vực pháp luật điều chỉnh về các loại hình chủ thể kinh doanh. Khi đó khái niệm doanh nghiệp cần đƣợc hiểu là những loại hình tồ chức kinh doanh (tổ chức kinh tế) có đầy đủ các thuộc tính pháp lý nhất định (tài sản, trụ sở, 13 tên thương mại.) được qui định trong các luật về doanh nghiệp. Hiểu một cách đơn giản theo luật thực định thì doanh nghiệp là những loại hình tổ chức kinh doanh thành lập và hoạt động theo các Luật về doanh nghiệp. Dƣới góc độ luật thực định và kể cả trên phƣơng diện lý luận thì không thể coi tất cả các chủ thể có đăng ký hay xin phép kinh doanh là doanh nghiệp và càng không thể coi tất cả các chủ thể có hành vi kinh doanh là doanh nghiệp (3).
Trong luật thực định, nhiều văn bản pháp luật đã xác định phạm trù doanh nghiệp cũng bằng cách liệt kê các loại hình doanh nghiệp; chẳng hạn nhƣ Điều 1, Nghị định 189/CP ngày 23/12/1994 khi hƣớng dẫn thi hành Luật phá sản doanh nghiệp hay Điều 2, Nghị định 24/NĐ-CP ngày 31/7/2000 khi hƣớng dẫn thi hành Luật đầu tƣ nƣớc ngoài tại Việt Nam, v. Có thể liệt kê các loại hình doanh nghiệp ở nƣớc ta hiện nay bao gồm: - Doanh nghiệp nhà nƣớc. - Công ty, gồm: công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty trách nhiệm hữu hạn có 2 thành viên trở lên, công ty hợp danh. - Doanh nghiệp tƣ nhân.
- Doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài, gồm: doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn đầu tƣ nƣớc ngoài. Trong thực tế, nƣớc ta còn có khoảng trên 300 doanh nghiệp thuộc sở hữu của các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội nhƣ Đảng cộng sản Việt Nam, công đoàn, Đoàn thanh niên, v. Những doanh nghiệp này thƣờng hoạt động theo cơ chế nhƣ của doanh nghiệp nhà nƣớc chứ không có luật điều chỉnh riêng. Từ khi có Luật doanh nghiệp 1999, chúng ta đã tính tới việc phải chuyển đổi những doanh nghiệp này sang hoạt động theo hình thức công ty TNHH một thành viên.2 Phân loại doanh nghiệp: Luật doanh nghiệp năm 2005 quy định bốn loại hình doanh nghiệp hoạt động tạiViệt Nam.
Đó là: công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tƣ nhân. Doanh nghiệp tƣ nhân: Theo Điều 141 Luật doanh nghiệp năm 2005, doanh nghiệp tƣ nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của 14 mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Từ quy định trên chúng ta thấy doanh nghiệp tƣ nhân gồm những đặc điểm cơ bản sau: - Một là: Doanh nghiệp tƣ nhân là doanh nghiệp do một cá nhân đầu tƣ vốn thành lập và làm chủ. Chủ sở hữu tài sản của doanh nghiệp là một cá nhân.
Bởi vậy mà chủ doanh nghiệp tƣ nhân có toàn quyền quyết định những vấn đề liên quan tới quản lý doanh nghiệp, thuê ngƣời khác điều hành (trong trƣờng hợp này phải khai báo với cơ quan đăng ký kinh doanh và vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của doanh nghiệp), có quyền cho thuê toàn bộ doanh nghiệp, bán doanh nghiệp, tạm ngừng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật. - Hai là: Doanh nghiệp tƣ nhân không có tƣ cách pháp nhân bởi vì tài sản của doanh nghiệp không tách bạch rõ ràng với tài sản của chủ doanh nghiệp. Tài sản mà chủ doanh nghiệp đầu tƣ vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tƣ nhân không phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu cho doanh nghiệp. - Ba là: Doanh nghiệp tƣ nhân là doanh nghiệp chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp.
Công ty Trách nhiệm hữu hạn (TNHH): a. Công ty TNHH hai thành viên trở lên: Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên là doanh nghiệp có những đặc điểm chung sau đây: - Hình thức sở hữu của công ty là thuộc hình thức sở hữu chung của các thành viên công ty. - Thành viên của công ty có thể là tổ chức, cá nhân; số lƣợng thành viên mỗi công ty không ít hơn hai và không vƣợt quá năm mƣơi. - Công ty không đƣợc quyền phát hành cổ phần.
- Công ty là doanh nghiệp có tƣ cách pháp nhân và chịu trách nhiệm hữu hạn về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp. Công ty TNHH một thành viên: Công ty TNHH một thành viên là doanh nghiệp có những đặc điểm chung sau đây: - Chủ sở hữu công ty phải là một tổ chức hoặc cá nhân và có thể là: Cơ quan nhà 15 nƣớc, đơn vị vũ trang, các pháp nhân của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, các loại doanh nghiệp, các tổ chức khác theo quy định của pháp luật. - Chủ sở hữu công ty có quyền chuyển nhƣợng toàn bộ hoặc một phần vốn điểu lệ cho tổ chức hoặc cá nhân khác theo quy định về chuyển đổi doanh nghiệp. - Công ty không đƣợc phát hành cổ phần.
- Công ty có tƣ cách pháp nhân và chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm hữu hạn đối với kết quả kinh doanh của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty. Công ty cổ phần: Công ty cổ phần là doanh nghiệp có những đặc điểm chung sau đây: - Vốn điều lệ đƣợc chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. - Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lƣợng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế tối đa. - Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn, theo quy định của pháp luật về chứng khoán.
- Công ty cổ phần có tƣ cách pháp nhân và là doanh nghiệp chịu trách nhiệm hữu hạn, cổ đông của công ty chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp. Công ty hợp danh: Công ty hợp danh là doanh nghiệp có những đặc điểm chung sau đây: - Phải có ít nhất hai thành viên hợp danh; ngoài các thành viên hợp danh còn có thành viên góp vốn. - Thành viên hợp danh phải là cá nhân có trình độ chuyên môn và uy tín nghề nghiệp và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty (Trách nhiệm vô hạn). - Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty.
- Công ty hợp danh có tƣ cách pháp nhân. - Công ty hợp danh không đƣợc phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào. Nhƣ vậy, công ty hợp danh có hai loại: Công ty hợp danh mà tất cả các thành viên đều là thành viên hợp danh và công ty hợp danh có cả thành viên hợp danh và 16 thành viên góp vốn.3 Đặc trƣng cơ bản của doanh nghiệp: Trong lý luận và thực tiễn, cần phân biệt doanh nghiệp với các cơ quan, tổ chức phi lợi nhuận, các tổ chức kinh tế - sự nghiệp có thu hay các hình thức tổ chức kinh doanh khác. Để làm đƣợc điều đó thì phải xác định đƣợc các dấu hiệu, các thuộc tính thể hiện bản chất pháp lý của doanh nghiệp.
Bản chất pháp lý của các loại hình doanh nghiệp ở nƣớc ta hiện nay không giống nhau hoàn toàn vì nó còn phụ thuộc một số yếu tố (nhƣ hình thức sở hữu chẳng hạn. Đặc trƣng cơ bản của doanh nghiệp nói chung thể hiện qua các vấn đề chủ yếu sau đây: - Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế đƣợc thành lập theo qui định của pháp luật mà thông thƣờng là phải làm thủ tục đăng ký kinh doanh, xin phép kinh doanh tại cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền. Trong khi những tổ chức phi lợi nhuận hay các tổ chức hoạt động sự nghiệp, v. thì không phải làm thủ tục này.