PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Hội nhập quốc tế được định nghĩa là quá trình tham gia vào thị trường toàn cầu, vượt qua các rào cản văn hóa và giao dịch thông tin trên nhiều phương diện. Nó có tác động đáng kể đến việc hoạch định chính sách của các quốc gia (Dreher, 2006). Hội nhập quốc tế mang lại nhiều lợi ích như tăng sản lượng, tạo ra nhiều việc làm, giảm giá cả và tăng lương, nhưng đồng thời cũng dẫn đến giảm giá sản phẩm và tăng sự di chuyển của vốn và hàng hóa (Dehesa, 2008).
Ở Việt Nam, việc hài hòa quốc tế đã được coi trọng từ khi nước này bắt đầu xây dựng chuẩn mực kế toán VAS (Nguyễn và Trần, 2012). Tuy VAS gần như hoàn toàn phù hợp với chuẩn mực IASB 2003, nhưng nghiên cứu của Phạm (2010) cho thấy tỷ lệ hội tụ pháp lý giữa VAS và IAS/IFRS chỉ đạt 68%. Điều này là do VAS được kế thừa chủ yếu từ phiên bản IAS 2003, không phải là bản sao chính xác của IFRS. Theo (Nguyễn và Trần, 2012), VAS không thể ghi nhận được các lợi ích tiềm năng khi thực hiện IAS/IFRS.
Hiện nay, Việt Nam đã ký kết nhiều hiệp định đa phương và song phương với các quốc gia trên thế giới, đòi hỏi nước này phải thay đổi hệ thống pháp lý để đáp ứng yêu cầu của quá trình hội nhập. Với mục tiêu nâng cao tính minh bạch và hiệu quả của thông tin tài chính, tăng trách nhiệm giải trình của DN, bảo vệ môi trường kinh doanh và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư, cũng như thúc đẩy hội nhập kinh tế của Việt Nam với khu vực và thế giới, vào ngày 16/03/2020, Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số 345/QĐ-BTC phê duyệt đề án áp dụng VFRS theo nguyên tắc tiếp thu tối đa thông lệ quốc tế, phù hợp với đặc thù của nền kinh tế Việt Nam và nhu cầu của DN. Đề án này sẽ được triển khai theo 3 giai đoạn, bao gồm giai đoạn chuẩn bị (2020 - 2021), giai đoạn áp dụng tự nguyện (2022 - 2025) và giai đoạn áp dụng bắt buộc sau năm 2025. Việc thực hiện IFRS thay GAAP quốc gia sẽ có tác động đến thuế do các nguyên tắc khác nhau được sử dụng để báo cáo hoạt động tài chính của các công ty (Mulyadi và cộng sự, 2012).
Như Nobes (1994) đã chỉ ra, hài hòa hóa là một quá trình nâng cao tính nhất quán và khả năng so sánh của các tài khoản nhằm loại bỏ các rào cản đối với dòng vốn quốc tế và trao đổi thông tin bằng cách giảm bớt sự khác biệt trong luật kế toán và thuế. Tuy nhiên, việc áp dụng tiêu chuẩn hài hòa hóa quốc tế này làm dấy lên lo ngại về tác động của nó đối với gánh nặng thuế của đơn vị báo cáo. Có thể thấy, việc áp dụng IFRS sẽ làm thay đổi cách 2 sắp xếp nội dung BCTC. Cũng có thể dự đoán rằng việc áp dụng IFRS có thể làm thay đổi kết quả tài chính của đơn vị báo cáo (Hickey et al.
Mặc dù tác động tài chính của việc áp dụng IFRS sẽ khác nhau đối với mỗi công ty, Teixeira (2004), Bradbury và Van Zijl (2005) cũng đã xác định những tác động báo cáo sau đây đối với các công ty: (i) thuế thu nhập do những thay đổi cơ bản trong nguyên tắc đo lường và thừa nhận thuế thu nhập hoãn lại, tài sản và nợ phải trả; (ii) đánh giá lại nhà xưởng và thiết bị bất động sản khi việc bù đắp cho việc đánh giá lại không còn xảy ra trong một loại tài sản; (iii) thiếu các chuẩn mực tương đương với Chuẩn mực Kế toán Việt Nam (VAS) trong việc ghi nhận doanh thu và tài sản vô hình; (iv) công cụ tài chính, trong đó công cụ tài chính phái sinh phải được đo lường theo giá trị hợp lý và áp dụng các quy tắc chi tiết để hạch toán phòng ngừa rủi ro hoặc hợp nhất kinh doanh do thay đổi phương pháp kế toán đối với lợi thế thương mại khi hợp nhất. Mặt khác, có thể có cách kế toán thay thế các phương pháp được chấp nhận theo chuẩn mực kế toán, nhưng việc lựa chọn phương pháp đó có thể bị ảnh hưởng không thích hợp bởi các tác động về thuế (Abedana và cộng sự, 2016). Cho đến nay, Việt Nam đã có rất nhiều nghiên cứu về vấn đề hoàn thiện kế toán thuế TNDN có thể kể đến như: Nguyễn Anh Hiền và Phan Thành Trung (2016), Nguyễn Thị Chuyên và cộng sự (2017), Trần Thị Lan Hương (2015), Đào Nam Giang và Vũ Thị Thu Hằng (2019), Vũ Thị Hòa (2016), Nguyễn Thị Thu Hoàn (2020), Phạm Quốc Thuần (2019). Các nghiên cứu đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về thuế và kế toán thuế, phân tích được những đặc điểm hoạt động của các DN, từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện hệ thống kế toán thuế phù hợp với các đối tượng nghiên cứu.
Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất của các nghiên cứu trong nước là tất cả các nghiên cứu đều tiếp cận kế toán thuế TNDN dựa trên VAS. Do đó, kết quả nghiên cứu có thể không còn phù hợp trong bối cảnh chuyển đổi từ VAS sang IFRS đến năm 2025, một cuộc chuyển đổi từ một bộ chuẩn mực BCTC quen thuộc sang một bộ chuẩn mực đã hiện hữu trên thế giới với những thay đổi mới. Ngoài ra, các nghiên cứu nước ngoài về kế toán thuế TNDN cũng được quan tâm như: Martins và Sa (2018); Weinstein (2015); Flowerdew và Wan (2006); Komala (2012) …. Đây là các nghiên cứu định tính với kết quả nghiên cứu được rút ra từ nghiên cứu các trường hợp điển hình của các DN có sai sót kế toán thuế TNDN xảy ra trong thực tế.
Do đó, trên cơ sở phân tích ảnh hưởng của chính sách thuế đến việc áp dụng kế 3 toán thuế TNDN, doanh thu, chi phí phân bổ hai kỳ hay ảnh hưởng của thuế thu nhập hoãn lại, mục tiêu của nghiên cứu này nhằm tìm ra các hàm ý quản trị nhằm hoàn thiện kế toán thuế TNDN cho các DNVN trong bối cảnh chuyển đổi theo IFRS. Từ những lý do trên, tác giả cho rằng việc nghiên cứu “Kể toán thuế thu nhập doanh nghiệp Việt Nam trong hội nhập quốc tế về kế toán” là vấn đề cần thiết và có ý nghĩa trong bối cảnh hiện nay. Tổng quan tài liệu nghiên cứu 2. Các nghiên cứu về Kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp Nurnber (1971) lập luận rằng việc thừa nhận và coi thuế TNDN là một khoản CP phù hợp với lý thuyết độc quyền, trong khi coi nó như một sự phân phối TN sẽ phù hợp hơn với lý thuyết thực thể.
So với Carey (1944), Nurnber (1971) đưa ra những phân tích cụ thể và thực tế hơn trong việc ghi nhận thuế TNDN. Ông tin rằng lý thuyết độc quyền sẽ phát huy tác dụng trong phát triển kinh tế, do đó việc coi thuế TNDN là một khoản CP sẽ phù hợp hơn trong tương lai. Cả Carey (1944) và Nurnber (1971) đều áp dụng quan điểm lý thuyết kế toán trong việc ghi nhận thuế TNDN hiện hành mà không đề cập đến việc coi nó như một khoản CP sẽ ảnh hưởng như thế nào đến các chỉ số BCTC liên quan hoặc các phương pháp kế toán thuế TN hoãn lại được sử dụng để xử lý mối quan hệ phức tạp giữa các mục tiêu kế toán. chính sách thuế trong việc cung cấp những thông tin hữu ích về thuế TNDN trên BCTC cho người sử dụng thông tin.
Cả hai nghiên cứu đều nhằm mục đích phục vụ các nhà lập pháp trong việc thiết lập các CMKT và các nhà nghiên cứu kế toán, nhưng không tập trung vào việc cải thiện thực hành kế toán thuế TNDN trong các công ty cụ thể. Buckwold (2000) đã làm rõ việc xác định TN và thuế TNDN đối với hai đối tượng chính là DN và người lao động. Nghiên cứu đánh giá tác động của cơ cấu, hình thức tổ chức DN đến việc xác định thuế, ghi nhận TN, CP trong xử lý tài sản và tăng giảm vốn khi xác định nghĩa vụ thuế. Nghiên cứu làm rõ bản chất của thuế TNDN, các yếu tố ảnh hưởng đến nó và tầm quan trọng của việc xây dựng chiến lược thuế.
Phương pháp nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận về thuế, chính sách thuế quốc gia và xác định thực tế thuế TNDN đối với các DN và người lao động được lựa chọn để đánh giá và đưa ra hướng dẫn cụ thể trong việc xác định thuế TNDN. Tuy nhiên, nghiên cứu chưa đưa ra được phương pháp xây dựng chiến lược thuế 4 cho DN, cũng như chưa đề cập đến việc ghi nhận thuế TNDN hiện hành, xác định và ghi nhận thuế TN hoãn lại hay cung cấp các thông tin hữu ích về thuế TNDN trên BCTC. Nghiên cứu của Mai Ngọc Anh (2014) tóm tắt ba yếu tố chính ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa tiêu chuẩn kế toán và chính sách thuế, bao gồm: mô hình cấu trúc pháp lý của mỗi quốc gia, bản chất sở hữu và hệ thống chính trị của quốc gia, và mức độ phát triển kinh tế, đặc biệt là sự phát triển của thị trường chứng khoán. Những yếu tố này là những yếu tố ở mức đại trà ảnh hưởng đến việc thiết lập khung pháp lý cho kế toán thuế DN và không ảnh hưởng trực tiếp đến kế toán thuế trong các DN cụ thể.
Tuy nhiên, chúng thuộc về tác động từ môi trường kinh tế đến kế toán, như đã được đề cập bởi Nobes và Parker (1995) từ một góc nhìn khác. Các nghiên cứu trước đây đã chú trọng vào tác động chung của việc áp dụng chuẩn mực IFRS và các vấn đề liên quan. Ví dụ, Ermakova & Gudshatullaeva (2016) đã nghiên cứu việc áp dụng chuẩn mực thuế địa phương ở Nga và sự phù hợp của chúng với IAS 12 "Thuế thu nhập" trong việc xây dựng CBTC hợp nhất. Nghiên cứu này đã sử dụng nhiều phương pháp phân tích và tổng hợp dữ liệu để thu thập thông tin.
Kết quả cho thấy có những vấn đề song song trong việc áp dụng CMKT ở Nga và quốc tế. Nghiên cứu khuyến nghị cần thiết phải cung cấp các BCTC thống nhất và phù hợp với cả chuẩn mực địa phương và quốc tế, đồng thời cải cách hệ thống kế toán địa phương tại Nga. Một số nghiên cứu khác đã quan tâm đến hành vi trốn thuế trong quá trình kế toán thuế TNDN. Ví dụ, Zeng (2019) đã tiến hành nghiên cứu thực nghiệm trên một mẫu công ty niêm yết từ 36 quốc gia để kiểm tra tác động của các tiêu chuẩn kế toán và quản trị đối với hành vi trốn thuế TNDN.